Archives du mot-clé tran quang hai

TRỌNG THÀNH / RFI : Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Phát Thứ tư, ngày 07 tháng mười hai năm 2011
Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Hát mó cá trong môn nghệ thuật Hát Xoan (theo Báo ảnh Việt Nam)

Môn nghệ thuật Hát Xoan của tỉnh Phú Thọ (Việt Nam) vừa được UNESCO – Tổ chức văn hóa, giáo dục của Liên Hiệp Quốc -, công nhận là « Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần phải được bảo vệ khẩn cấp », vào ngày 24/11/2011. Việc UNESCO công nhận Hát Xoan là một cơ hội quan trọng cho phép môn nghệ thuật này tiếp tục con đường hồi sinh.

Hát Xoan được UNESCO công nhận là di sản nhân loại là một tin vui đối với những người yêu âm nhạc cổ truyền. Hồ sơ dự tuyển của Hát Xoan Phú Thọ đã được nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật Việt Nam và quốc tế chuẩn bị rất công phu từ nhiều năm nay. Đây là hồ sơ duy nhất nhận được sự đồng thuận hoàn toàn của Ban thẩm định và đánh giá là hồ sơ tốt nhất trong số 10 hồ sơ đệ trình trình đợt này.

Hát Xoan, một môn nghệ thuật cổ truyền gắn với vùng đất truyền thuyết của các vua Hùng, được nói đến khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng thực sự còn tương đối ít được công chúng rộng rãi biết đến. Không ít người cho rằng, Hát Xoan đơn điệu và cổ lỗ, và có một thái độ « kính nhi viễn chi » đối với thể loại nghệ thuật cổ truyền này.

Trên thực tế, Hát Xoan đã một thời mai một. Sau cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Hát Xoan gần như không còn được tổ chức tại các phường hát vùng Phú Thọ. Số người biết Xoan và có thể truyền dạy cho lớp trẻ chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. Rất may mắn là trong thời gian khoảng hai mươi năm trở lại đây, việc phục hồi lại Hát Xoan đã được một số cơ sở văn hóa tại Việt Nam rất chú trọng. Việc UNESCO công nhận Hát Xoan là một cơ hội đặc biệt quan trọng cho phép môn nghệ thuật này tiếp tục con đường hồi sinh.

Trong tạp chí hôm nay, RFI chuyển tới quý vị, tiếng nói của các nhà nghiên cứu âm nhạc và nhạc sỹ về Hát Xoan. Khách mời của chúng ta là nhạc sỹ Đặng Hoành Loan và giáo sư Tô Ngọc Thanh từ Hà Nội, giáo sư Trần Quang Hải từ Paris và nghệ sĩ Trần Lãng Minh từ California.

Hát mùa phồn thực ngay trước ban thờ

Trước hết, giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, nguyên Phó viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, cho chúng ta biết một cách tổng quan về nghệ thuật Hát Xoan Phú Thọ. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan là người phụ trách chính của hồ sơ Hát Xoan Phú Thọ, trình UNESCO.

Đặng Hoành Loan : Nghệ thuật Hát Xoan ra đời từ rất sớm trong sinh hoạt của cư dân lúa nước ở Bắc Bộ. Tất cả các nghệ nhân hiện còn, ở lứa tuổi 104-105 cho tới các cụ ở tuổi 87, 88, đều nói rằng Hát Xoan là nghệ thuật hát thờ Vua Hùng. Cái đặc biệt của Hát Xoan là một môn nghệ thuật hát múa tập thể, môn nghệ thuật hát múa tập thể ấy được sinh hoạt trong một phường có tính chất chuyên nghiệp. Nghệ thuật ấy lấy cái trung tâm là các cô đào xoan. Và trong ấy chỉ có một người đàn ông gọi là người « dẫn cách » và một nhạc công, ngồi đánh trống. Còn tất cả chuyện trình diễn hấp dẫn của nghệ thuật hát xoan, chính là ở múa hát của các đào nương.

Cái nữa là, âm nhạc Hát Xoan có giai điệu hết sức mộc mạc, nhưng lại dễ nghe. Nó khác với Quan họ Bắc Ninh, hay các hình thức nghệ thuật khác, được rất nhiều nốt nhạc tô điểm, có nhiều biến hóa, … Điểm đặc biệt là, ở Hát Xoan, ngay trong một điệu hát cũng có sự « chuyển giọng » rất đột ngột, và sự chuyển giọng ấy gây cho nghệ thuật Hát Xoan có một sự hấp dẫn khác.

RFI : Thưa anh, nghệ thuật Hát Xoan vừa là môn ca hát đối đáp để giao duyên nam nữ, vừa là một môn múa hát để thờ thần, tại một trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Vậy, xin anh cho biết, giữa hai hoạt động này, quan hệ với nhau như thế nào ?

Đặng Hoành Loan : Hát Xoan trước hết là nghệ thuật múa hát để cầu hạnh phúc, cầu được Vua Hùng ban cho ân huệ. Đấy là mùa màng tốt tươi, nhân dân sinh được nhiều con cái. Để đạt được mục đích ấy, người ta thường chia làm ba chặng hát. Ba chặng hát có nội dung khác nhau, nhưng gắn kết vào một vấn đề : đấy là ước nguyện được sinh sôi, được giàu có và con đàn cháu đống. Vì vậy, những mặt này không mâu thuẫn với nhau.

Khởi đầu, người ta gọi là hát mời vua. Tức là nhân dân mời vua về để vua ngự xem dân làng ca hát.

Sau chặng hát mời vua, vua đã về ngự tọa tại đình làng, thì bắt đầu sang chặng, gọi là hát « Quả Cách ». Chặng hát Quả Cách ra đời sau này. Nếu đúng ra, sau khi mời vua về xem con dân ca hát, tức là những bài hát dân gian, những bài hát trao duyên, nhưng đến thời Lê, khi Nho giáo phát triển cực thịnh thì các thầy đồ, các nho sinh, ở vùng văn hóa đồi gò, tham gia vào trong tục Hát Cửa Đình này (tên gọi khác của Hát Xoan). Và như vậy, ra đời một chặng hát xen vào giữa : hát Quả Cách. Nội dung của hát Quả Cách cũng là ước mơ sinh sôi, đồng thời cũng là cảm xúc, tình cảm của các nhà văn đối với mùa xuân, mùa thu, mùa đông, … và đặc biệt là cái cảm giác của họ, cái ý nghĩ của họ, cái ca tụng của họ với bốn nghề gắn liền với đời sống của các cư dân vùng gò đồi : Sĩ, Nông, Công, Thương. Trong nghề Nông, thì có chăn trâu, đánh cá, cấy lúa, …

Giai đoạn thứ ba, là giai đoạn để vua về xem dân ca hát. Chặng hát này mang đầy tính phồn thực. Chúng ta thấy chặng thứ ba mà chúng ta thường nói, tức là chặng hát « trao duyên« , chính là chặng hát « phồn thực« . Ở đây có rất nhiều những điệu múa, bài ca tương đối cổ, thể hiện rõ nhất tinh thần ước mơ sinh sôi.

