Archives du mot-clé tran van khe

PGS TS BS Nguyễn Hoài Nam: ÂM NHẠC VÀ SỨC KHOẺ (phỏng vấn GS Trần Văn Khê)

ÂM NHẠC VÀ SỨC KHOẺ

images

Từ lâu, người ta đã biết đến vai trò rất quan trọng cuả âm nhạc đối với sức khoẻ con người. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã có buổi trao đổi với GS TS Trần Văn Khê, bậc thầy về âm nhạc dân tộc Việt Nam

Âm nhạc rất tốt cho sức khoẻ:

PGS TS Nguyễn Hoài Nam:

Thưa Giáo sư, âm nhạc có thực sự tốt cho sức khoẻ con người như các nhà khoa học vẫn nói hay không? Hay chỉ là đồn đại cuả một số người?

GS TS Trần Văn Khê:

Âm nhạc có tác dụng rất tốt đối với sức khoẻ cuả con người kể cả sức khoẻ tinh thần và thể xác. Khi người ta nghe nhạc, tâm hồn sẽ lắng dịu xuống, các hoạt động cuả lớp vỏ đại não dường như được sắp xếp lại, các loại morphin nội sinh được tiết ra nhiều, họ cảm thấy thư thái hơn, phấn chấn hơn và yêu đời hơn.

Hơn thế nưã dưới tác dụng cuả các nội tiết tố và morphin nội sinh do cơ thể tiết ra làm cho giảm cơn đau, nhất là những cơn đau đầu, làm tăng cường hệ thống miễn dịch và làm cho con người ít bị mắc bệnh hơn. Ở Nhật Bản người ta đã nuôi các con bò Kobé, cho nó nghe nhạc, uống bia và một chế độ ẩm thực đặc biệt và kết quả là cho ra một sản phẩm thịt ngon hơn những con bò bình thường rất nhiều. Những con bò sưã được nghe nhạc cũng cho sản luợng sưã cao hơn và chất lượng sưã tốt hơn.

Ở một số nước các bác sỹ còn cho những bệnh nhân tâm thần nghe và chơi nhạc. Khi đó bệnh tình cuả họ thuyên giảm rất nhanh, các cơn kích động giảm thấy rõ và họ mau chóng hồi phục để quay trở về với gia đình và xã hội.

Bà bầu nên nghe nhạc:

PGS TS Nguyễn Hoài Nam:

Cháu có nghe người ta nói nếu khi mang thai người mẹ thường xuyên nghe nhạc thì đưá bé sinh ra sẽ thông minh hơn phải không Giáo sư?

GS TS Trần Văn Khê:

Nhà ông Nội (ông Năm Diệm) tôi ở gần lò heo, mỗi đêm lúc 03g00’ khuya má tôi (đang mang thai tôi) thường bị giựt mình vì tiếng heo bị thọc huyết la to. Cậu Năm có Nho học nên biết việc mẹ thầy Mạnh Tử dời nhà không sống gần lò heo mà gần Trường học, để con mỗi ngày nghe giảng kinh sách, lớn lên chăm lo học hành, vì vậy cậu Năm đến gặp ông Nội tôi xin đưa má tôi về nhà cậu Năm. Ông Nội tôi đồng ý. Hàng ngày khoảng 04g00’ chiều cậu Năm đem ống Sáo, Tiêu lại thổi cho đứa bé nghe những điệu nhạc Dân tộc truyền thống Việt Nam. Ngày sanh tôi ra cậu Năm đem ống Sáo lại thổi mừng một bài, ông Nội tôi đem Tỳ Bà đến đờn cho cháu nghe. Nhờ vậy từ lúc nhỏ tôi đã thích nghe nhạc, khi nào tôi khóc chỉ cần nghe tiếng Sáo là tôi nín, lớn lên lúc nào tôi cũng say mê âm nhạc.

Tôi có người bạn ở bên Đức, lúc mang thai lần đầu, mỗi ngày chị hát những câu ru em theo phong cách Huế, hoặc ngâm thơ bằng những câu ca dao. Bà ngoại cũng thích, tìm những câu hát ru xưa còn nhớ được ru cho cháu nghe.

