Archives du mot-clé tiểu sử

WIKIPEDIA : Trần Văn Khê (1921-2015), tiểu sử

Trần Văn Khê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trần Văn Khê
Trần Văn Khê.jpg

Giáo sư Trần Văn Khê năm 2013
Sinh Trần Quang Khê
24 tháng 7, 1921
Đông Hòa, Châu Thành, Mỹ Tho, Việt Nam
Mất 24 tháng 6, 2015 (93 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nơi an nghỉ Nghĩa trang Bình Dương (Chánh Phú Hòa, Bến Cát)
(hỏa táng)[1]
Nơi cư trú Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Học vị Giáo sư Tiến sĩ
Nghề nghiệp Nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc
Năm hoạt động 19422015
Quê quán Việt Nam
Tôn giáo Phật
Phối ngẫu Nguyễn Thị Sương
Con cái Trần Quang Hải Trần Quang Minh Trần Thị Thủy Tiên Trần Thị Thuỷ Ngọc
Cha mẹ Trần Quang Chiêu (cha)
Nguyễn Thị Dành (mẹ)
Người thân Nguyễn Tri Phương (ông cố)
Nguyễn Tri Khương (cậu)
Trần Ngọc Viện (cô)
Giải thưởng Giải thưởng

Trần Văn Khê (24 tháng 7 năm 1921 – 24 tháng 6, năm 2015) là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.[2]

Mục lục

Tiểu sử

Trần Văn Khê (tên khai sinh là Trần Quang Khê) sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[3], biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương[4]. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[5]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[6]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[6].

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ » trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, « Truyền bá vệ sinh » của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến « đi Hội đền Hùng« , và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai đầu lòng của ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến một thời gian, đầu năm 1946, ông có thêm người con trai thứ hai đặt tên là Trần Quang Minh nên ông được tổ chức bố trí lùi về vùng Pháp kiểm soát cuối năm 1946. Năm 1948, bà Sương sanh tiếp cho ông cô con gái Trần Thị Thuỷ Tiên.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949 nên chưa biết mặt cô con gái út Trần Thị Thuỷ Ngọc còn nằm trong bụng mẹ. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[7].

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Năm 2009, ông là một trong những trí thức nổi tiếng ký vào thư phản đối dự án Boxit ở Tây Nguyên[8].

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.[2]

Thực hiện di nguyện

Mâu thuẫn về nơi đặt di cốt

Theo di nguyện nói của ông Trần Văn Khê trước khi mất, hài cốt sẽ được mang về Vĩnh Kim (Tiền Giang), chôn bên cạnh mộ phần của cha mẹ ông và dòng tộc bao đời nay vẫn ở đó[9]. Tuy nhiên, di nguyện văn bản hợp pháp sau cùng ông quyết định hỏa táng và để các con mình bàn bạc quyết định chỗ lưu tro cốt.

Ngày 26/12/2015, con thứ của ông là Trần Quang Minh, người con duy nhứt còn ở lại Việt Nam đã di cốt của cố giáo sư từ nhà riêng của ông tại Thành phố Hồ Chí Minh tới an vị tại Linh Hoa Tuệ Đàn thuộc Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương tài trợ toàn bộ kinh phí xây dựng một không gian thờ phượng và tưởng niệm cố giáo sư Trần Văn Khê tại một vị trí trang trọng, bao gồm cả các bộ bàn ghế tiếp khách và trang thiết bị truyền hình, âm thanh, nơi trưng bày các hiện vật, tranh ảnh… để phục vụ cho những cuộc giao lưu, những nghiên cứu âm nhạc dân tộc của ông.[10] Đây là quyết định gây mâu thuẫn. Quyết định này được các con gái của ông Khê ủy nhiệm, nhưng lại không được con trưởng của ông là Trần Quang Hải tán thành[9].

Thành lập nhà lưu niệm

Di nguyện của ông Trần Văn Khê là sau khi ông mất, toàn bộ tiền phúng viếng sẽ để ra để thành lập Quỹ Trần Văn Khê và chuyển ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai trở thành Trung tâm Trần Văn Khê.

Tuy nhiên, ngày 1/1/2016, con trai trưởng Trần Quang Hải viết thư cho Ban tang lễ (ban được ông Khê ủy nhiệm cùng con trai trưởng để thực hiện di nguyện) xin từ bỏ ý định thực hiện di nguyện do một số lý do: Quỹ 700 triệu từ tiền phúng viếng không thể đủ để thành lập quỹ (theo quy định là 1 tỷ) và duy trì hoạt động sau này, ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai thủ tục quá nhiêu khê và vẫn chưa được nhà nước cấp phép[11].