Khi vua về ngự xem con dân ca hát, thì con dân ca hát cái gì ? Ca hát xin được nhiều con, nhiều cái, xin được sinh sôi, và muốn được sinh sôi, thì xin được quan hệ nam nữ. Chính ở chặng thứ ba giao duyên này của Hát Xoan, duy nhất chỉ ở Hát Xoan, là có hát múa phồn thực. Chúng ta biết, có hai điệu hát rất phồn thực.

Thứ nhất là điệu Đi Chơi Bợm Gái (tức đi chơi bạn gái). Điệu này thể hiện cái tinh thần, thể hiện cái thèm khát của nam giới trước nữ giới, và người nữ giới cũng thể hiện cái thèm khát của mình trước người nam giới. Và cái điệu thứ hai, thể hiện sâu sắc cho ước vọng sinh sôi, cho các phồn thực ấy, là nằm trong điệu Mó Cá.

Mó Cá là điệu hát mà các cô đào xoan vòng tay làm thành lưới, và các chàng trai đứng giữa làm cá. Khi ấy, các chàng trai muốn thể hiện mình là người bắt cá, chứ không phải thụ động là con cá, vì vậy cho nên các anh chàng cá, thì lại biến thành các trai làng, và nhảy ra vồ vào các cô đào, với các điệu hát hết sức phồn thực. Và cùng với điệu hát ấy, các cô đào cất lên một tiếng hát rất hay : « là vông, vông tập, vông tập, tầm vông ». Vông tập, tầm vông, cái tiết tấu của nó như thách thức, như chào mời, như chờ đón những chàng trai làm cá nhảy ôm vào cái lưới. Chính điệu múa ấy là kết thúc đêm mời vua về xem con dân ca hát.

Bình thường ta vẫn nghĩ rằng, ở trước bàn thờ phải hết sức nghiêm túc, hết sức rụt rè, thì ở đây là việc mời vua về xem, con dân ca hát, xin được mùa màng tốt tươi, xin được hạnh phúc, …

Thang 3 nốt nhạc : dấu vết âm nhạc cổ sơ …

Giáo sư âm nhạc dân tộc học Trần Quang Hải cho chúng ta biết đặc điểm của âm nhạc Hát Xoan, một loại nghệ thuật rất cổ, với những ai chưa quen, cần phải có cách nghe thì mới cảm thụ được vẻ đẹp của nó :

Trần Quang Hải : Trong Hát Xoan có những giai điệu hơi tương tự với nhau, thì người nghe có thể nhàm chán. Nhưng tìm hiểu sâu xa hơn nữa, thì trong mỗi điệu hát, có một tiết tấu đặc biệt và lời hát rất đặc biệt và dựa trên các thang âm cũng rất đặc biệt. Hát Xoan là một nghệ thuật âm nhạc có nhiều thang âm khác nhau. Có những thang âm chỉ có ba nốt nhạc. Trong đa số các thể loại hát của Việt Nam, giống như Quan Họ, Cò Lả, Trống Quân, đều dựa trên thang âm ngũ cung. Trong khi đó, ở Hát Xoan có thang âm tam cung, tứ cung và ngũ cung. Điệu nhạc tam cung, rất cổ, có thể dính liền với âm nhạc thời các vua Hùng.

Hát Xoan bao gồm hát, múa, thơ và có tiết tấu. Ở trong các « điệu » khác tại Việt Nam, không có đủ hết những cái đó. Ví dụ như trong Nhạc cung đình, chỉ có nhạc và múa thôi, chứ không có hát, đối đáp, trong Quan Họ, chỉ có hát đối, hát đáp mà không có tiết tấu, còn trong Ca Trù, chỉ có hát, đờn mà không có múa.

Hát Xoan có một phương thức trình diễn, hình thành từ lâu đời, đó là « lề lối » của Hát Xoan. Nói lề lối tức là nói các quy chế truyền thống. Dân ca địa phương nào cũng có lề lối riêng. Ví dụ như Quan Họ có lề lối hát bộ, hát chèo thuyền, hát ngoài trời, hát trong nhà, hay có một trình tự diễn xuất, đi từ « hừ là, hừ la », … đến giã bạn… Còn trong Hò Sông Mã thì có trình tự hò theo năm giai đoạn : hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến. Hát Xoan trước hết có hát ở ngay trước cửa Đình, rồi hát vào trong Đình, rồi hát theo giọng nghi lễ. Rồi đến giai đoạn thứ ba, hát Xoan, hát chọc ghẹo thì khác, rồi đến khi hát giã bạn, thì cũng giống như trong Quan Họ, tức là mình hát để từ giã nhau, hẹn nhau trong năm tới, sẽ trở lại hát nữa.

Bến đò – nơi mở đầu cho sự giao tình

Hát Xoan không chỉ dừng lại ở đình hay miếu, không gian của Hát Xoan trải rộng từ trung tâm của làng cho đến bến đò. Chính ở bến đò, nơi phường hát từ làng bạn cập bến, là nơi bắt đầu cho một sự giao tình. Giáo sư Trần Quang Hải mô tả :

Trần Quang Hải : Có những tục lệ riêng, thí dụ như ở hai phường An Thái và Phú Đức, cùng qua cái sông sang Đức Bắc, ở hai bến đò khác nhau. Trai Đức Bắc đem trống cơm ra đón xuân ở cả hai nơi.

[Sách kể lại] trai Đức Bắc, cứ vài ba anh, vây lấy một cô đào xoan, đưa trống, quàng dây, buộc trống vào cổ cô đào. Có nhiều anh mang trống chẳng buộc dây, dúi trống vào tay cô đào, và hát như thế này : « Trống anh còn chửa có quai, mượn nàng bưng lấy rồi mai nên gần ». Nếu cô đào ưng mà nhận trống, thì phải hát trả lại « Nửa mai nên Tấn, nên Tần, bao giờ bưng trống mới gần được nhau ». Thành ra, hai bên hát qua, hát lại. Đi từ bến đò đến Đình, chỉ một đoạn ngắn thôi, mà có khi hát cả mấy tiếng đồng hồ. Thí dụ như hát rằng : « Đi đâu từ sớm tới giờ, để cho tin đợi, tin chờ, tin mong », « Cách sông em phải lụy thuyền, những như đường liền em tới sang ngay » hay là « Bây giờ bắt gặp nhau đây, hỏi rằng, duyên ấy, nợ này làm sao », v.v.