Âm nhạc có tác động rất tốt giúp thai nhi thông qua tình cảm trìu mến và đầy thăng hoa cuả người mẹ Người mẹ khi nuôi con, nên hát ru bằng chính những bài hát cuả cha ông, những bài ca trữ tình nồng ấm, khi đó đưá bé sẽ trở nên ngoan hơn, thông minh hơn và tình cảm giưã người mẹ và đưá bé sẽ gắn bó hơn

Nên nghe nhạc dân tộc:

PGS TS Nguyễn Hoài Nam:

Thưa giáo sư, hiện nay có rất nhiều loại nhạc như Ráp, Rock, đồng quê, nhạc dân tộc v.v… thể loại nhạc nào tốt nhất cho sức khoẻ con người và cho các bà bầu cũng như cho thế hệ tương lai khi còn đang nằm trong bào thai?

GSTS Trần Văn Khê:

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng đối với mỗi con người về phương diện sức khoẻ thể chất và tâm hồn thì âm nhạc dân tộc cuả đất nước quê hương bản xứ họ là thứ âm nhạc tốt nhất. Còn các loại âm nhạc khác chỉ có tính giải trí nhất thời mà thôi. Âm nhạc dân tộc làm cho người ta nhớ đến quê hương xứ sở, nhớ đến cha mẹ, lũy tre làng, mối tình đầu và làn khói đốt đồng mỗi độ Đông về. Âm nhạc dân tộc góp phần làm cân bằng hệ thống thần kinh và còn rất nhiều tác dụng khác. Mặc dù tôi sống hơn 55 năm bên trời Tây vẫn không quên được những làn điệu dân ca và hát ru cuả mẹ tôi.

PGS TS Nguyễn Hoài Nam:

Vậy để kết thúc buổi trò chuyện đầy thú vị ngày hôm nay, Giáo sư có thể cho độc giả cuả báo Tuổi trẻ một lời khuyên

GS TS Trần Văn Khê:

Để luôn có một sức khoẻ tốt, ta cần phải bồi bổ cơ thể về mặt tinh thần cũng như thể chất. Về tinh thần chúng ta dùng âm nhạc, nhưng phải biết chọn lựa loại nhạc, nên chọn nhạc truyền thống Việt Nam êm ái, dịu dàng để thai nhi được phát triển về trí não và khi lớn lên tình thương mẹ sẽ gắn liền với tiếng nhạc dân tộc, làm cho đứa bé không xoay lưng với cội nguồn, còn người lớn sẽ được thư giãn, quên mệt nhọc… Về mặt thể chất chúng ta nên có một chế độ dinh dưỡng hợp lý. Như vậy chúng ta sẽ dễ đạt được những thành quả tốt trong công việc.

PGS TS BS Nguyễn Hoài Nam

ĐÀI BBC TIẾNG VIỆT : Trần Văn Khê nói về tình bạn với Phạm Duy hồi năm 2013

Ajoutée le 30 juin 2015

Giáo sư Trần Văn Khê trả lời phỏng vấn BBC hồi đầu năm 2013 sau khi Phạm Duy, một trong những bạn thân của ông, qua đời. Nay cả hai cây đại thụ trong nền âm nhạc Việt Nam đều đã không còn nhưng mong muốn của họ về chuyện được cấp phép phát hành những bản nhạc sáng tác nhiều năm về trước vẫn không thành. Trong lần trả lời phỏng vấn Nguyễn Hùng của BBC sau khi Phạm Duy mất hồi đầu năm 2013, Giáo sư Trần Văn Khê vẫn mong mỏi thấy ngày trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy sẽ được cho phép phát hành chính thức ở Việt Nam. Tuy nhiên bài này cùng bài Lồng vàng và chim xanh do chính Trần Văn Khê sáng tác cho tới giờ vẫn chưa được cấp phép. Cùng chung số phận là Hờn sông Gianh của Lưu Hữu Phước, Lịch sử loài người và Biển sau giông tố đều của Lê Thương. Lưu Hữu Phước và Lê Thương là hai bạn tâm giao khác của cố Giáo sư Trần Văn Khê.