Gia đình

Ông Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.

Trần Văn Khê, Trần Văn TrạchLê Thương ở Sài Gòn năm 1949

Người vợ duy nhứt của ông Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: GS.TS. Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở TP Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris[12].

Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, do hoàn cảnh, ông và bà Sương không còn sống với nhau nữa. Năm 1960, bà Sương và ông ly dị[13], tuy nhiên sau này vẫn coi nhau là bạn[14]. Sau đó ông có những người phụ nữ khác nhưng ông không kết hôn thêm lần nào nữa. Ông nói: « Đa tình thì có thể nhưng rất may là tôi không phải là người bạc tình và cũng chưa bao giờ cùng lúc có hai ba người. Chỉ có người này đi qua người khác đến. Cũng chưa có người phụ nữ nào oán trách tôi, khi chia tay chúng tôi đều giữ lại được tình bạn.« [15]. Mấy chục năm cuối đời ông sống một mình.

Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, người con gái út của ông là Trần Thị Thủy Ngọc còn nằm trong bụng mẹ chưa ra đời. Sau này, năm 1961 Trần Quang Hải (trưởng nam) sang Pháp, tới năm 1969 đến lượt Thủy Ngọc (con gái út) sang Pháp ở với cha. Còn Trần Quang Minh và Thủy Tiên ở lại Việt Nam, sống với mẹ[13]. Đến 1986, Thuỷ Tiên qua Pháp định cư. Trần Quang Hải kết hôn với ca sĩ Bạch Yến (ca sĩ) sống tại Paris. Trần Quang Minh có gia đình vẫn sống ở TP HCM cho đến nay.

Hội viên

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc và trên trường quốc tế:

  • Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học (Société Française de Musicologie) (Pháp)
  • Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Française d’Ethnomusicologie) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
  • Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
  • Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
  • Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
  • Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
  • Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
  • Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ thuật…

Giải thưởng

  • 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
  • Huy chương bội tinh hạng nhứt của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
  • Văn hoá bội tinh hạng nhứt của Bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
  • 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada).
  • 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique).
  • 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français (Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp).
  • 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn.
  • 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam.
  • 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp.
  • 2005: Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng.
  • 2011: Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu

Chú thích

  1. ^ Vĩnh biệt GS-TS Trần Văn Khê – một người tài hoa … Q.Như- H.Thuận, 13:37 – 24/06/2015 (GMT +7)
  2. ^ a ă Singapore Swim Association. “Giáo sư Trần Văn Khê qua đời”. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
  3. ^ Mai Anh, « GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt« , trang Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập 2008-10-22.
  4. ^ ‘Sẽ không ai thay thế được GS-TS Trần Văn Khê’, VoA Tiếng Việt, ngày 25 tháng 6 năm 2015.
  5. ^ Trần Văn Khê, « Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ« , bảo Tuổi Trẻ 15/01/2006 10:50 GMT+7. Truy cập 2015-06-29.
  6. ^ a ă Nguyễn Phúc Nghiệp, « Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam« , trang tỉnh Tiền Giang cập nhật 18-04-2008. Truy cập 2015-06-29..
  7. ^ Bạch Dương, « GS Trần Văn Khê và những ngôi nhà« , Bạch Dương ghi, Báo Tiền phong 13:31 ngày 05 tháng 10 năm 2008. Truy cập 2015-06-29.
  8. ^ BBC Vietnamese – Việt Nam – Nhiều trí thức ký vào thư phản đối dự án bauxite
  9. ^ a ă http://danviet.vn/van-hoa/se-khong-co-quy-va-nha-tuong-niem-tran-van-khe-652321.html
  10. ^ “Di cốt GS Trần Văn Khê an vị tại Bình Dương”.
  11. ^ http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/con-trai-gs-tran-van-khe-bo-y-dinh-thuc-hien-di-nguyen-cua-cha-3337343.html
  12. ^ “Cuộc đời, sự nghiệp GS. Trần Văn Khê qua lời hồi ức của con trai (I)”. Báo điện tử Dân Trí. 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập 24 tháng 6 năm 2015.
  13. ^ a ă Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa Trần Văn Khê | Vbizz.net
  14. ^ Phu nhân GS.TS Trần Văn Khê qua đời – Văn hóa – Dân trí
  15. ^ Những người phụ nữ trong đời giáo sư Trần Văn Khê

Tham khảo

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Kh%C3%AA

WIKIPEDIA : NGUYỄN VĨNH BẢO , tiểu sử

Nguyễn Vĩnh Bảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Vĩnh Bảo
Nguyen Vinh Bao.jpg