Tất cả các chuyện ấy cho thấy, lúc đó là người ta bắt đầu ca hát [làm quen] để giao duyên. Có những nơi, người ta thấy rằng, hai bên hát chung với nhau thì nó vui, rồi đến khi chót cùng, người ta mới hát giã từ với nhau. Hát giã từ là các loại « múa cá » này kia, rồi có lúc bắt đầu bằng hát « đố chữ« , … mà [nếu vui], cũng có thể là hát thêm qua một đêm thứ hai.

Tức hứng và tự nhiên, cái hấp dẫn trong nghệ thuật Hát Xoan

RFI : Điều này rất là hay. Cái mà giáo sư nói, cho thấy giai đoạn chưa phải là chính thức : hát ở bến đò, hát để mời nhau, để tìm hiểu nhau, lại chính là cái giai đoạn gây một cái hưng phấn. Đây chính là lúc hai bên bắt đầu một đợt hát kết giao, đợt hát trải dài qua các chặng hát trong đình, sẽ khép lại với cuộc hát giao duyên hết sức sinh động trong phần kết. Hát giao duyên trong khuôn khổ của nghệ thuật Hát Xoan cần phải được hiểu như thế nào ? Xin Giáo sư hé mở thêm một vài giá trị của phần này !

Trần Quang Hải : Nghe Hát Xoan phải nghe bằng lỗ tai, và nhận thức được sự phong phú trong lời ca, trong sự ứng tác. Trong ứng đối giữa hai bên trai gái tham gia Hát Xoan có sự tức hứng rất phong phú. Con trai chọc con gái, con gái trả lời lại qua phương thức, dùng cái quả Đúm.

Đúm là một chiếc khăn, bọc trầu cau, và có những đồng tiền. Cô gái cầm quả Đúm liệng cho người con trai nào, thì người ấy phải trả lời.

Các câu chọc ghẹo được trao đổi, chọc ghẹo nghiêm túc, chứ không phải là lả lơi. Thí dụ như, cậu trai hát mời đào, khi nhận được quả Đúm, hát : « Đúm này kết ở tay ta, nào đào hát Đúm đâu là đứng lên ; nhác trông mơn mởn màu da, đào ơi đứng dậy, đôi ta hát thờ ». Cô đào đến lượt, mới trả lời : « Đúm ơi, ta dặn Đúm nghe, tìm nơi quần trắng, áo the, Đúm vào. Đúm vào, người hỏi làm sao, em là quả Đúm, em vào kết duyên ».

Trong phần hát giao duyên này, hai phía đều tức hứng với nhau, chứ không phải là học thuộc bài. Tức hứng hát theo chỉ một giai điệu, với lời thay đổi. Khi hát một câu lục bát, theo điệu tình tính tang, tang tính tình, cả nhóm hát, bên kia đáp lại cùng điệu với lời thay đổi : « Ai về, về có nhớ, nhớ ta chăng ? Ta về, về ta nhớ, nhớ hàm răng cô mình cười », tình tính tang, tang tính tình… Bên kia lại đáp lại : « Người đâu, đâu gặp gỡ, gỡ làm chi. Trăm năm, năm nào biết, có duyên gì, gì hay chăng », rồi tiếp tình tính tang, tang tính tình…

Khi người con trai nhận được Đúm hát, phía bên cô gái nếu ưng ý sẽ trả lời lại. Rồi một cô khác cầm quả Đúm khác, liệng cho một cậu khác. Mà chỉ có các cô gái liệng Đúm, chứ con trai không liệng Đúm.

Nghệ sĩ Trần Lãng Minh từ California, người đã chủ trương đưa Hát Xoan lên các sàn diễn ở Hoa Kỳ từ gần 10 năm nay, sống lại một số cảm xúc đã gắn ông với môn nghệ thuật này :

Trần Lãng Minh : Trong lễ hội, tổ chức ở Phú Thọ, tức là đất tổ Hùng Vương, chúng tôi nghe và biết được một số điệu hát, điệu giao duyên. Trong nghệ thuật Hát Xoan có một hình ảnh rất gợi cảm, gợi tình. Chẳng hạn, như hai câu chúng tôi rất thích : «Ơ, ớ, đào ơi, đào xích lại đây, đào dịch lại đây, của riêng tớ có cái này tớ cho ». Hai cái câu lục bát thế thôi, mà nó làm cho riêng cá nhân chúng tôi rất thích, tại vì nó nói lên cái tâm tình, một sinh hoạt, có lẽ là gần gũi, tự nhiên thoải mái. [Nghe cái ấy] cái tâm tính, tâm tình của con người nó cũng vui lên, cũng hứng khởi lên.

Chúng ta, ai cũng biết, cái dải đất Việt Nam gắn liền với sông nước, cho nên trong thể hiện của Hát Xoan, chúng tôi thấy rõ ràng, có những hình ảnh, có những sinh hoạt, … ví dụ : « Ba mươi ta đi ăn cá rô, mùng một cá ở sông Thao cá về, mùng hai cá đi ăn Thề, mùng ba cá về, cá vượt Vũ môn, … Làm trai lấy được vợ khôn, khác nào cá vượt Vũ môn hóa rồng… »…

Xin chân thành cảm ơn nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, giáo sư Tô Ngọc Thanh, giáo sư Trần Quang Hải và nghệ sỹ Trần Lãng Minh.

Tôi không lo cho tương lai của Hát Xoan

Dù hiện tại, Hát Xoan được UNESCO đưa vào loại di sản « cần được bảo vệ khẩn cấp », nhưng trên thực tế, môn nghệ thuật này đã được chú ý phục hồi từ gần hai thập kỷ nay. Hát Xoan, theo nhận định của GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, có một tương lai vững chắc. 

Tô Ngọc Thanh : Hát Xoan may mắn hơn các di sản khác là ở chỗ, từ năm 1960, bản thân tôi là ở trong đội đi sưu tầm, chúng tôi đã biết là nó có những gì. Năm 1992, khi biết các nghệ nhân sắp sửa qua đời, thì Hội Văn nghệ Dân gian, đã tài trợ cho các cụ một ít kinh phí, để họ dạy lại. Lúc đó, chúng tôi chọn những người khoảng từ 30 đến 40 tuổi, bây giờ chính họ trở thành các nghệ nhân truyền dạy cho các cháu nhỏ. Đó là cái may mắn của Hát Xoan. Như thế, nó không thể mất được.