HÌNH ẢNH HAI CÂY ĐẠI THỤ CỦA NỀN CỔ NHẠC MIỀN NAM VIỆT NAM

VINH BAO TVK KISS 2014

Cố GS Trần Văn Khê hôn nhạc sư VĨNH BẢO , TP HCM 2014

VINH BAO TVK HAI PHUONG BIS 2014

nhạc sư VĨNH BẢO , cố GS TRẦN VĂN KHÊ, ns HẢI PHƯƠNG , 2014

VINH BAO TVK HAI PHUONG 4 2014

Nhạc sư VĨNH BẢO , cố GS TRẦN VĂN KHÊ, ns HẢI PHƯƠNG , 2014

VINH BAO TVK HAI PHUONG 2014

nhạc sư VĨNH BẢO , cố gs TRẦN VĂN KHÊ, ns HẢI PHƯỢNG

VINH BAO TVK HAI PHUONG 3 2014

nhạc sư VĨNH BẢO , cố gs TRẦN VĂN KHÊ, ns HẢI PHƯỢNG, 2014

VINH BAO TVK HAI PHUONG 2 2014

VINH BAO TVK HAI PHUONG 1 2014

Photos: KHÁNH VÂN

Gíáo sư Trần Văn Khê – cơn gió mát ngang qua cuộc đời

Thứ Tư, ngày 24/06/2015 16:17 PM (GMT+7)

“Thầy mất rồi”, tin nhắn của người bạn khiến tôi nghẹt thở, lòng chùng xuống mênh mang nỗi buồn đau khó tả…Tôi biết, mình vừa mất đi một người bạn lớn trong cuộc đời.

 

LTS: Sinh thời, Giáo sư Trần Văn Khê có rất nhiều người bạn là những người học trò, những người ái mộ… Những mẩu chuyện nhỏ dưới đây là của một trong những người bạn -trước đó từng làm phóng viên, quen biết và trở nên thân thiết với giáo sư sau một lần tác nghiệp. 

5 năm trước, tôi- một cô phóng viên trẻ đến phỏng vấn Thầy. Khác với tưởng tượng của tôi về hình ảnh một cây đại thụ của nền âm nhạc truyền thống, của văn hóa Việt, Thầy tiếp đón tôi bằng sự cởi mở, thân tình, ấm áp.

Gíáo sư Trần Văn Khê - cơn gió mát ngang qua cuộc đời - 1

 Giáo sư Trần Văn Khê và tác giả

Nói chuyện xong, tôi được Thầy mời cơm trưa. Sau buổi đó, tôi về viết bài ngay và bài viết của tôi đã được Thầy sửa kỹ càng trước khi xuất bản… Từ buổi đó, tôi thường xuyên ghé thăm Thầy, và dần trở thành một thói quen, ngay cả khi tôi không còn làm báo, trong suốt 5 năm qua.

5 năm quen biết, kết thân với Thầy, nhiều điều tốt đẹp của Thầy gieo vào tâm trí tôi, trong đó điều tôi ấn tượng nhất là thái độ làm việc chăm chỉ, tận tụy. Dù là thời điểm Thầy khỏe mạnh hay những lúc chuyển biến sức khỏe không tốt, thời gian làm việc của Thầy hầu như không thay đổi: Từ 5h sáng đến 21h đêm, trừ 2 tiếng sinh hoạt, ăn uống.

Những lúc Thầy mệt, người nhà can, muốn Thầy nghỉ ngơi, Thầy bảo: “Nếu không làm việc thì Thầy sẽ chết vì buồn”… Những chuyến công tác ở các tỉnh, ở Hà Nội, Thầy vẫn cố gắng sắp xếp đi với những buổi nói chuyện sôi nổi, hào hứng, dù rằng ở tuổi ngoài 90, đó là cả sự nỗ lực lớn… 

Gíáo sư Trần Văn Khê - cơn gió mát ngang qua cuộc đời - 2

2-3 năm trở lại đây, sức khỏe của Thầy diễn biến không tốt, đau lòng nhất là đôi mắt ngày càng mờ đi, Thầy lại nhờ những người học trò thân thiết đến đọc báo, hỗ trợ Thầy các công việc nghiên cứu thường ngày.

Những đợt phải nằm viện điều trị, Thầy vẫn dặn các cộng sự của mình tại ngôi nhà số 32 đường Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh) rằng vẫn phải làm việc như hàng ngày. Ngay cả đợt nằm viện này, dù bệnh tình rất nặng, không nói được, Thầy ra dấu hiệu hỏi rằng: “Việc sao lưu băng đĩa (nhạc) sao rồi?”…

Trước đó, nhiều lần Thầy tâm sự, Thầy muốn gấp rút hoàn thành công việc sao lưu, lưu trữ kho tài liệu do thời gian của Thầy không còn nhiều…

Từ năm 2013, những người bạn lớn của Thầy như nhạc sỹ Phạm Duy, dược sỹ Hồ Thị Tường Vân, vợ cũ là bà Nguyễn Thị Sương… lần lượt ra đi đã để lại trong Thầy những khoảng trống lớn. Thầy buồn và lại càng làm việc chăm chỉ hơn, dù nhiều căn bệnh tuổi già vẫn hàng ngày thử thách Thầy.

