Archives du mot-clé wikipedia

WIKIPEDIA : Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Tại Việt Nam hiện đã có 9 di sản phi vật thể được UNESCO công nhận như sau:

  • Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 27/11/2014.
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào năm 2013
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  • Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.
  • Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
  • Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 01/10/2009.
  • Dân ca quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009.
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Các đề cử mới[2] cho di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam
  • Các nghi thức và trò chơi Kéo co ở Việt Nam, Hàn Quốc, Philipin và Campuchia là hồ sơ đa quốc gia đầu tiên, đề cử trong kì họp năm 2015.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đề cử trong kì họp năm 2016.[3]
  • Nghệ thuật Bài Chòi miền Trung Việt Nam đề cử trong kì hợp năm 2017.
  • Nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái đề cử năm 2018.
  • Nghệ thuật Xòe Thái đề cử năm 2019.
Các đề cử dự kiến sau năm 2020
  • Nghề làm gốm của người Chăm (Bình Thuận) (dự kiến sau năm 2020)
  • Kiến thức và Thực hành Thổ Canh Hốc Đá của các dân tộc thiểu số tại Vùng cao nguyên đá Hà Giang (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghề làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) (dự kiến sau năm 2020)
  • Múa rối nước (dự kiến sau năm 2020)
  • Sử thi Tây Nguyên (tỉnh Đak Lak chủ trì) (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghi lễ Cấp Sắc của người Dao (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghệ thuật Hát dù kê của người Khơ Me

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BB%87t_t%C3%A1c_di_s%E1%BA%A3n_truy%E1%BB%81n_kh%E1%BA%A9u_v%C3%A0_phi_v%E1%BA%ADt_th%E1%BB%83_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A2n_lo%E1%BA%A1i

WIKIPEDIA : Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại… đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.[1] Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trùHội Gióng. Đến năm 2014, các tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau mỗi tỉnh sở hữu từ 2 đến 3 danh hiệu UNESCO; Các tỉnh Bắc Kạn, Bình Định, Cao Bằng, Đà Nẵng, Điện Biên, Hòa Bình, Khánh Hòa, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái chưa từng sở hữu một danh hiệu UNESCO nào.

Mục lục

Di sản thế giới tại Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam đã có 8 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:

  1. Vịnh Hạ Long, được công nhận năm 1994 theo tiêu chí (vii) và năm 2000 theo tiêu chí (viii).
  2. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí (viii).
  1. Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (IV).
  2. Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V).
  3. Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (III).
  4. Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí(II) (III) và (VI).
  5. Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) và (iv)
  1. Quần thể danh thắng Tràng An, theo các tiêu chí (VII) và (VIII) của một di sản thiên nhiên thế giới và tiêu chí (V) của một di sản văn hóa thế giới.

Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Tại Việt Nam hiện đã có 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận là kiệt tác của nhân loại theo thứ tự từ mới nhất đến cũ nhất là:

  • Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 27/11/2014.
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 5/12/2013 tại phiên họp Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan.
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  • Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.
  • Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
  • Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 01/10/2009.
  • Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009.
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam

Việt Nam hiện có 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm:

Di sản tư liệu tư liệu thế giới tại Việt Nam

Việt Nam hiện có 4 di sản tư liệu thế giới gồm:

  • Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam do UNESCO công nhận ngày 31 tháng 7 năm 2009. Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng.
  • Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long đã được công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc.
  • Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm (tỉnh Bắc Giang) đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 16/05/2012;
  • Châu bản triều Nguyễn (kho tài liệu đồ sộ này đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I, số 18 Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 14/5/2014;

Các di sản tư liệu khác:

  • Đề cử di sản tư liệu thế giới thất bại: Kho mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), công bố ngày 26/5/2011. Tuy nhiên nó đã được công nhận là di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương và tiếp tục được đề cử vào di sản tư liệu thế giới.
  • Đầu năm 2014, Việt Nam đã trình hồ sơ lên UNESCO đề cử Châu bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới.[10] Ngày 14/5/2014, Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.[11]
  • Các di sản tư liệu thế giới đang chuẩn bị đề nghị UNESCO công nhận: bộ kinh Phật cổ ở chùa Dâu (Bắc Ninh), các cột kinh, sách đá chùa Nhất Trụ (Ninh Bình), Bản thảo của Bác Hồ (Hà Nội), cuốn sách « Hoa Lư thi tập« [12]

Mạng lưới Công viên địa chất Việt Nam

Việt Nam hiện có cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào năm 2010.