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tại lễ tang GS Trần Văn Khê
Sinh Nguyễn Vĩnh Bảo
1918 (96–97 tuổi)
Làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc
Nơi cư trú Thành phố Hồ Chí Minh
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Học vị Giáo sư
Công việc Nghiên cứ Âm nhạc

Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh 1918) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc trong một gia đình nho học rất yêu thích đờn ca tài tử. Ông là nhạc sư, nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống vừa là nhạc sĩ trình tấu, lại kiêm cả nghệ nhân đóng đàn[1]. Ông cũng là người cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn[2]. Ông cũng nổi tiếng với tình bạn đẹp dành cho Giáo sư Trần Văn Khê Khi vào những lúc cuối đời giáo sư Khê đã mong muốn được nghe lại tiếng dàn của ông một lần nữa[3]

Sự nghiệp

Từ lúc 5 tuổi ông đã biết chơi đờn kìm, đờn cò, 10 tuổi biết chơi rất nhiều các loại nhạc cụ dân tộc.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1972 ông cùng giáo sư Trần Văn Khê diễn tấu ghi âm đĩa Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocara và UNESCO tại Paris (Pháp) năm 1972.

Từ năm 1970-1972 ông là giáo sư đặc biệt thỉnh giảng về đàn tranh tại Đại học Illinois (Mỹ).

Năm 2005 nhạc sư Vĩnh Bảo và giáo sư Trần Văn Khê được phát giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam tại TPHCM.

Đến năm 2008 nhạc sư Vĩnh Bảo cũng được chính phủ Pháp tặng huy chương nghệ thuật và văn học.[4]

Chú thích

  1. ^ “Nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo thủy chung với đờn ca tài tử”. vnexpress. 18/9/2003. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ “Nhạc sư U100”. tienphong. 30/04/2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  3. ^ “Nhạc sư 98 tuổi đến tiễn biệt Giáo sư Trần Văn Khê”. tienphong. 26/06/2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  4. ^ “Pháp tặng huy chương cho nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo”. 13/01/2009. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%A9nh_B%E1%BA%A3o

TRẦN VĂN KHÊ : TIỂU SỬ TIẾNG VIỆT

TVK HDH 8

TIỂU SỬ GS-TS TRẦN VĂN KHÊ

Ngày sinh : 24-07-1921

Quê quán : Làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

Nơi ở hiện nay :   32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí

Công việc hiện nay:

Hưu trí, thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO.

Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Nhạc Truyền Thống (International Council for

Điện thoại : ĐT nhà riêng : (08) 3.551.1249

+ Được cấp bằng Tiến sĩ Văn chương, Khoa Âm Nhạc học, ĐH Sorbonne Paris

+ Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1967.

Quá trình học tập/công tác :

1941-1944 : Trường Đại học Đông Dương Hà Nội, Y khoa.

1944-1949 : Giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Hậu Giang ; Ký giả báo Thần Chung và

1949-1988 : Học tập, nghiên cứu và tham gia giảng dạy tại hơn 20 Trường Đại học trên

1959-1988 : Giám đốc Nghiên cứu tại Trung Tâm Quốc gia Pháp Nghiên cứu Khoa

Minh

Traditional Music) vào năm 2013

E-mail : trantruongca@yahoo.com.vn

Việt Báo.

khắp thế giới.

học (Directeur de Recherche au Centre National de la Recherche

Scientifique)

1969-1988 : Giáo sư Khoa Dân tộc Nhạc học tại Đại học Sorbonne Paris.

1999-2003 :  Giáo sư Đại học Dân lập Hùng Vương (TP.HCM).

2006 đến nay : Giáo sư Đại học Dân lập Bình Dương. Cố vấn đặc biệt Hội đồng

Thành viên của nhiều Hội quốc tế về Âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như : Hội

đồng âm nhạc quốc tế thuộc UNESCO, Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Hội

đồng quốc tế Giáo dục âm nhạc, Hội đồng quốc tế Nghiên cứu âm nhạc, Hội Âm

nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội Dân tộc Âm nhạc học Mỹ,

Hội Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội Nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ.

Những đóng góp chủ yếu cho Việt Nam và thế giới :

– Đã có trên 200 bài viết về Âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Châu Á đã được đăng

trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt những bài viết cho

Courrier de l’UNESCO được dịch ra 14 ngôn ngữ khác nhau.

– Đã thực hiện trên 25 đĩa hát 33 vòng và CD về Âm nhạc Việt Nam và vài nước

Khoa học Đại học Bình Dương.

– Đã lồng tiếng cho trên 100 phim từ tiếng Anh ra tiếng Pháp, diễn viên điện ảnh

cho 6 phim quảng cáo tại Pháp và làm diễn viên cho 2 phim lớn là : “La Rivière

des trois Joncques” (Pháp) và “A town like Alice” (Anh).