Có một điều là dù trong hoàn cảnh nào, Thầy vẫn luôn lạc quan, vui vẻ. Ở tuổi “cổ lai hy”, Thầy vẫn còn duy trì những thói quen rất “trẻ”. Mỗi ngày thầy đều cạo râu. Trước khi đi ra khỏi nhà, bao giờ thầy cũng tươm tất áo quần và không quên xức nước hoa.

Buổi tối, trước khi đi ngủ, thầy vẫn thường chải tóc gọn gàng, xức một chút dầu thơm lên miệng, hai bên má, rửa chân bằng nước muối để vừa dễ ngủ vừa sạch sẽ… Mỗi khi ngủ dậy, thầy thường luyện thở khí công. Ăn uống đều đặn ngày 3 bữa. Tai nghe nhạc êm. Rảnh, ra vườn xem hoa…

Thầy bảo, so với rất nhiều người bạn và cả những đàn em, Thầy “quá diễm phúc” bởi đã sống được đến tuổi ngoài 90 với đầy đủ tình thân ấm áp của gia đình, học trò, cộng sự… 

Mỗi lần tôi đến thăm Thầy, Thầy không bao giờ nói về bản thân, thay vào đó là những câu hỏi thăm yêu thương: “Con vẫn công tác tốt chứ?”, “Ba mẹ con vẫn mạnh phải không?”… Và với bất cứ người khách nào, nếu đến thăm Thầy vào giờ cơm đều được Thầy mời lại dùng bữa như những người thân trong  gia đình.

Với một thời gian ngắn ngủi làm nghề báo, tôi đã được gặp nhiều người đáng trọng, hiểu được bao điều mới mẻ. Nhưng với Thầy, khác với những cuộc phỏng vấn đi rồi về khác, Thầy đã trở thành một người bạn lớn của tôi trong 5 năm qua, là cây cao bóng cả mang những ngọn gió mát lành…

Sài Gòn hôm nay, 24/6/2015, trời mưa như trút nước. Tại số nhà 32, đường Huỳnh Đình Hai, những người thân, cộng sự, học trò… của Thầy cũng đang nuốt nước mắt vào lòng. Thầy ra đi, khi còn đúng 1 tháng nữa bước sang tuổi 95 (24/7/1921- 24/7/2015), và không được hưởng tuổi “mười mươi’ như Thầy vẫn cầu mong, để hoàn tất những công trình nghiên cứu mà một đời mình theo đuổi…     

http://khampha.vn/toi/giao-su-tran-van-khe-con-gio-mat-ngang-qua-cuoc-doi-c8a339400.html

TRẦN VĂN KHÊ : Traditional theatre in Viet-Nam (Prof.Tran Van Khe) – Part 1

Traditional theatre in Viet-Nam (Prof.Tran Van Khe) – Part 1

In Viet-Nam the traditional theatre is called hat tuong or hat boi. Hat means to sing. The etymology of the word boi is controversial. At all events, the hat tuong, a term used mainly in the north of Viet-Nam, indicates a form of theatre which was formerly performed at the courts of the kings or emperors of the old Viet country. The word hat boi, used by the inhabitants of southern Viet-Nam, indicates a type of theatre which had its origin in the court theatre but which is tending to become a folktheatre.

The Viet-Namese theatre has more than a little in common with the Chinese theatre but it also differs from it in several ways. The similarities are insufficient to allow us to assert that the Viet-Namese theatre was derived from the Chinese theatre, any more than the differences permit us to maintain that the Viet-Namese theatre has no link with the Chinese theatre. In speaking of the Chinese theatre, moreover, we think mainly of the ching hsi, the sung theatre of Peking, and the points of comparison in this article have been drawn from the ching hsi.

To be completely objective, we must recognize that the Viet-Namese hat tuong or hat boi has been influenced by the Chinese theatre, but it has not sought to copy that pattern slavishly. It has been able to retain and develop its own originality, to adapt the text of the plays, the stage effects and the songs and elocution to the taste of its public. Let us try to go back to its beginnings and to follow its development in a quick historical survey and to see the reaction of the Viet-Namese public to these recent innovations.