Khi được UNESCO và nhà nước Việt Nam chú ý đến, thì các nghệ nhân phấn khởi lắm, họ tự dạy bảo nhau, họ tự tổ chức. Bây giờ, chúng tôi không phải đầu tư thêm kinh phí gì nữa.

Cái quan trọng nhất là giữ được cái form của nó. Ở đấy, ngày hội người ta vẫn còn hát thờ vua Hùng mà, rồi các cửa đình xung quanh, cũng muốn lấy cái « khước » của vua Hùng, nên bây giờ cũng muốn trở lại, đề nghị cho Hát Xoan, trước cửa đình như ngày xưa. Tôi thấy, nhân dân ngày càng có ý thức quay trở về cội nguồn của mình. Tôi không phải là người [quá] lạc quan, là người khoa học, có gì nói nấy, riêng đối với Hát Xoan, tôi không lo.

Nghệ thuật cần tự nguyện !

Khẳng định vẻ đẹp của Hát Xoan, giáo sư Tô Ngọc Thanh cũng lưu ý đến một số động thái quá đà, muốn áp đặt môn nghệ thuật này đối với giới trẻ tại các trường học.

Tô Ngọc Thanh : Mỗi nghệ thuật chỉ có một số công chúng thôi nhất định, không thể toàn dân hát Ca Trù, toàn dân Hát Xoan. Có thể là toàn dân phải biết rằng, ở Việt Nam có Ca Trù, có Hát Xoan, và thế nào là Ca Trù, thế nào là Hát Xoan. Cần có hiểu biết, chứ không phải trở thành diễn viên. Bây giờ người ta có ý định [phổ cập tại các trường học] việc dạy trẻ Hát Xoan. Cái đó là không đúng, cái đó là sai với quy luật chọn lọc và tự nguyện của văn hóa. Người ta không thích hát thì làm sao ?! Không thể nào thể chế hóa chuyện ấy được. Tôi cũng nói với các vị lãnh đạo và chính quyền nhà nước ở trên đấy [tỉnh Phú Thọ] rồi : Hãy mở một cách cửa rộng cho sự tự nguyện. Vì văn nghệ phải có yêu thích và say mê mới được, nếu không sẽ trở thành cực hình.

Hãy cách tân Hát Xoan để chinh phục công chúng đương đại !

Giáo sư Trần Quang Hải gửi gắm đến thế hệ trẻ, niềm hy vọng là môn nghệ thuật này sẽ được cải tiến để hấp dẫn công chúng đương đại, trong khi vẫn bảo tồn được bản sắc độc đáo của nó :

Trần Quang Hải : Điều quan trọng là đào tạo những người hát để giới thiệu Hát Xoan đúng theo truyền thống, để giữ vốn cổ ấy như một gia tài, và đồng thời phải có sự phát triển. Bởi vì, chúng ta đang sống ở một thời đại mới, không thể nào hát hoài một cái kiểu của cách đây 100 năm, 200 năm. Chúng ta cần phát triển Hát Xoan, canh tân hóa, nhưng đừng đi ngược lại tinh thần Hát Xoan, thì mới gọi là phát triển.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20111207-hat-xoan-su-hoi-sinh-cua-mot-mon-nghe-thuat-giao-duyen

TRỌNG THÀNH / RFI : Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?


TẠP CHÍ VĂN HÓA

Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

Phát Thứ sáu, ngày 15 tháng ba năm 2013
Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

Nghệ nhân Hà Thị CầuDR

Nghệ nhân Hà Thị Cầu vừa ra đi ở tuổi ngoài 90. Giới những người yêu quí nghệ thuật cổ truyền Việt Nam thương và tiếc một đỉnh cao. Nhiều tiếng nói khẳng định : « Người hát xẩm cuối cùng đã về trời ». Sự ra đi của Hà Thị Cầu liệu có phải là dấu chấm cáo chung Hát xẩm, môn nghệ thuật một thời là món ăn tinh thần quen thuộc của đông đảo người bình dân Việt Nam ?

Hát xẩm, môn nghệ thuật từng đặc biệt nở rộ tại miền bắc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, đã không có đất sống trong chế độ mới. Nhưng những gì thấm sâu vào máu thịt của người nghệ sĩ đích thực không thể nào biến mất. Trong cuộc đời gần một thế kỷ của mình, nhất là hai mươi năm cuối đời, Hà Thị Cầu đã liên tục truyền đến cho các thế hệ đi sau những gì tinh túy nhất trong môn nghệ thuật của đầu thế kỷ trước.

Tạp chí Văn hóa của RFI tuần này xin chuyển tới quý thính giả tiếng nói của một số nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, từng gắn bó với nghệ nhân Hà Thị Cầu hay đặc biệt quan tâm đến di sản của bà.

Khách mời của tạp chí là nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền từ Hà Nội.

Vượt lên đau khổ : Thần lực của một giọng hát

Mở đầu tạp chí là tiếng nói của nhà nghiên cứu Trần Quang Hải :

Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải 15/03/2013 Nghe

RFI : Xin ông cho biết cảm nhận và suy nghĩ của ông trước sự ra đi của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Bà ấy mất đi là xứ Việt Nam mất đi một gia tài rất lớn, về văn chương, văn học dân gian, là cái văn học dính liền với những người « dân gian », những người nghèo nhất. trong xã hội. Tôi thấy rằng, muốn hát xẩm cho thật hay, phải sống rất nhiều, phải lăn lộn vào trong cuộc đời, phải có nhiều kinh nghiệm, phải có nhiều đau khổ và chính là cái đau khổ đó mới tạo ra một cái thần lực ở trong giọng hát của mình.

RFI : Ông có thể cho biết, vì sao ông lại biết đến môn nghệ thuật hát xẩm và những kỷ niệm của ông với nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Khi tôi đi về Việt Nam lần đầu tiên, thì tôi có nghe nói ở Hà Nội có một điệu hát xẩm, thì tôi có đi gặp anh Thao Giang, phó giám đốc Trung tâm về nhạc dân gian Việt Nam. Anh ấy nói với tôi là đương muốn trùng tu hát xẩm trở lại, sau khi bị mất đi trên 50 năm. Khi đó, Thao Giang mới cho tôi nghe một số làn điệu đặc biệt, trong đó có một vài bài do bà Hà Thị Cầu hát. Tôi hỏi, ai mà có giọng quá đặc biệt như vậy.

Tôi gặp một bà cụ, cái cặp mắt rất là sắc sảo và cái giọng nói rất là vang, vang mạnh lắm và tiếng đờn nghe não ruột luôn. Tôi nhắm mắt mà nghe, thì tôi thấy rằng, rõ ràng là người này đã sống rất nhiều và đã có một đời sống rất là gian truân, nhưng mà có điều, vẫn lướt lên để sống, chấp nhận cái cuộc sống của mình, chứ không có đòi hỏi gì nhiều hết. Thành ra cái tiếng đờn và giọng hát, nó đi quyện vào nhau. Tôi rất lấy làm sung sướng được nghe bà ấy hát. Lần đầu tiên bà ấy hát cho tôi nghe bài « Thập ân ». Thì tôi nhớ hoài cái bài Thập ân này. Nó nói lên cái lòng hiếu thảo của người con.

Từ đó về sau này, tôi không có dịp gặp được bà ấy nữa. Có điều tôi theo dõi tất cả những sinh hoạt của bà, qua báo chí, qua đài truyền hình… Tôi biết rằng năm 2008 bà ấy được lãnh giải thưởng Đào Tấn, là một giải thưởng rất là quan trọng cho những người đã phụng sự âm nhạc dân tộc và nghệ thuật cổ truyền.

Trong 10 năm chót của cuộc đời bà ấy, có rất nhiều học trò đã đến học với bà ấy. Anh Thao Giang cũng đã quay nhiều phim cho đài truyền hình về sinh hoạt của bà ấy và có phim « Xẩm Đỏ », được đạo diễn Lương Đình Dũng quay cách nay 2 năm.

Tôi xem bà ấy cũng như tất cả những diva, hay những người nghệ sĩ lớn, hay những ca sĩ lớn của xứ Việt Nam hay ngay như trên thế giới, ngang hàng với bà Quách Thị Hồ. Bà ấy có một giọng hát rất là đặc biệt, là đại diện cho một truyền thống âm nhạc đang sắp mai một đi (…).

Di sản lớn, tiếp thu rất nhỏ

Theo như tôi nghĩ, sự ra đi của bà Hà Thị Cầu sẽ để lại sự mất mát rất lớn trong truyền thống hát xẩm. Không có một cơ quan nghiên cứu để làm một cuộc điền dã, đi thâu thập bà ấy, theo phương pháp dân tộc nhạc học. Các điền dã ít có làm hoặc chỉ làm một cách chung chung để thâu một số bài bản cho một số người trẻ học thôi, chứ không có đi thâu một cách tận tường, thâu hết – một việc cần làm để duy trì truyền thống hát xẩm với người cuối cùng còn lại của truyền thống này.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan là người đã thực hiện từ sớm việc thu thanh nghệ nhân Hà Thị Cầu. Sau đây ông chia sẻ một số ấn tượng về tài năng Hà Thị Cầu và thực trạng của việc kế thừa.

Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan 15/03/2013 Nghe

Đặng Hoành Loan : Bà ấy là một tài năng xẩm, với giọng hát tuyệt vời, với những rung cảm dường như nó từ máu, từ trong huyết mạch của bà ấy, cho nên khi bà ấy cất lên giọng hát là nó cuốn hút người ta ngay. Tôi được làm việc với bà ấy và thu thanh toàn bộ những vốn liếng của bà ấy vào những năm 1990. Nếu bây giờ đem đối chiếu lại với cái việc bà truyền lại cho lớp trẻ hiện nay, thì chắc chỉ được 1/10 thôi.

Đấy là vốn liếng bài bản. Còn vốn liếng nghệ thuật, tức là cái trình diễn nghệ thuật của bà ấy, thì phải nói rằng là lớp trẻ chưa tiếp cận được. Bởi vì bà có một tài năng mà không phải nghệ sĩ nào cũng có. Một người vừa đàn, vừa hát, một người vừa đánh trống, vừa hát. Một người tự mình có thể đánh hai ba trống một lúc, thì đấy là điều hiếm thấy. Đồng thời bà ấy lại là một nghệ sĩ, một người hát xẩm, đúng là xẩm, tức là sự ngẫu hứng những bài hát, thì bà ấy là người ngẫu hứng vô cùng tài ba. Và có nhiều bài hát bà để lại những dấu ấn rất sâu, như « Yên Mô quê mình », là bài viết về quê hương Yên Mô của bà ấy.

Có lẽ đây là người cuối cùng ra đi cùng với tài sản xẩm, không còn bao giờ có thể thấy nó hiện hữu được nữa. Và nếu nói một cách theo chủ quan của những người… thì cũng có thể nói là cũng còn lại một chút ít, của lớp trẻ tiếp thu được dăm ba bài.

Cũng như nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhận thấy, nghệ nhân Hà Thị Cầu đã ra đi, và cùng với bà là cả một « gia tài » hết sức lớn lao đã một đi không trở lại, lớp nghệ sĩ trẻ mới chỉ thâu nhận được những điều ít ỏi từ người nghệ sĩ lớn.

Nỗ lực nối lại một truyền thống nửa thế kỷ đứt đoạn

Như chúng ta biết, môn hát xẩm như một phương tiện kiếm sống của những người mù trên các không gian ngoài đường phố đã không còn tồn tại từ hàng chục năm nay. Trong thời gian ít năm trở lại đây, tại Hà Nội bắt đầu phát triển một số nhóm biểu diễn do các nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu chủ trì với mục tiêu phục dựng lại những bài hát và làn điệu xẩm thời xưa.

Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, kể từ năm 2008, đã tổ chức Lễ giỗ Tổ nghề hát xẩm (vào ngày 22/2 âm lịch) sau nửa thế kỷ gián đoạn, nhằm nối lại với truyền thống này.

Chúng tôi xin chuyển đến quý vị tiếng nói của nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, một trong những giọng hát và tay đàn quen thuộc với nhiều người yêu thích xẩm. Chị Mai Tuyết Hoa là một trong các trụ cột của sân khấu xẩm được tổ chức vào thứ bảy hàng tuần trước cửa chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Sau đây nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa chia sẻ những kỷ niệm và ấn tượng in dấu trong tâm hồn chị trong thời gian được theo học nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa 15/03/2013 Nghe

Mai Tuyết Hoa : Tôi biết bà qua giọng hát, qua những cái băng tư liệu của Viện nghiên cứu âm nhạc Việt Nam sưu tầm. Nghe băng, nghe đĩa của cụ và tôi đã bắt chước cái giọng hát của cụ, cũng như tiếng đàn của cụ. Cái điều ấn tượng nhất với tôi là cái phong cách của cụ, cũng như tính cách của cụ, rất là gần gũi, dí dỏm và rất là hài hước.