– Viết bài về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều báo chí, tạp chí trong nước

và trên thế giới. Giúp các cơ quan trong nước giới thiệu âm nhạc Việt Nam tại các

Hội nghị quốc tế, trong các Diễn đàn âm nhạc Châu Á, các Cơ quan quốc tế như:

UNESCO, Hội đồng Âm nhạc quốc tế.

– Giới thiệu các bộ môn Ca trù, Múa rối nước, Hát bội miền Nam, Nhã nhạc (Cung

đình Huế), Nhạc Phật giáo Việt Nam, đàn Tài tử, ca nhạc Huế bằng những buổi

thuyết trình, dĩa hát, băng video, làm cho ngoại quốc hiểu thêm về các di sản văn

hóa phi vật thể của Việt Nam.

– Đặc biệt đã giới thiệu Đờn ca tài tử trong và ngoài nước :

+ 1949 : Tại Budapest Hung-ga-ri trong cuộc thi về nhạc khí dân tộc do Liên

hoan Thanh Niên tổ chức : Giới thiệu 2 nhạc khí đờn Cò và đờn Tranh Việt

Nam trong những bài bản Đờn ca tài tử, giải nhì thế giới.

+ 1949 – 1951 : Giới thiệu trong nhiều dịp cho các đoàn thể Thanh niên Pháp và

những người yêu nhạc Đông phương những chương trình về Đờn ca tài tử,

được tổ chức trong các nhà Văn hoá Pháp.

+ 1953 : Bắt đầu soạn Luận án Tấn sĩ văn chương khoa Nhạc học tại Trường Đại

học Văn khoa Paris – Sorbonne với đề tài “Âm nhạc truyền thống Dân tộc Việt

Nam”, bảo vệ thành công năm 1958 – Ưu hạng với lời khen của Ban giám

khảo. In ra năm 1962 với sự ủng hộ tài chánh của Trung tâm quốc gia nghiên

cứu khoa học Pháp và Bảo tàng viện Guimet. Tuy là một luận án về Âm nhạc

truyền thống nói chung nhưng các tư liệu phong phú nhứt có liên quan đến Âm

nhạc Cung đình Huế và Âm nhạc Tài tử miền Nam.

+ 1959 : Thành lập Trung tâm Học nhạc Đông phương chuyên dạy các môn Âm

nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón.

Trong Trung tâm đó lãnh trách nhiệm Giám đốc Nghệ thuật và chuyên dạy

Đờn ca tài tử (Tranh, Kìm, Cò) với sự cộng tác của hai con (Trần Quang Hải &

Trần Thị Thuỷ Ngọc), hoạt động 30 năm và đào tạo trên 150 sinh viên Pháp và

quốc tế biết nhạc tài tử, trong số đó nổi bật nhứt là 3 sinh viên : Kim Lý (dạy

đờn Tranh cho trẻ em Việt Nam nhiều nơi tại Pháp) – Andre Lantz (GS điện tử,

đờn Tranh rất mùi, đi nghĩa vụ quân sự tại châu Phi, nhân ngày Tết Việt Nam

đã đờn bài Tứ đại làm rơi nước mắt bao nhiêu kiều bào Việt ở châu Phi) –

Nelly Felz (GS dạy cấp Tú tài chuyên về Âm nhạc, bắt buộc tất cả sinh viên

phải biết đờn Tranh mới được thêm điểm trong cuộc thi, chuyên Đờn ca tài tử

và đặc biệt thích nhứt là hơi Xuân và hơi Oán).

+ 1959 – 1963 : Được tuyển vào Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học

Pháp với cấp bực “Tuỳ viên Nghiên cứu” để nghiên cứu về ngôn ngữ âm nhạc

Việt Nam đặc biệt trong Đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole)

+ 1959 – 1965 : Giới thiệu Đờn ca tài tử trong tiết mục dành riêng cho tôi tại 2

hiệu ăn lớn : hiệu ăn La Table du Mandarin của anh Phạm Văn Mười và hiệu

ăn Bồng Lai của anh Bùi Văn Tuyền tại Vùng Champs-Elysees.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ).