According to certain authors, in approximately the twelfth century and under the Ly dynasty, a Chinese Taoist initiated the Viet-Namese into the Chinese theatre art. In the history of the Viet country, the name is recorded of an actor in the Yuan army, Li Yuan Ki (Ly Nguyen Cat in Viet-Namese) who, captured by the soldiers of General Tran Hung Dao, saved his life by teaching the Viet-Namese the songs and dances of the Chinese theatre. The play Tay Vuong Mau (Si Wang Mou, the Queen of the West), performed at the court by Li Yuan Ki and his troupe composed of Viet-Namese actors, was very much appreciated. In the first month of the third year Dai Tri (1360), King Tran Du Ton (1341-69) commanded the princes, dukes and princesses to give theatre performances in competition. The king judged them and rewarded those who gave the best. It appears from these historical documents that the traditional Chinese theatre was introduced into the old Viet country about the end of the thirteenth century, and the first companies of this theatre, which was intended for kings and court dignitaries, were formed early in the fourteenth century.

Other authors are more cautious about the Chinese origin of the traditional theatre. Mich Quang, in particular, throws doubt upon the Chinese origin of the hat tuong on the grounds of differences between the costumes, make-up, theatre properties, songs and dances of the two theatres. It is very probable that a theatre of Viet-Namese tradition existed independently of the theatre of Chinese tradition and that it continues to this day in the hat cheo (folk-theatre of northern Viet-Nam) the origin of which is lost ‘in the mists of time’. It is undeniable, however, that the hat tuong bears the stamp of the Chinese theatre.

In this sphere as in many others, the Viet-Namese people have been able to assimilate notions learned from the Chinese and thus to create an original art, a true combination of foreign contributions and of elements of their own art heritage.

At the beginning of the fifteenth century, performances of hut tuong were still given simply to entertain the court, to enliven banquets and even in connexion with sacrifices. In 1437, during a ceremony in the royal temples, King Le Thai Tong abolished theatrical performances and forbade the playing of music. Historical documents examined recently show that the hat tuong was in favour not only with the court but also among the people during the last period of the Le dynasty (eighteenth century). The hat tuong developed chiefly at the Nguyen court in the south, while in the north the hat a dao (song of female singers) was taken up by the Trinh lords. The emperors of the Nguyen dynasty (1802-1945) were interested in the traditional theatre, as were their ancestors the Nguyen lords. Under the reign of Ninh Manh (182040), the master of ballet and singing in the official troupe was a Chinese actor of the name of Kang Kong Heou (Cang Cung Hau). The Emperor Tu Duc (1847-83) invited scholars to collaborate with him in writing new plays. The Emperor Thanh Thai (1889-1909) was extremely fond of the theatre and did not hesitate himself to take a part in a play. Under the Nguyen dynasty, especially in the reign of Tu Duc, more than 300 actors and actresses were recruited from among the best in the whole country, and plays requiring a large number of actors were produced. Authors such as Dao Tan wrote plays which were considered masterpieces. With regard to the inner meaning and the form of the plays, and the technique and the costumes of the actors, the hat tuong tended to become a little closer to the Chinese theatre.

TRAN VAN KHE 

*** Source: The Performing Arts in Asia – Unesco Paris 1971

(Edited and with introductions by James R. Brandon)

https://www.facebook.com/notes/tran-truongca/traditional-theatre-in-viet-nam-proftran-van-khe-part-1/10207227449705258?pnref=story

TRẦN VĂN KHÊ : Traditional theatre in Viet-Nam (Prof.Tran Van Khe) – Part 2

Traditional theatre in Viet-Nam (Prof.Tran Van Khe) – Part 2

Analogies between hat tuong and Chinese ching hsi

A foreign spectator is immediately struck by the great resemblance between the Viet-Namese hat tuong and the Chinese ching hsi.