Theo TS. Trần Tân Văn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thì viện này đã cùng một số đối tác trong và ngoài nước triển khai trên khoảng 25 khu vực và đã xác định được 15 khu vực có thể xây dựng thành CVĐC Quốc gia. Trong đó khoảng 1/3 đến ½ khu vực hoàn toàn có khả năng trở thành Công viên địa chất Toàn cầu như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quần đảo Cát Bà (Hải Phòng), Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội), Vườn quốc gia Cúc PhươngCố đô Hoa LưTràng An (Ninh Bình), Vườn quốc gia Hoàng Liên – Sapa (Lào Cai), Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và vùng đệm (Quảng Bình)…[13][14][15]

Xem thêm

Liên kết ngoài

  1. ^ Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới
  2. ^ “Can Gio Mangrove”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  3. ^ “Cat Tien Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  4. ^ “Cat Ba Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  5. ^ “Red River Delta Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  6. ^ “Kien Giang”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  7. ^ “Western Nghe An Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  8. ^ “Mui Ca Mau Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  9. ^ “Cu Lao Cham”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  10. ^ Châu bản triều Nguyễn sẽ trở thành di sản tư liệu thế giới?, BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM, 19/01/2014
  11. ^ Châu bản triều Nguyễn được công nhận Di sản thế giới, 15/5/2014, VnExpress
  12. ^ Trao tặng UNESCO cuốn sách « Hoa Lư thi tập »
  13. ^ Việt Nam: Nhiều khu vực có thể trở thành Công viên Địa chất
  14. ^ Thêm 15 điểm có thể trở thành công viên địa chất
  15. ^ Việt Nam có tiềm năng xây dựng công viên địa chất

WIKIPEDIA : MUSIC OF VIETNAM

Music of Vietnam

From Wikipedia, the free encyclopedia

Performance of Ca trù, an ancient genre of chamber music from northern Vietnam, inscribed by UNESCO as an Intangible Cultural Heritage in 2009

Traditional Vietnamese music is highly diverse and syncretistic, combining native and foreign influences. Throughout its history, Vietnam has been most heavily influenced by the Chinese musical tradition, as an integral part, along with Korea, Mongolia and Japan.[1] The former Indochinese kingdom of Champa also exerted some influence (albeit more minor when compared to China) on Vietnam’s traditional music.

Contents

Imperial court music

Nhã nhạc is the most popular form of imperial court music, specifically referring to the court music played from the Trần dynasty to the very last Nguyễn dynasty of Vietnam, being synthesized and most highly developed by the Nguyễn emperors. Along with nhã nhạc, the imperial court of Vietnam in the 19th century also had many royal dances which still exist to this day. The theme of most of these dances is to wish the king longevity and the country wealth.

Traditional orchestra performing at the Temple of Literature, Hanoi

Classical music is also performed in honour of gods and scholars such as Confucius in temples. These categories are defined as Nhã Nhạc (« elegant music », ritual and ceremonial music), Đại nhạc (« great music »), and Tiểu nhạc (« small music ») that was chamber music for the entertainment of the king.[2][3][4][5][6] In Vietnamese traditional dance court dances were defined as either van vu (civil servant dance) or vo vu (military dance).[7][8][9]

Folk music

Vietnamese folk music is extremely diverse and includes dân ca, quan họ, hát chầu văn, ca trù, , and hát xẩm, among other forms.

Chèo

Chèo orchestra accompanies the performance of water puppetry

Chèo is a form of generally satirical musical theatre, often encompassing dance, traditionally performed by peasants in northern Vietnam. It is usually performed outdoors by semi-amateur touring groups, stereotypically in a village square or the courtyard of a public building, although today it is also increasingly performed indoors and by professional performers.