Nhờ bà De Chambure trong lúc thăm Việt Nam bà có máy ghi âm tối tân bằng

âm thanh nổi hiệu Nagra ghi âm Đờn ca tài tử dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn

Hữ Ba và nhờ tiền tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Học nhạc với phương

pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh làm ra được 1 dĩa hát về nhạc Cung đình Huế

và 1 dĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam, xuất bản dưới nhãn hiệu dĩa hát của

Unesco, trong dĩa đó có những bài Tứ đại oán và Vọng cổ do Bạch Huệ ca,

trong dàn đờn người giữ cây đờn Kìm là bác Sáu Tửng.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ)

+ 1968 – 1972 : Chức vụ Nghiên cứu sư, đã được mời dạy nhạc học trong

chuyên khoa Dân tộc nhạc học. Trong những năm này đặt trọng tâm nghiên

cứu vào các Kịch nghệ châu Á: Jing Xi (Kinh kịch Trung Quốc), Nôh, Kabuki

(Nhựt Bổn), Pansori (Triều Tiên), Hát chèo, hát bội, hát cải lương (Việt Nam)

+ 1972 : Trường Đại học Carbondale (Mỹ) có mời Nhạc sư Vĩnh Bảo, tôi và

Nhạc sĩ Phạm Duy sang dạy một khoá 3 tháng cho sinh viên. NS Vĩnh Bảo dạy

về cách đóng đàn và cách đờn theo truyền thống Đờn ca tài tử, tôi dạy về Lịch

sử và lý thuyết của âm nhạc Việt Nam nói chung và Đờn ca tài tử nói riêng,

Phạm Duy dạy về Dân ca Việt Nam (cả 3 miền). Trường tổ chức nhiều buổi

hoà nhạc Đờn ca tài tử cho sinh viên, kể cả các tổ chức Văn hoá của vùng do

NS Vĩnh Bảo và tôi đảm nhận.

+ 1973 : Trước khi trở về Việt Nam NS Vĩnh Bảo ghé Pháp và ở tại nhà tôi. Hai

anh em góp sức giảng dạy về Đờn ca tài tử cho Trường Đại học Sorbonne và

những trường Trung học cấp III ở vùng ngoại ô.

Trung tâm học nhạc Đông phương tổ chức nhiều buổi hoà nhạc cho Việt

kiều, trong dịp này hãng dĩa Ocora (thuộc Đài phát thanh Paris) mời NS Vĩnh

Bảo và tôi ghi âm một dĩa hát Đờn ca tài tử. Các chuyên gia Unesco sau khi

nghe dĩa hát Ocora rất thích và phái một chuyên gia ghi âm là Hubert de

Frayssex thực hiện một dĩa hát đặc biệt do Unesco tài trợ và được phát hành

dưới nhãn hiệu dĩa hát của Unesco, mục “Musical Sources” (Nguồn gốc âm

nhạc) đây là dĩa giới thiệu Đờn ca tài tử: NS Vĩnh Bảo đờn Tranh, tôi đờn Tỳ

Bà 2 bản Tây Thi, Cổ bản. NS Vĩnh Bảo độc tấu 3 bài Nam Xuân, Nam Ai,

Đảo ngũ cung và một phần bài Tứ đại oán, có đủ cả phần rao đầu.

+ 2010 : Cố vấn đặc biệt cho Uỷ Ban Thành lập Hồ sơ về Đờn ca tài tử để gửi

Unesco. Đã góp ý và sửa những sai lầm trong các cuộn phim về Đờn ca tài tử

của hồ sơ. Cung cấp những dĩa hát mang nhãn hiệu Unesco, trong đó có nhiều

tiết mục Đờn ca tài tử.

– Chương Mỹ Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Văn Hóa Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Giải thưởng UNESCO – CIM về Âm nhạc (1981)

– Huy chương Công dân ưu tú TP.HCM (1981)

– Fulbright Scholarship (1988) Bộ ngoại giao Mỹ sắp đặt cho dạy học trong một

năm tại Hololulu về Âm nhạc Dân tộc các nước truyền thống châu Á, đặc biệt

Âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

– Officier des Arts et des Lettres – Bộ VHTT Pháp (1991)

– Huy chương Vì Văn hoá quần chúng – Bộ VHTT Việt Nam (1991)

– Viện sĩ Thông tấn Hàn Lâm Viện Châu Âu Khoa học Văn chương Nghệ thuật

– Koizumi Fumio International Prize for Ethnomusicology (1994) Nhựt Bổn

– Huân chương Lao động hạng Nhất – Chủ tịch nước CHXHCNVN (1999)

– Chevalier de l’Ordre des Palmes Academiques – Bộ Giáo dục Pháp (1999)

– Giải thưởng Vinh danh nước Việt (2003)

– Giải thưởng Đào Tấn (2005)

– Giải thưởng Quốc tế do Thành phố San Francisco (Mỹ) về “Đã cống hiến trọn

đời cho việc nghiên cứu Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

– Giải thưởng Phan Châu Trinh (2011)

– Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh (2013)

SONG KỲ – NAM YÊN : “Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê:

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

(LĐĐS) – Số 28 Song Kỳ – Nam Yên – 7:50 AM, 26/07/2015
Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương thời trẻ (Ảnh từ trái qua).