Riêng đối với nghệ thuật hát xẩm, thì phải nói, nó rất là phong phú. Phong phú ở bài bản, phong phú ở làn điệu, có buồn, có vui. Nói chung, thì nghệ thuật hát xẩm diễn tả được tất cả những tâm trạng của con người. Và cái điều khó nhất, chính là làm sao mà mình hát gần gũi nhất, dí dỏm nhất và lôi cuốn người nghe nhất. Và cho dù là, cho đến bây giờ, tôi đã học đến hơn mười năm, nhưng mà cái điều mà nghệ nhân Hà Thị Cầu làm được, cuốn hút được người nghe, thì tôi nghĩ vẫn còn rất là xa, bởi vì tôi cũng chỉ có thể học được một chút gì đó của cụ thôi, còn để đạt đến đỉnh điểm như cụ, thì tôi nghĩ điều đó khó ai có thể làm được.

Hát cho mình, hát cho mọi người

Đặc biệt là nghệ thuật hát xẩm, thì nó không như những loại hình nghệ thuật khác, nó khác quan họ, nó khác ca trù, nó rất là dân dã, rất là bình dân. Bình dân ở đây là nó rất gần gũi với mọi người. Ở mọi tầng lớp đều có thể thưởng thức nghệ thuật hát xẩm, vì nó dễ nghe, dễ hiểu. Nghệ thuật hát xẩm chính là cái mà người hát xẩm hát cho mình và cho mọi người.

RFI : Hát cho mình và hát cho mọi người là như thế nào, xin chị diễn tả thêm.

Mai Tuyết Hoa : Người hát xẩm hát thế nào để cho người nghe cảm thấy rằng là, cái điều này nó lay động lòng người lắm, nó miêu tả được nhân tình thế thái, thời sự chiến cuộc. Hoặc là ví dụ như, một người rất thích người hát xẩm hát cho một nỗi niềm gì đấy của mình, ví dụ như anh đang thích một cô này, mà chưa nói được ra lời, thì nhờ người hát xẩm hát cho là tôi đang rất là thích cô đấy, cô có đồng ý đến với tôi hay không ? Người hát xẩm hát cho cuộc đời mình và hát hộ người kia. Người kia cảm thấy rằng là anh hát xẩm này anh ấy có ích, anh ấy giúp được cô kia cô ấy hiểu được ý nghĩa của anh í, thì anh í động lòng, anh í để vào chậu thau đồng một chút ít tiền vào chậu thau đồng, gọi là thưởng cho người hát xẩm. Chứ người hát xẩm không đi xin, đó là điều tôi muốn nói với tất cả mọi người là như vậy.

Kết thúc chương trình hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe tiếng nói của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, người được nghệ nhân Hà Thị Cầu nhận làm con nuôi. Ông cũng là người từ gần 20 năm nay liên tục nỗ lực để hiểu xẩm, với hy vọng truyền đến công chúng những bí ẩn của môn nghệ thuật này.

Bùi Trọng Hiền : Tôi được nghe giọng của bà lần đầu tiên là vào năm 1979-1980, thời đó trên làn sóng phát thanh của đài tiếng nói Việt Nam, phát một bài hát xẩm, gọi là « Theo Đảng trọn đời », là do bà đặt lời, vừa đàn, vừa hát. Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được nghe. Hồi đó còn nhỏ lắm, thì thấy đó là một giọng hát rất hay. Nội dung của bài ca ấy nói về những người con đi tha phương cầu thực, tìm miếng ăn để sống, trong thời ly loạn của chiến tranh.

Sau này, khi lớn lên, học nhạc cổ rồi trở thành một người làm nghiên cứu, thì cái lần tôi được tiếp xúc chính thức với bà là năm 1992, trong những cuộc liên hoan ở Hà Nội, thì được gặp bà. Thì đến năm 1994, tôi mới có dịp được về Ninh Bình, để thăm bà. Từ đó, bà nhận tôi làm con nuôi, và tôi nhận bà làm mẹ đỡ đầu. Cứ có cơ hội, thì tôi lại xách máy và phi xe máy 120 cây về Ninh Bình nhà bà, và tranh thủ học hỏi và ghi chép tất cả, và thu âm toàn bộ những gì tinh hoa nhất, mà bà có.

Cái phóng khoáng và giang hồ của xẩm

Thông qua bà, tôi hiểu được xẩm của thời xưa, bởi vì bà là người cuối cùng hát xẩm. Thông qua những lời kể của bà, rồi những ngón đàn tiếng ca của bà, rồi tất cả những kỹ thuật, về phách, sênh, đàn nhị, về cách đặt lời của bà, cũng như tất cả những gì kỳ vĩ nhất của nghệ thuật xẩm của những người hát rong, vốn là những người hỏng mắt, cứ theo đó mà tuôn trào qua những lời kể, và tôi đã ngấm rất nhiều và thực sự bà là một người thầy rất lớn của tôi.

Suốt từ đó, cho đến khi bà còn khỏe, trong rất nhiều năm, cứ có dịp nào về là tôi lại xách máy quay lại thu âm. Một bài của bà, tôi thu không biết bao nhiêu lần, và mỗi lần bà lại đàn hát ra một dị bản khác nhau. Các bạn cũng biết là nghệ thuật xẩm cũng như rất nhiều thể loại nghệ thuật cổ truyền khác của Việt Nam là nghệ thuật ngẫu hứng. Mỗi làn điệu có một « lòng bản », trên cái lòng bản đó, người ta trình diễn các dị bản rất khác nhau. Đó là độ « giang hồ » của xẩm.

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền 15/03/2013 Nghe

RFI : Thưa anh, nghệ thuật xẩm có rất nhiều làn điệu. Làn điệu nào có thể nói là đặc trưng cho nghệ thuật hát xấm và bản thân nghệ nhân Hà Thị Cầu là đỉnh cao trong những làn điệu đó ?

Bùi Trọng Hiền : Từ một hình thức hát rong của những người hỏng mắt, xẩm đã sáng tạo những làn điệu của riêng mình, mà không một thể loại nào có. Tôi lấy ví dụ như điệu xẩm Huê tình chẳng hạn. Đấy là một điệu xẩm rất nổi tiếng. Nổi tiếng đến mức mà các ngành cổ nhạc bạn, ví dụ như chèo và ca trù đã du nhập làn điệu đấy vào trong kho tàng âm nhạc của mình.

Chúng ta biết rằng xẩm ngày xưa hát ở đường phố, hát ở bến nước, sân đình, hát ở bến đò, hát ở góc chợ. Cái nhu cầu của xẩm là hát ở những nơi đông người để kiếm sống. Thế cho nên, một bài ca xẩm thường không thể là bài ngắn gọn và nó thường là những làn điệu để chuyển tải những bài thơ rất dài. Để làm sao, người ta đi chợ, người ta nghe được đoạn đầu, thậm chí người ta nghe được bất cứ đoạn nào trong lời ca đó, người ta cũng nắm bắt được làn điệu đó, và người ta cảm thấy thích thú. Vì thế, cái tính gọi là tính trường thiên, tính kể truyện của xẩm rất là rõ ràng.

Người kể truyện trong sân khấu cuộc đời

Một đặc điểm nữa là nội dung của xẩm phải rất đặc biệt. Đặc biệt để làm sao trong đám đông ấy, giữa những tiếng ồn ào của chợ búa, của bến đò, của đường phố, người ta phải nghe nó đập vào ấn tượng, vào tai, vào mắt cái người đi đường, để người ta dừng lại, người ta thưởng tiền cho người hát xẩm. Thì với cái đặc điểm hát rong, nay đây mai đó, thì bản chất cái nghề nghiệp đó, cái cách thức diễn xướng, lấy đường phối, lấy bầu trời, lấy khung cảnh xã hội làm sân khấu, gọi là « sân khấu cuộc đời » của mình, thì hát xẩm đã tự hình thành nên những tính cách nghệ thuật rất riêng.

Bà biết hầu hết tất cả các làn điệu xẩm cổ truyền. Ở bà có cái đặc biệt là bà không biết chữ, như những người nghệ sĩ xẩm thời xưa thôi, nhưng chỉ có điều cái trữ lượng lời ca và làn điệu trong bà, nó như là một cái ăn sâu vào trong máu rồi, bởi vì bà hát từ năm 8 tuổi, 10 tuổi, nó in cả cuộc đời và một lúc nào đấy là nó bật ra, thì bà lại hát trường thiên cả một đoạn rất dài. Thế cho nên, khó có thể nói là bà hát cái gì hay nhất, bởi vì đối với tôi, bu tôi hát cái gì cũng hay. Bà sử dụng thành thạo tất cả các nhạc cụ sênh, phách, trống mảnh, nhị và việc diễn tấu đa năng, vài nhạc cụ một lúc như thế, vừa hát, vừa đàn, là một điểm rất đặc trưng của xẩm. Đối với tôi, thì bu hát làn điệu nào cũng ngọt ngào và hết sức kinh điển.

RFI : Một trong những cái nét mà anh vừa nhấn mạnh, là cái sự phóng khoáng trong diễn xuất của người hát xẩm và đặc biệt là nghệ nhân Hà Thị Cầu, đúng không ạ ?

Bùi Trọng Hiền : Bản chất của mỗi làn điệu xẩm là mang tính dị bản rất lớn, mỗi người thể hiện một cách khác nhau và thậm chí cùng một người mỗi lần hát một cách khác nhau, nhưng nó lại có một lòng bản riêng của từng làn điệu (Hát minh họa hai câu trong bài Thập ân với các biến tấu khác nhau : « Mẹ mới có thai, kể từ một ân, thì con ơi, mẹ mới có thai. Âm dương nhị khí nào ai biết gì, trong lòng thì con ơi mẹ chịu sầu bi. »).

Một tuyến giai điệu có thể hát dựng lên, hoặc hát luồn xuống là tùy theo các cảm hứng của người ta lúc ấy. Nhưng cái điểm vào đầu và điểm kết thúc phải xác định được theo điệu thức của làn điệu đó và cái khung lòng bản của làn điệu đó, ứng với lời thơ lục bát, thì nó sẽ ra được làn điệu Thập ân. Và đấy chính là độ giang hồ, hoang dã của xẩm, khiến cho cái độ phóng khoáng và mỗi người sẽ thể hiện vào đó một dấu ấn của riêng mình.

RFI : Thưa anh, xẩm được coi là nghệ thuật của những người có cuộc sống rất khổ ải. Điều này có đúng không và nếu đúng, thì được thể hiện như thế nào qua giọng hát của bà Hà Thị Cầu ?

Bùi Trọng Hiền : Có điều rất lạ là cuộc sống của những người xẩm ngày xưa được xếp vào ở tầng đáy của xã hội, bởi vì họ là những người bị hỏng mắt, thì âm nhạc trở thành cứu cánh của những người hỏng mắt, và vì thế họ tìm đến xẩm. Thì đấy là cái đầu tiên ta thấy.

Nhưng điều đặc biệt của hát xẩm, chúng ta tưởng tượng là, nếu như để kiếm sống, mà chỉ hát những khúc hát bi ai không, thì sẽ rất khó, cho nên là, anh muốn người ta nghe và người ta cho anh tiền, thì thường anh phải tìm đến những chủ đề đừng có quá buồn, quá bi lụy. Tôi cho rằng chính đặc điểm xã hội đấy, từ nhu cầu của đám đông đấy, nó dẫn đến trong xẩm là âm nhạc tươi sáng rất nhiều. Những cái điệu buồn rất ít, mà cái buồn chỉ là cái buồn man mác. Cái buồn nó không bi lụy, ai oán đến mức bi sầu, cảm thấy không lối thoát. Còn lại đa số là các làn điệu vui, tươi sáng.

Xẩm đủ bản lĩnh để hát về thời sự

Chúng ta biết rằng, trong xã hội có những thói hư tật xấu gì mà người ta muốn đả kích, thì xẩm rất nhanh nhạy, biến tất cả những câu chuyện ấy thành một bài thơ dài và bắt đầu hát. Tất nhiên là trong đám đông ở chợ, khi mà nghe thấy hát về một hiện tượng có tính thời sự như thế, thì lập tức người ta sẽ dừng lại nghe và người ta rất vui, vì đánh trúng vào thị hiếu của người ta mà. Chẳng hạn như có cô gái không chồng mà chửa, hay một cô gái lấy Tây đen, hay là có một ông nhà giàu keo kiệt, chẳng hạn, thì xẩm lập tức ứng biến ngay thành bài ca. Chúng ta biết trong thời chống Pháp, thì cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn thất bại trên Thái Nguyên, thì khi đó ai là người dám nói ? Thời đó không có báo chí nhiều như bây giờ và những thông tin ấy tất cả đều thông qua xẩm hết. Và lập tức xẩm ở Hà Nội có một bài vè rất dài, gọi là « vè Đội Cấn ». Và cả trăm câu thơ đó, người xẩm đã sáng tạo ra và hát những nội dung có tính hết sức thời sự và đánh đúng vào tinh thần yêu nước, vào cái câu chuyện vừa mới nóng hổi. Và xẩm đủ bản lĩnh để hát những điều đó.

RFI : Anh nói đến một điều rất thú vị và quan trọng. Thế ở nghệ nhân Hà Thị Cầu, thì tính thời sự và cập nhật này được thể hiện như thế nào ?

Bùi Trọng Hiền : Trong những bài hát rất nổi tiếng của bà như « Dâu lười » và « Rể lười », chẳng hạn. Chúng ta biết là trong xã hội, chuyện trong một làng xóm, một vùng nào đó, chuyện gọi là dâu lười và rể lười là rất phổ biến. Chỉ có điều, không ai có thể đem công khai ra nói được. Bỗng nhiên, có một người xẩm hát một bài « Dâu lười », rồi sau đó người ta cứ tự vận vào, chắc là nói đến ông nào đó trong xóm nhà mình, hoặc gia đình mình, người ta nghe thấy đã quá. Có thể nói chuyện « Dâu lười » và « Rể lười » là một trong các chủ đề về thời sự rất đặc sắc mà bà còn nhớ lại được. Nó nằm trong kho tàng của xẩm cổ truyền. Về sau này, hầu như là bà rất ít « viết » bài ca mới, ngoài bài « Theo Đảng trọn đời » rất nổi tiếng, vào thời gian Việt Nam chống lại quân Trung Quốc xâm lược năm 1979. Còn phần lớn kho tàng bà hát thì phần lớn là xẩm cổ truyền, lời cổ truyền hết.

RFI : Nghệ nhân Hà Thị Cầu được coi là người hát xẩm cuối cùng, bà đã ra đi, vậy tương lai của môn nghệ thuật này sẽ ra sao ?

Bùi Trọng Hiền : Những làn điệu xẩm vẫn còn lại. Còn lại trong các băng đĩa của các nhà nghiên cứu, còn lại trong một số nghệ sĩ đã học được một vài làn điệu, nhưng một nghệ sĩ xẩm đúng nghĩa của nó, một nghệ sĩ xẩm đích thực, thì đã chấm dứt cuộc sống. Cho nên, sự ra đi của bà cũng đặt dấu chấm hết cho nghệ thuật hát xẩm nói chung. Bà Hà Thị Cầu là người cuối cùng.

RFI xin chân thành cảm ơn nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải, Đặng Hoành Loan và Bùi Trọng Hiền đã dành thời gian cho tạp chí

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130315-ha-thi-cau-%E2%80%93-truyen-nhan-cuoi-cung-cua-nghe-thuat-hat-xam

Các bài liên quan
Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

THANH PHƯƠNG : Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Phát Thứ hai, ngày 10 tháng sáu năm 2013
Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.RFI

Hát ví và hát giặm Nghệ Tĩnh đã được Việt Nam đề nghị với tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong danh sách của năm 2014.

Trước khi từ Paris về Việt Nam để dự một hội thảo về hồ sơ hát ví và giặm Nghệ Tĩnh chuẩn bị cho hồ sơ nộp UNESCO, giáo sư Trần Quang Hải, nhà dân tộc nhạc học đã dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn về nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này, cũng như về việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.

Giáo sư Trần Quang Hải 06/06/2013 Nghe

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130610-cac-di-san-van-hoa-phi-vat-the-chua-duoc-bao-ton-dung-dan

THANH PHƯƠNG : Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Phát Thứ sáu, ngày 16 tháng mười năm 2015

Hát Then là một loại hình âm nhạc không chỉ mang tính dân gian mà còn gắn chặt với tín ngưỡng của người dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Thái và Việt Nam hiện đang làm thủ tục để đề nghị tổ chức UNESCO công nhận thể loại âm nhạc này là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2016.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam vừa thông qua kế hoạch tổng thể xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Then, Tày, Nùng, Thái” đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Liên hoan nghệ thuật hát Then toàn quốc lần thứ 5 cũng vừa diễn ra ở Tuyên Quang trong tháng 9 vừa qua.

Cũng tại Tuyên Quang, một hội thảo khoa học quốc tế với đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” đã được tổ chức trong hai ngày 25 và 26/09/2015, trong đó có sự tham gia của bốn chuyên gia nước ngoài là những nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học và khoảng 80 đại biểu từ nhiều vùng khác nhau ở Việt Nam. Hội thảo này là nhằm trao đổi về những đặc trưng của hát Then, về lời ca, nhạc ngữ, tiết tấu, lễ nghi, nhằm tạo ra một hồ sơ vững chắc cho đơn xin công nhận hát Then là di sản văn hóa phi vật thể.

Trước khi về Việt Nam để tham gia hội thảo này, giáo sư Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đã trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ về hát Then, để giải thích vì sao thể loại âm nhạc này rất xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.

Giáo sư Trần Quang Hải 05/10/2015 Nghe

Cho tới nay Việt Nam đã có 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, theo thứ tự thời gian từ mới nhất đến cũ nhất là Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh được công nhận năm 2014, Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận năm 2013, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận năm 2012, Hát xoan được công nhận năm 2011, Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, được công năm 2010, Ca trù được công nhận năm 2009, Dân ca Quan họ được công nhận ngày 30/9/2009. Riêng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận năm 2003, chính là Nhã nhạc cung đình Huế. Đến năm 2008, thể loại âm nhạc này được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20151204-hat-then-mong-duoc-cong-nhan-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the


Cùng chủ đề

  • TẠP CHÍ VIỆT NAM

    Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ VĂN HÓA

    Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ XÃ HỘI

    Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

    Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

TRAN QUANG HAI sings THE ODE TO JOY at SCHÖNBRUNN, VIENNA, 24.09.12

TRAN QUANG HAI sings THE ODE TO JOY at SCHÖNBRUNN, VIENNA, 24.09.12

Published on Sep 30, 2012

TRAN QUANG HAI sings THE ODE TO JOY , excerpted from the 9th Symphony by Ludwig von BEETHOVEN with the overtone singing style in one breath .
Filmed at SCHÖNBRUNN CASTLE , VIENNA, AUSTRIA