Xẩm

Blind artists performing xẩm

Xẩm or Hát xẩm (Xẩm singing) is a type of Vietnamese folk music which was popular in the Northern region of Vietnam but is considered nowadays an endangered form of traditional music in Vietnam. In the dynastic time, xẩm was generally performed by blind artists who wandered from town to town and earned their living by singing in common places.

Quan họ

Quan họ (alternate singing) is popular in Hà Bắc (divided into nowadays Bắc Ninh and Bắc Giang provinces) and across Vietnam; numerous variations exist, especially in the Northern provinces. Sung a cappella, quan họ is improvised and is used in courtship rituals.

Hát chầu văn

Hát chầu văn or hát văn is a spiritual form of music used to invoke spirits during ceremonies. It is highly rhythmic and trance-oriented. Before 1986, the Vietnamese government repressed hát chầu văn and other forms of religious expression. It has since been revived by musicians like Phạm Văn Tỵ.

Nhạc dân tộc cải biên

Nhạc dân tộc cải biên is a modern form of Vietnamese folk music which arose in the 1950s after the founding of the Hanoi Conservatory of Music in 1956. This development involved writing traditional music using Western musical notation, while Western elements of harmony and instrumentation were added. Nhạc dân tộc cải biên is often criticized by purists for its watered-down approach to traditional sounds.

Ca trù

Ca trù (also hát ả đào) is a popular folk music which is said to have begun with Ả Đào, a female singer who charmed the enemy with her voice. Most singers remain female, and the genre has been revived since the Communist government loosened its repression in the 1980s, when it was associated with prostitution.

Ca trù, which has many forms, is thought to have originated in the imperial palace, eventually moving predominantly into performances at communal houses for scholars and other members of the elite (this is the type of Ca trù most widely known). It can be referred to as a geisha-type of entertainment where women, trained in music and poetry, entertained rich and powerful men.

« Hò » can not be thought of as the southern style of Quan họ. It is improvisational and is typically sung as dialogue between a man and woman. Common themes include love, courtship, the countryside, etc. « Hò » is popular in Cần Thơ – Vietnam.

Ritual music

Traditional musical instruments

1940s–1980s, singer-songwriters

Songwriter Phạm Duy (1920–2013)

The Vietnam War, the consequent Fall of Saigon, and the plight of Vietnamese refugees gave rise to a collection of musical pieces that have become « classical » anthems for Vietnamese people both in Vietnam and abroad. Notable writers include Phạm Duy and Trịnh Công Sơn. Singers include Khánh Ly and Lệ Thu.[10][11][12][13]

Many of these composers, in the North, also contributed Vietnamese revolutionary songs, known as nhạc đỏ « Red Music. »

Modern music

Main article: V-pop

In Vietnam, there is no official music chart across the country or digital sale, though Vietnam Idol is reflected in « sales » of pirate CD and downloads.

Pop music

The embrace of Modern Pop music culture has increased, as each new generation of people in Vietnam has become more exposed to and influenced by westernized music along with the fashion styles of Hong Kong, Taiwan, Japan, and South Korea. Musical production has improved and expanded over the years as visiting performers and organizers from other countries have helped to stimulate the Vietnamese entertainment industry. Such performances include international stages like the Asia Music Festival in South Korea where popular Vietnamese singers such as Hồ Quỳnh Hương, Mỹ Tâm, Hồ Ngọc Hà, Lam Trường, and others have performed along with other singers from different Asian countries. During the recent years such as 2006 and beyond, Vietnamese pop music has tremendously improved from years past. Vietnamese music has been able to widen its reach to audiences nationally and also overseas. There are many famous underground artists such as Andree Right Hand, Big Daddy, Shadow P (all featured in a popular song called Để anh được yêu) or Lil’ Knight and countless others who have risen to fame through the Internet. In addition, there are also other singers that have gone mainstream such as M4U, Hồ Ngọc Hà, Bảo Thy, Wanbi Tuấn Anh, Khổng Tú Quỳnh, Radio Band, etc. There are also amateur singers whose songs have been hits in Vietnam such as Thùy Chi. These singers tend to view singing as a hobby, therefore not being labeled as mainstream artists. Overall, the quality of recording and the style of music videos in Vietnam has improved a lot compared to the past years due to many private productions and also overseas Vietnamese coming back to produce a combination of Western and Vietnamese music.

Rock and heavy metal

Introduced by American soldiers, Rock and Roll was popular in Saigon during the Vietnam War. This genre has developed strongly in the South and has spread out over the North region after the rise of Bức Tường in the 90s. For the last 10 years, metal has become more mainstream in Vietnam. Unlimited, Ngũ Cung, Microwave, and the Black Infinity are the current top Vietnamese metal bands in the 21st century.[citation needed]

See also

References

  • « Southeast Asian arts Vietnam ». Encyclopædia Britannica Online. Encyclopædia Britannica. 23 July 2008. p. 36.
  • Vietnam – Page 95 Audrey Seah, Charissa M. Nair – 2004 « There were three categories: dai nhac (dai nyahk) or great music, chamber music for the entertainment of the king, and ritual music- accompanying important ceremonies such as the one to ensure a good harvest. The Ly kings, in particular « 
  • International Workshop on Nhã Nhạc of Nguyễn Dynasty: Huế court music – Page 201 Huế Monuments Conservation Center, Ủy ban quốc gia Unesco của Việt Nam, Viện nghiên cứu âm nhạc (Vietnam) – 2004 « … by stricter rules. That was the rule in using « Great music » and « Small music ». Great music … »
  • Tư liệu âm nhạc cung đình Việt Nam – Page 103 Ngọc Thành Tô,ön (Mounting the Esplanade-simple version), -Dàngdàn kép (Mounting the … »
  • Asian Pacific quarterly of cultural and social affairs – Volumes 3-4 – Page 67 Cultural and Social Centre for the Asian and Pacific Region – 1971 « Đại nhạc (literally : great music) or Cd xuy Đại nhạc iW&^k.1^), composed … Tiểu nhạc (literally :small music) or // true Tiểu nhạc (UYrB%:) : small group of silk or stringed instruments and bamboo flute. Ty khanh: … Traditional Vietnamese Music 67. »
  • Vietnam Institute of Musicology Court Music « He with the profound knowledge about Vietnamese Court Music not only taught the performance skill of such repertoires as Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã extracted from Ten bản ngự (Small music); Mã vũ, Man (Great music) but introduced their origin and performance environment. »
  • International Workshop on Nhã Nhạc of Nguyễn Dynasty: Huế court music – Page 152 Huế Monuments Conservation Center, Ủy ban quốc gia Unesco của Việt Nam, Viện nghiên cứu âm nhạc (Vietnam) – 2004 « What is Dai nhac (great music) and what is Tieu nhac (small music)? On basis of terminology and canon-like document, there are some notions for our deep concern: – Nha nhac is a genre of music used by Chinese emperors in sacrifices to … »
  • Selected musical terms of non-Western cultures: a notebook-glossary – Page 132 Walter Kaufmann – 1990 « Dai nhac (Vietnam). « Great music. » Ceremonial music of Temple and Royal Palace performed by a large instrumental ensemble. The instruments of a dai nhac ensemble were: 4 ken, … »
  • Visiting Arts regional profile: Asia Pacific arts directory – Page 578 Tim Doling – 1996 « Court orchestras were also organized into nha nhac (‘elegant music’) and dai nhac (‘great music’) ensembles and court dances were defined as either van vu (civil) or vo vu (military). Confucian music and dance was presented at court until … »
  • John Shepherd Continuum encyclopedia of popular music of the world: Volumes 3–7 – 2005
  • Phạm Duy. 1975. Musics of Vietnam
  • Olsen
  1. Popular Music of Vietnam 5 Sep 2010 – Popular Music of Vietnam: The Politics of Remembering, the Economics of Forgetting by Dale A.Olsen Routledge, New York, London, 2008

External links

Listening

https://en.wikipedia.org/wiki/Music_of_Vietnam