Như đã biết, Trần Văn Khê là anh cả trong gia đình có 3 anh em, hai người còn lại là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương. Giống như người anh cả Trần Văn Khê, hai người em cũng lớn lên trong môi trường âm nhạc của gia đình, về sau đều thành danh. Đặc biệt là người em kế Trần Văn Trạch, tuy kém anh mình ở học hàm, học vị, nhưng cũng đủ sức làm náo động cả Sài Gòn suốt thời gian dài bằng tài năng nghệ thuật của mình.

“Khê anh” và “Khê em”

Trần Văn Trạch sinh năm 1924, nhỏ hơn Trần Văn Khê 3 tuổi. Thuở nhỏ, cũng giống như anh mình, Trần Văn Trạch theo học tiểu học ở Collège de Mỹ Tho (Trường Trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã có năng khiếu về âm nhạc, lại được người cô ruột là cô Ba Viện chỉ dạy, nên ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Ông còn học đàn mandoline với anh ruột Trần Văn Khê và học đàn violon với người anh họ Nguyễn Mỹ Ca. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Kể về đứa em kế của mình, GS.TS Trần Văn Khê viết: “Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi “Trạch ơi!” là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà”. Từ đó, dù trong sổ bộ vẫn tên Trần Văn Trạch, nhưng cậu bé Trạch được gọi cái tên mới là “Khê em”, còn Trần Văn Khê là “Khê anh”. Trong gia đình và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi 2 anh em là “Khê anh” và “Khê em”.

GS.TS Trần Văn Khê kể tiếp: “Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm, chúng tôi không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, môt gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc”.

Sau khi Trần Văn Khê lên Sài Gòn học Trường Petrus Ký rồi ra Hà Nội học ngành y, Trần Văn Trạch cũng rời quê hương lên Sài Gòn đi theo nghiệp âm nhạc. Nhưng chỉ hơn năm sau, tại quê nhà, cô Ba Viện (như là mẹ ruột của 3 anh em Trần Văn Khê) lâm trọng bệnh. Vì chữ hiếu, “Khê em” phải bỏ giữa chừng mọi dự tính, trở về quê lo tròn chữ hiếu. GS.TS Trần Văn Khê kể: “Khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch. Cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm. Nhưng Trạch, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngã ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn 1 cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió…”.

Lúc đó, ở Mỹ Tho, có một gia đình người Pháp làm công chức. Người Pháp này có cảm tình với cậu học sinh đàn hay, hát giỏi Trần Văn Trạch. Lúc Nhật đảo chính Pháp năm 1945, ông người Pháp bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp và trai tài gái sắc đã gặp nhau, cuộc tình dẫn đến sự ra đời của một đứa bé. Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, Trần Văn Khê gia nhập Thanh niên cứu quốc. Trần Văn Trạch dắt cô vợ Pháp và đứa con nhỏ vào vùng kháng chiến tìm anh. Để rồi sau khi gặp anh ở Cần Thơ, Trần Văn Trạch được vào Ðội quân nhạc Nam bộ và hai anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch. 

Người khai sinh nhạc hài hước

Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế chiến 2, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà ở Sài Gòn được phép mở cửa trở lại. Trần Văn Trạch trở về Sài Gòn xin vào làm hoạt náo và hát tại Dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau đó, ông mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, TPHCM). Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán ca nhạc tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TPHCM). Nhằm câu khách, ông Trạch thường hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho một cái tên rất Tây là Tracco. Trong thời gian cùng anh trai đi theo ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương. Nhìn thấy Trần Văn Trạch tiềm ẩn nét duyên pha lẫn chất hài, Lê Thương viết thử bài ca hài cho bạn trình diễn. Ðó là bài “Hòa bình 48”, Trạch hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom… Trạch trình diễn thành công, Lê Thương nổi hứng viết tiếp bài “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu; rồi bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp… cũng do ông Trạch hát. Vì những bài hát này mà Lê Thương và Trần Văn Trạch có lần bị cảnh sát bắt giam ở bót Catinat mấy ngày.