For instance, as regards the stage and the properties, there is the same stage devoid of scenery, decorated with a single piece of plain fabric or material as backcloth; the properties also are few. In the hat tuong as in the ching hsi, the table and a few stools may serve as furniture just as well in the dwelling of a court dignitary as in a poor student’s cell. A tablecloth embroidered with dragons spread over the table indicates that the scene takes place in the throne room. A stool placed on the table makes mountains shoot up. The riding whip represents a steed and the oar a boat. Two strips of white cloth held vertically on each side of the actor and bearing the pattern of a wheel, represent the royal chariot. Add to the objects mentioned above some wooden weapons painted black, red and silver, some many-coloured flags, a piece of material wrapped round some bamboo sticks representing a missive (a private letter or a royal message), a carafe and some small wooden or china cups, and you have nearly all the properties of the hat tuong and the Chinese ching hsi.

As to the actors and their parts, the characters belong to all the classes of the old Viet-Namese or Chinese society: kings, queens, princes, princesses, civil and military mandarins, citizens, scholars, peasants, servants, soldiers, brigands, and also some immortals, goddesses of Chinese or Viet-Namese mythology.

In the Viet-Namese theatre there is a clear distinction between the parts of the good men (trung) and the bad men (ninh). In the Chinese theatre there is a great variety of female parts: ching i, a modest and virtuous young woman; hua tan, roguish and given to flirtation; kuei men tan, a young unmarried girl. In general, and 74 The performing arts in Asia apart from a few variations, the same types of part are found in both theatres.

Examining make-up and costumes, it will be seen that if the painted faces are looked at in detail, they are not the same in the two theatres, Viet-Namese and Chinese. But the symbolic meaning of certain colours on the other hand is nearly identical: red for the good and loyal characters; white (or grey in the Viet-Namese theatre) for traitors; green for demons; black for the straight and honest parts. In the Viet-Namese theatre, use is rarely made of blue, yellow and brown, symbolizing respectively courage, intelligence and obstinacy in the Chinese theatre. A beard with three or five tufts indicates the loyal part; a sparse beard, fairly short and in the form of a Newgate frill, a traitor’s part; a bushy beard, a violent character. A face painted white with black and red streaks indicates the non-Chinese origin or the violent character of a person.

The costumes also differ in detail: the soles of the Viet-Namese boots are rounded and not flat and rectangular like those of the Chinese theatre. But the costumes and hair-dressing have been designed with the same idea: broad silk tunics decorated with dragons with five claws embroidered with gold thread for kings, phoenixes embroidered with gold or silver thread for queens; heavy chasubles spangled with tinsel with little flags on the back for warriors. Peasants, servants and soldiers wear cotton jackets without embroidery. Students wear a black or dark blue cap while court dignitaries wear head-gear decorated with gems and provided with two lateral wings. The head-gear of generals, knights or warriors is decorated with pheasant feathers. Certain conventions in materials and colours are found in both theatres : light yellow silk for kings, black cotton for impetuous or unpredictable characters, grey for old persons, etc.

In both theatres, gestures and attitudes are stylized and conventional. Some are identical, like the manner of tasting a cup of tea or liquor, the gesture of wiping away tears, the setting-off of a horse marked by striking the Traditional theatre in Viet-Nam 15 boot with a riding whip, the crossing of weapons between two combatants. Others are specifically VietNamese or Chinese. In the Viet-Namese theatre, it is impossible to distinguish hundreds of sleeve movements, hand play and steps, as in the Chinese theatre. But the walk, the way of opening a fan, of stroking the beard peculiar to a traitor’s part are very well exploited in the Viet-Namese theatre. Also very characteristic is the manner of moving sideways without lifting the feet, movements facilitated by the rounded shape of the soles of the Viet-Namese buskins, to express suffering or deep emotion.

For themes of plays, the history of China, especially the period of the Three Fighting Kingdoms (third century A.D.), Chinese mythology, even the Chinese romance Tay Du (Pilgrimage to the West) with the King of the Monkeys, have provided Chinese and Viet-Namese authors with material for their works. The texts of Viet-Namese plays contain many Sino-Viet-Namese words understood solely by scholars. The plays have approximately the same ending: the good are rewarded, the wicked punished, the kings restored to their thrones though they are for a time threatened by traitors, who are often killed at the end by the loyal subjects.

If the two theatres are examined in detail, numerous differences appear, more particularly in the inner meaning and form of the plays, the songs and the music.

TRAN VAN KHE 

*** Source: The Performing Arts in Asia – Unesco Paris 1971

(Edited and with introductions by James R. Brandon)

https://www.facebook.com/notes/tran-truongca/traditional-theatre-in-viet-nam-proftran-van-khe-part-2/10207318892671275?pnref=story