Năm 1949, Trần Văn Trạch đã nảy ra ý nghĩ mở đại nhạc hội – một chương trình văn nghệ tổng hợp bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật… Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền, kể từ đó cái tên “đại nhạc hội” trở nên phổ biến. Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ “chương trình văn nghệ phụ diễn” cũng ra đời từ đó. Trần Văn Trạch cũng sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn. Bản nhạc “Anh phu xích lô” là sáng tác đầu tiên của ông. Ông viết tiếp những bài hát hài “Cái tê-lê-phôn”, “Cái đồng hồ tay”, “Cây bút máy”, “Anh chàng thất nghiệp”, “Sở vòi rồng”, “Đừng có lo”, “Tôi đóng xinê”, “Chiếc ôtô cũ”, “Chiến xa Việt Nam”… Bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú về chất duyên, hài hước của ca từ, giai điệu và cách diễn xuất của chính tác giả.

“Quái kiệt” đa tài

Ngoài nghiệp ca hát và sáng tác, Trần Văn Trạch còn cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, ông cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là “Lòng nhân đạo” (1955) và “Giọt máu rơi” (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương. Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là “Thoại Khanh – Châu Tuấn” (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và “Trương Chi – Mỵ Nương” (1956, đóng chung Trang Thiên Kim, La Thoại Tân).

Năm 1961, sau một chuyến lưu diễn 6 tháng ở Pháp, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là màn múa rối học được ở Pháp. Đồng thời, người yêu nhạc Sài Gòn lấy làm thích thú giọng hát Trần Văn Trạch với bài hát “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa). Bài “Chiều mưa biên giới” với giọng hát Trần Văn Trạch đã đứng vững trong làng tân nhạc Sài Gòn suốt mười mấy năm, hầu như không có ca sĩ nào ở Sài Gòn hát bài này qua Trần Văn Trạch. Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch còn là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ. Khoảng giữa thập niên 1960, bắt đầu từ một bài báo, biệt danh “Quái kiệt Trần Văn Trạch” đã xuất hiện ở Sài Gòn, gắn liền với người nghệ sĩ đa tài mà mỗi lần xuất hiện đều làm náo động sàn diễn.

Hầu hết người Sài Gòn và cả miền Nam không thể nào quên bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” do chính Trần Văn Trạch sáng tác và hát mỗi chiều thứ bảy, khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát sóng trực tiếp chương trình xổ số kiến thiết hàng tuần. Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào chơi vé số, kèm theo đó là nạn chơi số đề, nở rộ khắp Sài Gòn và cả miền Nam. Bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” qua giọng hát thu hút của Trần Văn Trạch như thêm thôi thúc người dân đến với xổ số và số đề: “Kiến thiết quốc gia/ Giúp đồng bào ta/ Xây đắp muôn người/ Được nên cửa nhà/ Tô điểm giang san/ Qua bao lầm than/ Ta thề kiến thiết/ Trong giấc mộng vàng/ Triệu phú đến nơi/ Chỉ mười đồng thôi/ Mua lấy xe nhà/ Giàu sang mấy hồi…”.

Tháng 12.1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp), ông tiếp tục có những năm tháng sống gần gũi với anh trai là GS.TS Trần Văn Khê. Từ đó trở đi, Trần Văn Trạch gần như chia tay với hoạt động nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống. Trần Văn Trạch mất ngày 12.4.1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris. Ngày ông qua đời, người anh trai là GS.TS Trần Văn Khê đang ở Việt Nam để sưu tầm âm nhạc truyền thống dân tộc. GS.TS Trần Văn khê đã tức tốc bay về Paris làm chủ tang cho đứa em ruột thịt của mình, đứa em đã từng gắn bó với ông trong những ngày niên thiếu và cùng đi chung với ông trên con đường nghệ thuật thênh thang.

http://laodong.com.vn/van-hoa/quai-kiet-tran-van-trach-nguoi-lam-nao-dong-ca-sai-gon-356437.bld

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Một gia đình đại thụ âm nhạc
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

(LĐĐS) – Số 27 Song Kỳ – Nam Yên – 6:50 PM, 19/07/2015

GS.TS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đại thụ âm nhạc”, được thừa hưởng truyền thống và những tố chất âm nhạc, nhưng cuộc đời không trải thảm để Trần Văn Khê bước đến vinh quang. Những biến cố trong gia đình cộng với hoàn cảnh đất nước bị xâm lược… đã làm cho những năm tháng tuổi trẻ của ông gặp không ít thăng trầm.

Nhưng với tài năng bẩm sinh, nhiệt huyết cháy bỏng, ông đã vượt qua mọi trở ngại để đạt đến đỉnh cao tài năng trong âm nhạc, góp phần quan trọng làm cho âm nhạc truyền thống Việt Nam được vinh danh trên thế giới.

Từ Vĩnh Kim ra đi

Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921, là anh cả trong gia đình có 3 anh em. Năm 9 tuổi, ông mồ côi mẹ, đến năm 10 tuổi lại mồ côi cha. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô ruột Trần Ngọc Viện (cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Ông học tiểu học tại Mỹ Tho, đến năm 13 tuổi ông được cô Ba Viện đưa lên Sài Gòn học tại Trường Trung học Pétrus Ký. Tại đây, Trần Văn Khê cùng 2 bạn học là Lưu Hữu Phước và Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục.

Năm 1941, ông được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội Đức trí Thể dục ra Hà Nội học y khoa tại Đại học Đông Dương. Tại đây, Trần Văn Khê có một kỉ niệm nhớ đời. Ông kể: “Ngày khai giảng ở trường đại học (nay là số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài – quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise, một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: “Quốc kỳ và quốc ca của ta đấy!”. Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài”…

Kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc. Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc, khuấy động phong trào thanh niên lành mạnh, khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: “Người xưa đâu tá”, “Bạch Đằng giang”, “Ải Chi Lăng”…

Cũng năm đó, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bằng tiếng Pháp và giới thiệu dân ca 3 miền Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise đã viết khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỉ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê.

Năm 1943, khi còn đang học ngành y ở Đại học Đông Dương, Trần Văn Khê trở về Nam lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sương – người bạn học cùng lớp triết ở Trường Pétrus Ký Sài Gòn. Bị sốt rét nặng, rồi nạn đói ở miền Bắc hoành hành, Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Tại quê nhà, ông dạy học và đi khắp nơi để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trở thành Giáo sư Đại học Sorbonne

Năm 1945, Trần Văn Khê tham gia kháng chiến, cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ. Các ông tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà (Bến Tre), đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… giúp ban tuyên truyền vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát cho thương binh nghe.

Cuối năm 1946, Trần Văn Khê về Sài Gòn vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh văn. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, vì các hoạt động yêu nước, Trần Văn Khê bị thực dân Pháp bắt giam tại khám Catinat. Sau khi được trả tự do, năm 1949, Trần Văn Khê cùng một số bạn rời Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn” vừa đi du học. Ông ra đi với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng làm “phóng viên” với các báo kể trên. Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều nghề.

Suốt thời gian từ 1949 – 1951, ông viết mục “Điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều, viết du kí, phóng sự cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Sau đó, Trần Văn Khê thi đỗ vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po và tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch quốc tế sau hai năm miệt mài học tập và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Sau khi tốt nghiệp, ông phải đi điều trị bệnh và giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng.

Cuối năm 1954, ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris, Pháp. Để có tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc như thuyết trình về âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC, đóng phim, lồng tiếng… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một “thầy đờn” Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê và NSND Phùng Há. 

Về với cội nguồn

Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO. Ông không ngần ngại thừa nhận rằng, công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước.

Từ năm 1976 – 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng. Mỗi năm, ông dành ra 2-3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong nước. Những kiến thức bác học và cách thuyết trình tài hoa của GS.TS Trần Văn Khê đã gieo vào lòng nhiều thế hệ sinh viên tình yêu âm nhạc truyền thống và niềm tự hào về quê hương, dân tộc. Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước.

Gần nửa thế kỉ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở 67 quốc gia trên thế giới, GS.TS Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS.TS Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc.

Năm 2003, sau hơn nửa thế kỉ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS.TS Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn “Đại từ điển âm nhạc thế giới”, được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng “Vinh danh nước Việt”…

GSTS Trần Văn Khê có 4 người con. Hai con trai là GS.TS Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris và Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TPHCM. Hai con gái của ông là Trần Thị Thuỷ Tiên (sống tại Paris) và Trần Thị Thuỷ Ngọc (nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Nối nghiệp cha, GS.TS Trần Quang Hải (SN 1944) đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học năm 1973, đã trình diễn khoảng 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 65 quốc gia trên thế giới, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Châu Âu, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học trên thế giới, tham dự hơn 130 liên hoan âm nhạc quốc tế. Ông là người sáng tạo ra lối hát đồng song thanh độc đáo, là hội viên của 20 hội nghiên cứu nhạc học quốc tế; một chuyên gia về âm thanh học và âm nhạc dân tộc.

Ông được tặng thưởng Huy chương vàng của Hàn lâm viện Văn hóa Á châu (1986); Tiến sĩ Danh dự của International – Hoa Kỳ (1987); Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về đàn môi (1998 và 2002), vinh dự được Tổng thống Pháp Jacques Chirac tặng Bắc đẩu Bội tinh.

Kỳ cuối: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người làm sôi động cả Sài Gòn

http://laodong.com.vn/am-nhac/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-tu-lang-vinh-kim-toi-dai-hoc-sorbonne-phap-355020.bld

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc