Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 11 – Nói chuyện trên đất Mỹ

29/06/2015 20:24 GMT+7

TTO – Từ Việt Nam trở về Pháp, tôi có chuyến đi Mỹ theo lời mời của trường Đại học Connecticut.

GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 – Ảnh: tư liệu

Cháu Trần Thắng, sinh viên trường Đại học Connecticut, ra đón tôi tại phi trường vì lúc đó tôi đi đứng cũng còn hơi khó khăn. Cháu Thắng sắp tốt nghiệp kỹ sư đồng thời phụ trách một tờ báo tiếng Việt chuyên về văn hóa Việt Nam có tên là “Nhịp sống”. Mặc dầu trường đại học đứng ra mời tôi nhưng từ việc tiếp đón đến nơi ăn chốn ở đều do Hội sinh viên Việt Nam tại Connecticut lo liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Nhà trường tổ chức cho tôi nói chuyện hai buổi, buổi đầu tiên thuyết trình bằng tiếng Anh vào lúc 5 giờ chiều trước các giáo sư, sinh viên Mỹ và Việt Nam tại giảng đường lớn của Đại học Connecticut. Sau bữa ăn nhẹ do sinh viên chiêu đãi là buổi họp thứ nhì tại một phòng khác bắt đầu từ 9 giờ tối với khoảng sáu bảy chục sinh viên Việt Nam để tôi nói chuyện bằng tiếng Việt và các em đặt câu hỏi. Cả hai buổi nói chuyện đều do cháu Thắng liên hệ sắp xếp, có mời cả sinh viên từ Boston qua.

Khi các cháu đưa tôi đến trường đại học 15 phút trước khi buổi nói chuyện bắt đầu, tôi ngạc nhiên nhìn thấy nhiều xe tải chở những người Mỹ mặc quần áo theo kiểu quân đội đang bắt đầu nổ máy rời khỏi nơi này. Tôi hỏi cháu lái xe:

– Có chuyện gì mà lính tráng đông quá vậy cháu?

Cậu cười nói:

– Đó là những cựu chiến binh Mỹ tập hợp lại đây định “đánh” bác, nhưng khi thấy bác tới họ bỏ chạy hết trơn!

– Chắc là cháu nói đùa?

– Dạ phải, cháu nói đùa. Thật ra thì có vài chục sinh viên Việt Nam chống lại việc bác tới đây nói chuyện. Những người này thường liên hệ với các cựu chiến binh Mỹ nên đã đến vận động họ ủng hộ sinh viên, lấy lý do là biểu tình chống lại buổi nói chuyện tuyên truyền cho cộng sản tại Đại học Connecticut. Một số cựu chiến binh Mỹ nghe vậy bèn huy động mấy xe cam-nhông chở ba bốn chục người tới trước cổng trường.

Nhà trường cử người ra gặp và cho họ biết người thuyết trình hôm nay là một nhà nghiên cứu âm nhạc người Việt sanh sống tại Pháp, dạy học tại Đại học Sorbonne, được mời qua nói chuyện về âm nhạc chớ không dính líu gì đến chánh trị. Nghe vậy mấy ông cựu chiến binh cho là việc đó không liên quan gì đến họ nên bỏ về.

Tuy mọi việc đã được giải quyết êm thấm nhưng tôi cũng cảm thấy buồn. Các cháu trong Ban tổ chức hỏi:

– Đám phản đối bác bây giờ bơ vơ rồi, không còn ai ủng hộ hết mà họ cũng e ngại không dám vô vì đã tính phá buổi nói chuyện nhưng thất bại. Theo bác mình nên mời họ vô nghe không?

Tôi đáp:

– Bác nghĩ rằng nên lắm chớ.

Ban tổ chức bèn ra mời và đa số những người này cũng vô nghe. Tôi nói chuyện âm nhạc bằng tiếng Anh có minh họa, cuối buổi toàn thể giáo sư và sinh viên nồng nhiệt vỗ tay và đến gặp ngỏ lời khen ngợi. Đến phần giao lưu, cháu Thắng yêu cầu chỉ đặt những câu hỏi về âm nhạc và văn hóa mà không đề cập đến chánh trị. Thính giả phía cuối phòng lao nhao phản đối, tôi bèn nói:

– Trên cương vị một diễn giả, tôi đề nghị Ban tổ chức cứ để cho thính giả đặt bất cứ câu hỏi nào. Tùy câu hỏi, tôi có quyền trả lời hay không.

Ngoài những câu hỏi về xuất xứ của ca trù, quan họ, có thêm một số câu hỏi đặc biệt về chánh trị, xã hội, chẳng hạn như:

– Trong những chuyến về nước giáo sư có nhận thấy đời sống người dân Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Tất nhiên tôi có nhận thấy những điều đó.

– Vậy thì liệu giáo sư có thể điềm nhiên lo việc nghiên cứu âm nhạc, mặc kệ người ta khổ hay không?

Tôi trả lời:

– Dân tộc Việt Nam đang gặp những khó khăn về nhiều phương diện, nhưng đó là cái khó chung cho tất cả những đất nước vừa ra khỏi chiến tranh do bị bủa vây về chánh trị lẫn kinh tế. Điều đó tất cả mọi người đều ý thức được và dĩ nhiên tôi cũng nhận thấy rất rõ. Tuy nhiên quan điểm của tôi là mỗi người tùy ở vị trí và khả năng của mình mà đóng góp với đất nước. Các chánh trị gia có nhiệm vụ lo cho chánh trị hoàn hảo hơn, chuyên viên kinh tế góp sức mình trong việc nâng cao đời sống người dân còn tôi là nhà văn hóa, tôi góp phần mình trong việc phục hồi và bảo vệ nền nghệ thuật dân tộc.

Họ hỏi tiếp:

– Vậy ông đã làm được những gì?

– Tôi may mắn được thường xuyên trở về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng, gìn giữ cái hay cái đẹp cho thế hệ mai sau. Rồi tôi đem tiếng nhạc lời ca của đất nước đến với bạn bè năm châu bốn biển, làm tròn nhiệm vụ của một nhà nghiên cứu là bảo vệ những di sản văn hóa – âm nhạc của dân tộc, không phải chỉ ghi chép trong băng từ mà còn kêu gọi gìn giữ trong lòng người và trong nếp sống của xã hội.

Đồng thời tôi nỗ lực chống lại tệ nạn vọng ngoại, tôn sùng phương Tây, gột bỏ tự ti mặc cảm để giữ gìn bản sắc dân tộc và tận dụng mọi cơ hội để Việt Nam được góp mặt trên trường quốc tế. Kết quả cụ thể là tôi đã góp sức làm sống lại Ca trù miền Bắc, nhạc Cung đình miền Trung, Hát bội miền Nam và cả lối hát Chầu văn, Múa rối nước. Làm được một việc cũng đủ vui rồi, nhưng tôi có may mắn thành công trong nhiều việc. Đó là về phần của tôi, nhân đây cũng xin hỏi lại một câu, các bạn có nhận thấy dân tộc Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Có chớ!

– Các bạn đã làm gì để giúp cho đất nước mình?

– Chúng tôi vận động kêu gọi lập nên phong trào kháng chiến trong nước.

– Vậy từ lâu nay điều các bạn làm đã đem lại kết quả tốt đẹp nào cho đất nước chưa?

Không ai trả lời được. Buổi tối, khi chỉ còn lại các sinh viên trong nhóm ủng hộ tôi, các cháu nói:

– Hồi chiều có nhiều câu hỏi khó mà bác trả lời rất hay làm tụi cháu thỏa mãn. Hiện giờ năm sáu chục người ngồi trước mặt bác toàn là tiến sĩ và kỹ sư, bác có nghĩ tất cả chất xám này là sức mạnh và vốn quý của dân tộc Việt Nam hay không?

Tôi cười và nhẹ nhàng trả lời:

– Các cháu chỉ nói đến chất xám không thì chưa đủ. Chất xám đó nếu đi đôi với con tim Việt Nam thì quý vô cùng. Còn ngược lại nếu chất xám đó đi đôi với những trái tim vọng ngoại thì chẳng những không giúp ích gì cho Việt Nam mà có khi còn bất lợi cho đất nước.

Một số cháu hỏi:

– Nếu muốn đóng góp với đất nước, theo bác chúng cháu nên về liền ngay lúc này, hay thủng thẳng sẽ về, nên về ở luôn trong nước hay chỉ ở ngắn hạn?

Tôi thành thật nói với các cháu:

– Không bao giờ bác dám khuyên người khác phải làm điều gì bởi mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Bác chỉ mong tất cả chúng ta nên giữ một trái tim Việt Nam, thương đất nước và con người Việt Nam, chính điều đó sẽ giúp mỗi người trong các cháu tìm được cách tốt nhứt để góp phần mình cho đất nước.

Mấy năm sau đó trong số những sinh viên này có sáu bảy người trở về tham gia tích cực vào các chương trình trong nước, đặc biệt riêng cháu Thắng về rất nhiều lần.

Sau đó tôi đi California thăm một người bạn rất quý là em Nguyễn Thị Đoan. Em vốn là học trò cũ của tôi từ năm 1948, từ biệt nhau năm 1949 khi tôi rời Việt Nam qua Pháp, rồi tái ngộ vội vàng năm 1976 tại Sài Gòn. Mãi đến cuối năm 1993 thầy trò gặp lại bên Pháp nhân dịp em Đoan từ Mỹ qua Paris thăm thân nhân. Kể từ đó có cơ hội thơ qua tin lại với nhau, mỗi dịp hè em đều sang Pháp chơi để tìm hiểu thầy cặn kẽ hơn.

Em Đoan định cư tại Mỹ từ năm 1978 và sống với đứa con trai út tại vùng Huntington Beach bang California. Đây là lần đầu tiên tôi đến chơi nhà em tại một biệt thự riêng xinh xắn. Trong nhà bày biện đâu đó rất vén khéo, phòng khách treo nhiều tranh đẹp, trên lò sưởi có những bức tượng Trung Hoa và nhiều bình cổ rất quí.

Chúng tôi đi viếng các nơi, ăn uống nhiều tiệm rất ngon. Đồng thời tôi cũng đến thăm Phạm Duy, được xem dĩa CD ROM trường ca “Con đường cái quan” rất hay với nhiều hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Đến Mỹ gặp mùa Phật đản, tôi được hòa thượng Thích Mãn Giác, vị sư trụ trì tại một ngôi chùa Việt Nam vùng Los Angeles, mời tới nói chuyện về cách tán tụng trong truyền thống Phật giáo Việt Nam. Bằng lời văn chải chuốt đầy chất thơ, hòa thượng giới thiệu tôi rất nồng hậu với các Phật tử từ Santa Anna, San Jose và Los Angeles đến dự. Mọi người chăm chú nghe và đặt nhiều câu hỏi rất hay, chẳng hạn như: “Có thể tán tụng bằng tiếng Việt chớ không dùng tiếng Hán Việt hay không?” hoặc: “Thiền vị trong âm nhạc là gì?”.

Tôi trả lời:

– Các đệ tử ghi lời Phật dạy bằng tiếng Phạn, tiếng Pali, Phật tử tại Trung Quốc dịch ra tiếng Hán, do đó chúng ta cũng có thể dịch ra tiếng Việt.

Tôi đưa ra thí dụ cách tán theo hơi Thiền câu “Hỏa diệm hóa hồng liên” và “Núi lửa biến thành bông sen hồng”: cả hai câu đều có thiền vị như nhau.

Một số Phật tử muốn biết về thiền vị trong âm nhạc, tôi thoái thác vì lúc đó đã hơn hai giờ rưỡi chiều, nhiều người đang nghĩ đến việc trở về vì sợ trễ xe, khí hậu lại đang lúc nóng bức. Hơn nữa chùa ở gần đường xe chạy, tâm của người nghe cũng như người giảng đều không định. Tôi xin hẹn một dịp khác có điều kiện thuận tiện hơn sẽ minh họa bằng bản Nam xuân cách đờn có thiền vị.

Tưởng nói như vậy là có thể kết thúc các buổi nói chuyện, không ngờ em Đoan sốt sắng liên lạc với vị sư tại chùa Liên Hoa cũng tọa lạc trong quận Cam (Orange County) để tổ chức buổi gặp gỡ tiếp sau đó và mời Phật tử nào thích nghe nhạc có thiền vị đến dự.

Nơi này xa đường xe qua lại, buổi nói chuyện tổ chức vào lúc 8 giờ tối, khí trời mát mẻ, tâm của tôi và của thính giả đều ổn định, không nôn nao nghĩ đến chuyện ra về. Hôm đó bác sĩ Huyến giới thiệu tôi, em Đoan ngồi ghi âm, có độ 80 Phật tử ngồi chăm chú nghe.

vbTôi đờn bài Nam xuân theo hai phong cách, trước tiên đờn bình thường cho thính giả thưởng thức âm điệu rồi mới đờn với thiền vị và thính giả đã lắng nghe với thiền tâm. Buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam hôm đó kết quả rất tốt.

Không ngờ hai năm sau cũng tại ngôi chùa này, tôi dự lễ thất tuần cầu siêu cho em Đoan.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

**************

Kỳ 12: Họa vô đơn chí

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 12 – Họa vô đơn chí

30/06/2015 08:11 GMT+7

TTO – Năm 1996 tôi về Việt Nam để tham dự buổi lễ long trọng kỷ niệm 75 năm ngày sanh Lưu Hữu Phước (12/9/1921 – 12/9/1996).


			GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy – Ảnh: tư liệu

Mỗi lần về nước tôi đều có những buổi nói chuyện ở nhiều nơi và có cảm giác rằng càng ngày người nghe càng thấm thía hơn. Đặc biệt năm 1996 anh Huỳnh Văn Tiểng và ban giám đốc Bảo tàng viện Cách mạng mời tôi đến nói chuyện về một đề tài nóng hổi là “Dân tộc và hiện đại”, có ban nhạc Phù Đổng, nhóm Tiếng hát quê hương cùng cháu Hải Phượng minh họa, có quay phim video để dành làm tư liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6: Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tất cả những cuộc tiếp xúc trong nước đã giúp tôi sưu tập được rất nhiều tư liệu hình ảnh, băng video, băng ghi âm. Tôi như con kiến cặm cụi tha từng hột gạo đem về chất đầy ổ với lòng mong mỏi rằng những hột gạo đó sẽ được dịp nuôi dưỡng thế hệ mai sau.

Khi trở về Pháp tôi có hơi mệt, lần lần việc đi đứng bắt đầu thấy khó khăn nên phải đến gặp các chuyên gia để khám bệnh. Bác sĩ cho biết tôi bị lệch cột sống, hai khớp xương số bốn và số năm bị lệch chận lên dây thần kinh từ chân lên não, khiến cho não không điều khiển được chân trái làm phản xạ mất đi, chẳng những ảnh hưởng đến việc đi đứng mà cử động cũng khó. Bác sĩ chuyên môn nhận định phải mổ nên gởi tôi tới một chuyên gia giải phẫu, ông này cũng kết luận bắt buộc phải mổ và cho biết:

– Trước khi giải phẫu, cứ mỗi tuần phải lấy máu của ông một lần dự trữ để đến khi mổ vô máu cho ông. Ca mổ kéo dài ít nhứt từ năm đến sáu tiếng đồng hồ, bởi vì ngoài việc lệch cột sống ông còn bị thêm vài vấn đề nho nhỏ phải giải quyết luôn trong khi mổ.

Tôi tìm đến vị chuyên gia thứ ba thì ông nói:

– Nếu tập trung chữa trị một lần e ông chịu không nổi, nhưng việc phải mổ là không thể tránh khỏi rồi. Tôi đề nghị trước hết lo chữa trị cho ông đi đứng bình thường rồi tính tiếp. Nhưng mổ xong ông cũng phải nằm yên trong vòng 5 tháng không được đi đâu.

Tôi nghe vậy thấy không ổn bèn tiếp tục hỏi ý kiến các giáo sư bác sĩ danh tiếng khác, từ người chuyên theo dõi về thận của tôi đến bác sĩ chữa bệnh tiểu đường. Những vị này cho rằng:

– Nếu ông 40 tuổi mới nên mổ chớ ông gần 80 rồi thì phải xem lại. Dĩ nhiên nếu mổ thành công ông sẽ đi đứng bình thường như xưa, nhưng ở tuổi này ông đâu có cần nhảy đầm hay chạy đua với ai, thôi thì nếu chân ông đi chậm một chút cũng không sao. Chúng tôi khuyên ông nên tìm hỏi kỹ những chuyên gia về thấp khớp xem có cách nào khác không?

Trở lại gặp bác sĩ giải phẫu, ông nói nếu không mổ thì sáu tháng nữa chân trái sẽ liệt, một năm sau đến phiên chân mặt và hai năm sau đường tiểu tiện không hoạt động được nữa. Tôi thấy viễn ảnh quá bi đát nhưng có ba người giáo sư vẫn quan niệm:

– Tôi khuyên không nên mổ, bởi vì thứ nhứt ông lớn tuổi rồi, thứ nhì ông bị tiểu đường nên vết thương sẽ lâu lành, thứ ba ông đã uống 17 tháng cortisone nên xương ông không còn chắc lắm đâu, khi mổ phải đục xương không lường trước được hậu quả sẽ ra sao! Mặt khác những chuyên gia giải phẫu giỏi nhứt cũng chỉ dám bảo đảm 60% thành công, như vậy là có tới 40% thất bại. Mà nếu ca mổ không thành công tình trạng sức khỏe sẽ càng trầm trọng hơn trước!

Sau khi tham khảo ý kiến của tổng cộng 9 vị giáo sư bác sĩ, tôi quyết định dứt khoát không mổ. May mắn lúc đó người bác sĩ coi về bệnh tiểu đường giới thiệu cho tôi đến gặp một nữ bác sĩ tên Rozenberg, nổi tiếng về những cách điều trị khác thường mà hiệu quả. Vậy là tôi gom hết toàn bộ hồ sơ bệnh án tới gặp bà. Tôi ngạc nhiên khi gặp một người trẻ tuổi, cách nói chuyện dễ thương nhẹ nhàng. Nhìn đống giấy tờ phim ảnh rọi kiếng của tôi đưa ra bà cười nói:

– Tôi trị bệnh cho ông chớ có trị cho mấy tấm hình này đâu mà ông đưa cho tôi làm chi!

Có nghĩa là bà không như mọi bác sĩ khác đòi hỏi phải có đầy đủ các xét nghiệm mới điều trị. Bà chỉ khám cột sống, nhận xét khớp xương bị lệch rồi biểu tôi đi một hai bước cho bà quan sát. Sau cùng bà nói:

– Chân ông đang đau, mỗi bước cử động đã khó khăn rồi. Bây giờ tôi đề nghị cách điều trị này: ông vô nằm nhà thương một tuần lễ, tôi sẽ tiêm thuốc ngay vô tủy của ông làm cho êm thần kinh để ông có thể đi chầm chậm rồi sẽ bắt đầu tập luyện. Ông phải chịu khó tập trong một năm rưỡi mới có kết quả, chừng đó chân ông đi không phải do não điều khiển mà do tự ông nhấc chân đi. Ông sẽ không đi xa được nữa nhưng vẫn có thể đi được và nếu kiên nhẫn tập luyện thì có lẽ bệnh trạng của ông cũng có thể giải quyết được.

Nghe bà nói tôi thấy nhẹ người, 10 ngày sau sẵn sàng nhập viện, phó thác số mạng trong tay bà. Bà bác sĩ nói:

– Tôi sẽ cố gắng chăm sóc ông nhưng ông cũng phải hứa với tôi là hết sức kiên trì tập luyện.

Trong một tuần lễ, bác sĩ tiêm cho tôi mỗi ngày hai mũi ngay vô tủy thì rõ ràng chân bớt đau, có thể cử động, đi tới lui chút đỉnh được. Từ đó bắt đầu chuỗi ngày tập luyện trong suốt một năm rưỡi, ban đầu có người phụ giúp rồi lần lần tự tập một mình.

Những ngày đầu thật hết sức vất vả, tôi đứng đã khó khăn nhưng bị bắt phải nhón chân lên, mỗi ngày ráng thêm một chút cho tới khi nhón lên xuống được mười cái mới được coi là có kết quả. Sau mấy tháng trời bắt đầu tập bước trên máy giống như đi thang lầu. Ngày đầu đi được vài mươi nấc đã đuối sức, lần lần cố lên ba, bốn rồi năm, sáu chục nấc, cho tới khi được 100 nấc là cả một kỳ công! Rồi phải đạp xe, ban đầu đạp ít sau đó đạp lâu hơn. Thời gian đầu nhìn trên bảng thấy đạp được vài trăm thước đã đổ mồ hôi hột, cả tháng trời mới lên được vài cây số. Cố gắng giữ mức đó mà rút ngắn thời gian, được kết quả tốt lại ráng đạp lên đến năm cây số. Sau đó phải đội trên đầu một ký lô rồi tăng lần lên hai ký, cố làm sao để đừng cho rớt mà cổ mình chịu đựng được. Cứ vậy ngày qua ngày tôi kiên nhẫn bền chí tập luyện.

Tại các thiền viện Phật giáo, các thiền sinh học thuộc lòng những bài kệ để luyện cách tập trung tư tưởng. Tôi cũng tự đặt ra những câu kệ phù hợp với hoàn cảnh để đem lại niềm vui cho mình trong lúc luyện tập:

Ta tự căng cột sống

Sắp lại các khớp xương

Thần kinh thông bất thống

Ta đi đứng như thường

Khi đọc câu đầu, tôi tưởng tượng các cột sống của mình đang căng ra, đọc câu thứ hai tôi nhắm mắt hình dung hai khớp xương chệch nhau đang từ từ xích lại. Cứ đọc hết bốn câu thì làm xong bốn động tác, mỗi lần tập phải đủ 25 lần tức 100 động tác.

Mỗi khi đội vật nặng tập bước lên thang lầu tôi tưởng tượng mình là người Ấn Độ đội thúng đi bán bánh, tôi vừa bước vừa giả giọng người Ấn rao: “Bánh rế bánh cay đây”, nhờ vậy mà thấy vui vui nên đỡ nản lòng.

Ngồi trên xe đạp tôi lẩm nhẩm mấy câu thơ tự trào:

Ta ngồi trên xe đạp

Trông có vẻ thảnh thơi

Đạp đi vòng nước Pháp:

Xe vẫn đứng một nơi!

Khi bắt đầu tập đứng một chân, chỉ mới một giây tôi đã té xuống, tôi kiên trì tập hoài cho đến lúc đứng được năm sáu giây. Bà bác sĩ khuyến khích:

– Chỉ cần ông đứng vững trong vòng ba bốn giây là có thể nhấc chân kia lên để bước đi, lần lần như vậy ông sẽ có thể đi xa hơn.

Quả nhiên thời gian đầu tôi chỉ đi được quãng đường mười thước, cố gắng lắm mới được hai mươi rồi ba mươi thước. Sau đó tôi có thể đi chừng 200 thước mới phải ngồi nghỉ. Sau vài năm tôi đi được tới 500 thước, điều đó khiến tôi phấn khởi vô cùng vì thấy nỗ lực của mình có được kết quả.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

******************

Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 13 – Kiếp tằm vẫn nhả tơ

30/06/2015 17:13 GMT+7

TTO – Bước vào năm 2000, ở tuổi 80 tôi may mắn vẫn còn đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc và chưa có năm nào tôi về nước nhiều lần như trong năm ấy.

GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò - nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách - Trần Văn Khê - người truyền lửa năm 2013 - Ảnh: T.Huệ
GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò – nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách – Trần Văn Khê – người truyền lửa năm 2013 – Ảnh: T.Huệ

Tháng 3 tôi về Sài Gòn để dạy tại Đại học Hùng Vương tới tháng 4 mới trở qua Pháp. Lần này tôi cũng được Ban giám đốc khách sạn Majestic ưu ái dành cho căn phòng 326 như mọi khi.

Ngoài ra tôi còn được mời giảng tại nhiều nơi. Trường Đại học Văn Lang mời tôi dự lễ kỷ niệm 5 năm thành lập, tiếp đãi rất trọng hậu và sau đó tôi giảng một buổi tại nhà trường, sinh viên tới nghe rất đông, có cả chị luật sư Nguyễn Phước Đại và các giáo sư trong trường đến dự.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tôi còn có những buổi nói chuyện tại Đại học Văn Hiến, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư phạm, Nhạc viện trước đông đảo người nghe là thanh niên. Nói chuyện với lớp trẻ là điều tôi luôn thích thú vì được dịp truyền lại cho thế hệ mai sau những điều mình thiết tha mong muốn gìn giữ, mong các em tiếp nối được những công việc mình chưa làm được.

Năm 2000 tôi may mắn gặp được thầy Lệ Trang tại chùa Viên Giác, một người thông hiểu tường tận về cách tán tụng theo phong cách miền Nam. Từ trước đến nay khi nghiên cứu về cách tán tụng trong nhạc Phật giáo tôi được các thầy như thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Châu giảng theo phong cách miền Trung. Miền Nam thì tôi chỉ biết cách tán tụng của thầy cúng mà chưa lần nào nắm được cách tán tụng trong chùa theo kinh nhựt tụng hoặc trong các cuộc lễ như Vu lan hay chẩn tế.

Thầy Lệ Trang tổ chức một buổi mời các vị sư hội lại, có cả dàn nhạc lễ, nhờ vậy lần đầu tiên tôi biết thêm được nhiều cách tán tụng của miền Nam. Thầy giải nghĩa những nghi thức của buổi chẩn tế, từ tiểu đàn, trung đàn đến đại đàn. Tôi được dự một buổi lễ trung đàn từ đầu đến cuối, từ lúc niệm Phật, niệm hương rồi thầy Lệ Trang mặc áo cà sa, đội mão tỳ lư lên đăng đàn, vừa tán tụng vừa bắt ấn liên tục trong mấy tiếng đồng hồ. Đặc biệt lúc đó nét mặt thầy trông hiền hòa thanh thản giống như trong tranh vẽ Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau mấy tiếng đồng hồ tập trung tư tưởng niệm kinh bắt ấn, thầy đến bên tôi ngồi nói chuyện với nụ cười trên môi, không lộ vẻ mệt mỏi chi cả. Tôi thấy rằng điều đó rất lạ lùng mà một người bình thường không sao có thể làm được.

Ngoài ra tôi được mời nói chuyện về âm nhạc trước những vị chức sắc và những người nghiên cứu đạo Cao Đài gồm cả nam lẫn nữ. Nam giới ăn mặc chỉnh tề áo dài trắng bịt khăn đóng, phía nữ tất cả đều mặc áo dài, sau khi nói chuyện về âm nhạc tôi được mời ăn bữa cơm chay thịnh soạn và rất ngon.

Tôi cũng dự một buổi lễ đặc biệt mà phải gặp cơ duyên mới được dự, đó là ngày kỷ niệm Thánh mẫu Liễu Hạnh hiển thánh.

Bà chúa Liễu Hạnh là người đã tạo ra trường phái về Tam tòa Tứ phủ trong Chầu văn tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Từ xưa đến nay một số đông người thường cho rằng “lên đồng” là việc làm mê tín dị đoan mà không chú ý đến mặt xã hội học của hình thức tín ngưỡng này. Nếu Đức Thánh Trần (tức Trần Hưng Đạo Đại vương) là người được dân gian tôn sùng là bực thánh nhân thì về phía nữ, bà chúa Liễu Hạnh cũng là một nhân vật hiển thánh được người dân tôn thờ. Trong khi đạo Phật xuất xứ từ Ấn Độ, đạo Khổng và đạo Lão là của Trung Quốc, Thiên Chúa giáo từ Jérusalem du nhập vào nước ta thì tín ngưỡng Chầu văn hoàn toàn là của người Việt Nam.

Vào ngày 26 tháng 2 âm lịch năm Canh Dần (31/3/2000) tất cả các đền ở miền Nam hội lại tổ chức một lễ thật lớn tại Thủy Lâm Động (thuộc huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai). Tôi được anh Trường Duy, một người không chỉ thông hiểu Chầu văn mà còn biết rất nhiều về nhạc mới, đưa tới đến Thủy Lâm động.

Đây là chuyến đi vô cùng bổ ích đối với tôi vì được dịp chứng kiến tất cả nghi thức của một buổi hát văn, hầu gia. Tôi ghi âm ghi hình lại toàn bộ để đem về nghiên cứu. Lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt cảnh một bà cụ đã ngoài 70 mà lên một lượt mười mấy giá, mỗi giá kéo dài khoảng gần mười phút, phải nhảy múa, phải thay xiêm đổi áo nhiều lần, hết múa đuốc rồi lại múa thanh long đao, múa kiếm. Mỗi lần cụ phát lộc thì người ngồi bên ngoài được thưởng tiền. Sau khi hầu giá hơn hai tiếng đồng hồ, bà cụ vẫn khỏe khoắn như thường!

Bên lãnh vực truyền hình tôi tham gia trong chương trình của Phan Thao, trình bày về những nhạc cụ nhạc khí Việt Nam đặc biệt là cây đờn bầu, có cháu Hải Phượng và nhóm Tiếng hát quê hương biểu diễn. Lần đó Phan Thao cũng giới thiệu một đoạn phim ghi hình buổi tôi giới thiệu đờn bầu tại Canada có Đức Thành đờn minh họa.

Ngoài ra Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếu phim tư liệu dài khoảng 30 phút về chân dung của tôi do hai cháu Việt Bình và Việt Oanh dàn dựng. Tôi vô cùng cảm động và cho rằng phim này thành công về mặt hình ảnh cũng như âm thanh mà nhứt là lời thuyết minh, trong vòng nửa giờ đồng hồ đã phác họa lại toàn bộ cuộc đời của tôi. Sau hôm đó đài còn chiếu lại lần nữa tại Cung văn hóa lao động rồi tổ chức cho tôi giao lưu với khán giả.

Ít có khi nào về Việt Nam trong thời gian rất ngắn mà tôi làm được nhiều việc như chuyến đi này, đem lại cho tôi nhiều niềm vui, thỏa mãn ước mơ, lại có dịp tìm hiểu rất sâu sắc về mặt tôn giáo, mở rộng thêm kiến văn của tôi về tán tụng Phật giáo, biết được cặn kẽ về Chầu văn. Hai tháng đó có giá trị bằng bao nhiêu năm đọc sách và học tập.

Trở lại Pháp vào cuối tháng 4, đến tháng 7 tôi lại về nước cùng với đoàn Vật lý thiên văn do Trần Thanh Vân tổ chức lần thứ hai. Các đại biểu từ ba bốn chục nước khác nhau họp tại Hà Nội để bàn về những vấn đề vật lý năng lượng cao và vật lý thiên văn. Lần này có thêm mấy đề tài nhỏ chẳng hạn về trồng trọt, có đại diện Khoa nông nghiệp các trường đại học ở Cần Thơ, Thái Bình về dự và có những buổi nói chuyện về lãnh vực này.

Mục đích chánh tôi đi theo đoàn là để tổ chức một đêm văn nghệ ngắn gọn trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ tập hợp đầy đủ những bộ môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam như ca, nhạc, múa, kịch. Từ bên Pháp tôi đã gọi điện thoại liên hệ với anh Võ Văn Quân, giám đốc Nhà hát chèo để thảo luận về một chương trình có đủ các tiết mục ca trù, chầu văn, trích đoạn hát chèo, múa bỏ bộ, độc tấu sáo, độc tấu đờn bầu, sắp xếp những tiết mục sao cho hấp dẫn. Khi tôi về đến Việt Nam thì ngày hôm sau là tổng dượt tại Nhà hát chèo, các anh chị em trong đoàn chèo từ diễn viên đến dàn nhạc đều nỗ lực biểu diễn thật xuất sắc.

Lần đó tôi rất buồn vì trước đây đêm đêm Nhà hát chèo vẫn còn mở màn biểu diễn nhưng nay cơ sở xuống cấp đến nỗi không còn có thể sử dụng để công diễn được nữa. Trần Thanh Vân và tôi cùng nhau đi xem một vài chỗ khác nhưng nhận thấy không đủ khang trang để dùng làm nơi trình diễn cho khách nước ngoài. Rốt cuộc chúng tôi đành phải xin thuê tại Nhà hát lớn với giá một đêm lên đến gần 20 triệu đồng, nhưng nhờ sự can thiệp của anh Võ Văn Quân và sự thông cảm của ban giám đốc Nhà hát, khi nghe nói buổi biểu diễn này do tôi giới thiệu âm nhạc cho phái đoàn khách nước ngoài nên có giảm được phần nào.

Trước giờ mở màn, khi đứng trên sân khấu thử ánh sáng, bỗng nhiên tôi chợt nhớ lại gần 60 năm trước, tức vào năm 1941, khi còn là một sinh viên trường Thuốc tôi cũng từng đứng tại đây giới thiệu 3 tiết mục hò cấy của Bến Tre, hò mái nhì trên sông Hương và cò lả tại Hội lim miền Bắc bằng tiếng Pháp cho người Pháp lẫn Việt vốn là thầy, bạn trong trường và một số quan khách.

Mới ngày nào tôi còn là thanh niên đôi mươi mà giờ đây đã là một giáo sư già xấp xỉ bát tuần. Tôi xúc động trào nước mắt, đứng im lặng mấy phút trong khi ánh đèn sân khấu rọi vào mặt mà không nói nên lời, cho đến khi có người nhắc nhở tôi mới sực tỉnh. Có một sự khác biệt lớn, lần này tôi không chỉ giới thiệu bằng tiếng Pháp mà cả tiếng Việt và tiếng Anh, không phải cho những người Pháp mà cho rất nhiều đại biểu trên thế giới và không chỉ giới thiệu 3 tiết mục đơn sơ do những nghệ sĩ nghiệp dư trình bày mà là một chương trình được chuẩn bị công phu do những nghệ sĩ chuyên nghiệp, ưu tú và tài năng biểu diễn.

Trước khi kết thúc hội nghị Vật lý thiên văn, anh Trần Thanh Vân mời phái đoàn dự một bữa tiệc lớn tại khách sạn Horizon và nhờ tôi trả lời một số thắc mắc của các đại biểu về âm nhạc dân tộc. Tôi nhận lời, mượn vài nhạc khí của Viện nghiên cứu Âm nhạc để minh họa khi cần. Hôm đó rất vui, mọi người đặt nhiều câu hỏi về tiết tấu, thang âm, điệu thức, tôi nói chuyện có đờn minh họa và ngâm thơ.

Buổi tối sau khi tan tiệc ông Nguyễn Văn Tạo, giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, ngỏ ý mời tôi đến nói chuyện tại nhà trường. Tôi sắp trở về Nam nên ông đề nghị tổ chức buổi nói chuyện ngay sáng hôm sau, tôi trả lời:

– Tôi sẵn sàng nhận lời nhưng bây giờ đã khuya, từ giờ đến sáng mai làm sao giáo sư tập hợp được mọi người?

– Không sao, đêm nay tôi báo tin thì ngày mai mọi người sẽ đến nghe giáo sư nói chuyện.

Điều tôi không ngờ là sáng hôm sau khi xe của nhà trường đưa tôi đến Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng họp đã đầy nghẹt người. So với những trường đại học trong miền Nam thì nơi đây rộng lớn hơn rất nhiều, tôi cũng rất vui khi có thêm người bạn là nhà thơ Huy Cận tới nghe. Bữa nói chuyện có kết quả tốt, nhà trường có ý mời tôi trở lại nói chuyện cho đông đảo sinh viên nghe nhưng đã đến lúc tôi phải về Sài Gòn.

Cuối tháng 7 tôi trở qua Pháp chuẩn bị cho chuyến về nước vào tháng 9 để chủ tọa cuộc liên hoan “Nhạc hội đàn Tranh châu Á lần thứ nhất” do Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, đồng thời dạy thêm một khóa tại trường Đại học Hùng Vương.

Cuộc liên hoan đờn tranh này tôi đã ao ước từ lâu vì muốn cho các cháu từng đoạt giải trong các kỳ thi “Tài năng trẻ đờn tranh” được dịp giao lưu với bên ngoài, gặp gỡ những nghệ sĩ đờn Koto Nhựt Bổn, Kayageum Triều Tiên, Gu Zheng Trung Quốc. Phạm Thúy Hoan mời được giáo sư Thum Soon Poon của Singapore và đoàn Nhựt Bổn, còn tôi liên hệ mời đoàn Nam Triều Tiên. Tổng cộng có 3 đoàn nước ngoài và đoàn Việt Nam tham dự nhạc hội.

Lực lượng tất cả các đoàn đều rất hùng hậu, phía Việt Nam giới thiệu 3 gương mặt trẻ đã đoạt giải nhứt cuộc thi đờn tranh là Hải Phượng, Vân Ánh và Thanh Thủy. Phạm Thúy Hoan là người phụ trách lo phối hợp mọi việc, tôi là cố vấn nghệ thuật kiêm chủ tọa Nhạc hội và điểu khiển buổi hội thảo.

Trong buổi hội thảo, đại diện mỗi đoàn trình bày về cây đờn của dân tộc mình. Phía Việt Nam có hai bài tham luận, một của anh Nguyễn Văn Đời, giáo sư dạy đờn tranh tại Nhạc viện và một của Phạm Thúy Hoan.

Điểm lý thú là mỗi nhạc cụ có một phong cách, cách đờn và nét đặc thù riêng, nhưng tất cả đều từ một nguồn gốc là cây đờn Cổ tranh xuất hiện từ đời nhà Tần bên Trung Hoa. Đến thế kỷ thứ VI vua Kasil của Triều Tiên dựa theo đờn Cổ tranh mà tạo ra cây đờn Kayageum. Qua thế kỷ thứ VII (năm 672) bà Ishikawa Iroko của Nhựt Bổn gặp một đạo sĩ Trung Quốc đờn cây đờn rất lạ nên theo học rồi lập ra trường phái Tsukushi Goto tại miền Nam, sau một ngàn năm cây đờn đó biến chuyển thành cây đờn Koto như ngày nay. Còn đờn tranh của Việt Nam và Mông Cổ xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII. Tất cả những nhạc cụ chung nguồn gốc đó có phong cách đờn giống nhau là tay mặt khảy còn tay trái nhấn. Tuy cùng nguồn gốc và cùng một cách đờn nhưng lại mang nhiều sắc thái khác nhau, từ cách lên dây tới thủ pháp biểu diễn, đó chính là cái đẹp trong nghệ thuật vì nếu giống nhau hết thì không còn gì thú vị nữa.

Theo đánh giá của tôi, Nhạc hội đờn tranh tổ chức lần đầu tiên mà đạt được kết quả như vậy là tuyệt vời, đó là một cuộc giao lưu văn hóa rất bổ ích.

Tất cả các đoàn được sắp xếp ở chung trong khách sạn, được dự những cuộc du ngoạn xuống Tiền Giang, có những buổi biểu diễn chung, biểu diễn riêng, do đó các đại biểu đều hết sức vui vẻ và thích thú.

Sau đêm bế mạc, ngày hôm sau là đám cưới của Hải Phượng. Tiệc cưới tổ chức tại khách sạn Majestic mời mấy trăm quan khách. Đặc biệt tất cả 14 nhạc sĩ của phái đoàn Nhựt Bổn đều đặt may mỗi người một áo dài để mặc dự đám cưới nhìn rất dễ thương, sau khi tiệc tan đoàn Nhựt ra thẳng phi trường trở về nước ngay. Cuộc gặp gỡ này cho thấy tình cảm giữa những người nhạc sĩ rất chân thành và nồng nhiệt, là sợi dây tạo nên sự thông cảm giữa các dân tộc.

Sau khi Liên hoan đờn Tranh châu Á kết thúc tôi ra Hà Nội để dự một cuộc hội thảo rất lớn với đề tài “Việt Nam trong thế kỷ XX” bàn về đủ mọi phương diện chánh trị, kinh tế, văn hóa.

Cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp là ông Nguyễn Chiến Thắng phụ trách nội dung của hội thảo đã gởi thơ mời tôi tham dự. Tôi nhận lời và được sắp xếp vào Tiểu ban Văn hóa, vấn đề tôi đưa ra là suy nghĩ về bản sắc dân tộc Việt Nam và phát triển văn hóa như thế nào.

Trong cả hai lần về nước trong năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội tôi đều được dự buổi diễn vở kịch Lộ Địch của cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị. Đây là một vở bi kịch có giá trị nhân bản rất tuyệt vời phỏng theo tác phẩm Le Cid của Corneille (Pháp).

Cụ Ưng Bình sử dụng cốt chuyện của Le Cid mà sắp xếp những chi tiết sao cho phù hợp với tâm lý của người Việt lại hợp với sân khấu hát tuồng Việt Nam: lúc nào nói lối, lúc nào hát Nam, lúc nào hát khách, văn chương chải chuốt và lời thơ rất hay. Theo tôi đây là một kiệt tác đầu tiên đưa ra đường lối mới để phát triển nền hát tuồng của Việt Nam, được Nhà hát Đào Tấn ở Bình Định dàn dựng, đạo diễn là Hòa Bình, một nghệ sĩ ưu tú rất có tài, trẻ đẹp mà nhứt là có tấm lòng. Giáo sư tiến sĩ Thái Kim Lan – dạy Triết ở trường Đại học Munchen bên Đức – là người đứng ra tài trợ cho việc dựng lại vở tuồng để trình diễn trên sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Nhân dự hội nghị này tôi được dịp nghe dàn trống Thăng Long biểu diễn, sử dụng toàn bộ trống Việt Nam từ lớn đến nhỏ, không phải chỉ phong phú về số lượng mà cả về chất lượng. Có những trống đánh theo tiết tấu rất đơn giản trên đó lại thêu dệt thêm những tiết tấu khác phức tạp hơn, kết lại như đan giỏ và làm thành một bài rất đẹp. Đồng thời các động tác từ cánh tay đưa lên đánh xuống đến bước tới bước lui đều phỏng theo phong cách võ Việt Nam.

Đặc biệt trong chuyến ra Hà Nội vào tháng 9 có cháu Bảo Ngọc làm một đoạn phim tư liệu ngắn về chân dung của tôi để phát trên Đài truyền hình VTV3. Cháu mất hết 3 buổi đưa tôi đến Văn miếu, đến khách sạn nơi tôi ở để quay những sinh hoạt thường ngày, phỏng vấn tôi về quan điểm phát triển văn hóa, hỏi thăm đôi nét về chuyến đi Hà Nội.

Trong chuyến này, tôi có dịp đến thăm cụ bà Quách Thị Hồ. Hôm đó thân hữu tổ chức chúc thọ cho cả bà cụ và tôi, cụ 90 còn tôi 80 tuổi, có đủ mặt những người con, vài bạn bè và một số học trò của cụ Quách Thị Hồ. Khi tôi vừa bước vào, mọi người hỏi:

– Cụ còn nhớ Giáo sư Trần Văn Khê không?

Cụ không trả lời thẳng câu hỏi, chỉ nhìn tôi mà cất giọng ngâm:

Vô duyên đâu dễ chăng là

Có duyên nên khiến dù xa hóa gần

Đó là hai câu thơ trong bài cụ Trúc Hiền tặng tôi năm 1976. Ngừng một chút cụ lại ngâm thêm:

Đẹp lòng gặp lại cố nhân

Rồi nắm tay tôi lập lại ba lần “Cố nhân ơi! Cố nhân ơi! Cố nhân ơi”.

Tôi cầm tay cụ mà không cầm được nước mắt, nhớ lại con người tài hoa sắc sảo trước đây, nay tuy chỉ còn da bọc xương mà vẫn giữ được hơi ngâm, còn nhận ra người quen cũ để mà ngâm lên mấy câu thơ ngày xưa chứng tỏ tâm trí còn minh mẫn. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp cụ Quách Thị Hồ.

Đặc biệt năm 2000 tôi bắt tay vào việc viết hồi ký với sự cộng tác của “Trung tâm Hồi ký”.

Ý định ban đầu của tôi khi viết hồi ký là ghi chép lại một số công việc đã làm để cất giữ cho riêng mình, đến khi tôi trở về với cát bụi thì những hậu duệ còn sống sẽ tùy nghi phổ biến. Nhưng một vài bạn bè góp ý rằng như vậy lỡ có điều gì không được chính xác thì lúc đó tôi đã nằm yên dưới ba tấc đất làm sao có thể đính chánh được nữa! Tôi nghe vậy cũng hợp lý nên dự định sẽ cho xuất bản khi đang còn sống. Nhưng bắt đầu viết cả sáu bảy năm mà chưa xong một quyển, vì tôi chú ý cho công việc trước mắt nên ngày qua ngày không tập trung được, trong khi viết hồi ký đòi hỏi phải hồi tưởng lại dĩ vãng để hoàn thành một công việc cho tương lai.

Tình cờ các em trong “Trung tâm Hồi ký” chủ động đề nghị hợp tác với tôi để thực hiện hồi ký. Từ nay có cả một ban thơ ký lành nghề, ban biên tập chuyên nghiệp cộng tác nên tôi nhận lời và ưu tiên dành thời giờ cho việc thâu băng thực hiện hồi ký.

Em Lý Thị Lý – Trưởng điều hành Trung tâm – đích thân đến ghi âm. Em có cách nghe làm cho người nói chuyện rất thú vị, giống như đờn Bá Nha rót vô tai Chung Tử Kỳ. Mỗi tuần lễ tôi dành năm buổi để thâu băng. Thứ sáu thì chắc chắn lúc nào cũng là em Lý đến làm việc, những ngày còn lại có khi là em Doãn Phượng, có khi là Thanh Nga, toàn những người có tay nghề và biết cách nghe, nên từ cái chớp mắt, sự xúc động của các em đều làm cho người nói chuyện thấy hứng thú.

Khi tôi trở về Pháp thì bản thảo được chuyển qua email cho tôi sửa chữa trực tiếp trên máy vi tính rồi gởi trở lại để ban biên tập Trung tâm Hồi ký gọt giũa lời văn, cắt bớt những chỗ dư, những đoạn ý trùng lắp mà vẫn giữ được lối viết của tôi. Nói chung công việc rất nhiều nhưng với sự tổ chức chuyên nghiệp của Trung tâm Hồi ký nên công việc tiến hành rất mau, mặc dầu đôi bên ở cách nhau gần nửa vòng trái đất. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng hai năm tôi đã hoàn thành năm quyển hồi ký dày gần 2.000 trang.

Bản thảo cuối cùng được chuyển sang Công ty Văn hóa Phương Nam là nơi lo việc in ấn, xuất bản và phát hành các tác phẩm của tôi.

Tháng 10 năm 2000, trường Đại học Cần Thơ mời tôi xuống nói chuyện. Trần Thượng Tuấn, hiệu trưởng Đại học Cần Thơ chính là con nuôi của bạn thân tôi là Tạ Bá Tòng, nên xin phép được gọi tôi bằng chú. Tuấn hãnh diện hướng dẫn tôi đi xem hết mọi nơi, từ phòng vi tính trang bị rất nhiều máy cho sinh viên thực tập, đến nơi ăn ở của sinh viên nội trú, đặc biệt là đại giảng đường 1.300 chỗ ngồi, qui mô lớn hơn bất cứ trường đại học nào ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đáng nhớ nhứt là hai đêm tôi nói chuyện về những nét đẹp trong âm nhạc dân tộc tại Đại học Cần Thơ. Chưa bao giờ tôi nói chuyện với sinh viên mà thấy hứng thú bằng. Đại giảng đường mênh mông chật kín người, vậy mà còn mấy trăm em đứng bên ngoài. Ban tổ chức phải cho đặt thêm một màn ảnh lớn phía trước cửa. Hôm đó trời mưa lâm râm nhưng các em vẫn kiên trì đứng dưới mưa nghe đến phút cuối cùng.

Sau Cần Thơ thì tỉnh Tiền Giang cũng mời tôi đến nói chuyện với lớp tập huấn cán bộ của Nhà văn hóa các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Long An. Tại đây tôi gặp lại cháu Mai Mỹ Duyên người Tiền Giang, một phụ nữ đã khởi xướng việc hình thành 14 câu lạc bộ tài tử của Tiền Giang và Gò Công. Cháu Duyên đang làm tiểu luận án thạc sĩ về “Ca nhạc tài tử” dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tô Vũ nên trước đó có đến gặp tôi tìm hiểu về những nét đặc thù của nhạc cải lương tài tử.

Tôi rất cảm động khi gặp được một người trẻ tuổi mà có lòng say mê tìm hiểu âm nhạc, nên tuy không chuẩn bị trước mà tôi vẫn say sưa nói chuyện với cháu suốt ba tiếng đồng hồ, để cháu ghi âm ghi hình những điều cần biết trong truyền thống ca nhạc tài tử cải lương miền Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng.

Năm 2001, tôi về nước chủ yếu để dạy âm nhạc truyền thống cho hai lớp tại Đại học dân lập Hùng Vương, công việc mà tôi lúc nào cũng thích thú. Tôi không chỉ quan tâm đến việc đem lại kiến thức cho các em mà quan trọng hơn là hướng các em trở về với bản sắc văn hóa dân tộc.

Ngoài ra tôi cũng tham dự nhiều hội nghị. Sau nhiều năm tiếp cận mật thiết với các nghệ nhân nắm vững truyền thống trong nước, tôi có những thay đổi quan trọng trong cách đánh giá âm nhạc dân tộc. Sự đúc kết của tôi không còn lệ thuộc vào cách nhìn khách quan của phương Tây mà gắn liền với những quan điểm triết lý đời sống của người dân Việt.

Sang năm 2002, vào tháng 5 tôi được mời tham dự Festival Huế. Đây là một trong những sinh hoạt văn hóa tầm cỡ bao gồm nhiều chương trình lễ hội cộng đồng được tái dựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoài thành phố, góp phần làm sống lại các giá trị văn hóa của Huế. Festival chánh thức khai mạc hôm 4 tháng 5 tại quảng trường Ngọ môn, với sự tham gia của các đoàn nghệ thuật Việt Nam và 8 nước gồm Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Sau festival, tôi có viết bài nhận xét về một số ưu khuyết điểm trong việc tổ chức và dàn dựng các chương trình nghệ thuật gởi cho Ban tổ chức để rút kinh nghiệm cho các Festival kế tiếp, được tổ chức hai năm một lần.

Qua tháng 10, tôi có buổi nói chuyện về đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam” nhân cuộc họp mặt mang tên “Điểm hẹn Việt Nam” của tổ chức YPO (Young Presidents Organisation).

Tổ chức này qui tụ những tổng giám đốc, giám đốc có độ tuổi dưới 50 và đang điều hành các công ty xí nghiệp lớn có doanh số hàng năm trên 8 triệu USD. Việt Nam có 12 doanh nhân tuổi trẻ tài cao được gia nhập làm thành viên của YPO. Hàng năm YPO đều tổ chức cuộc gặp gỡ tại một quốc gia trên thế giới, nhằm tạo điều kiện cho các hội viên không chỉ tiếp cận về mặt kinh tế mà chủ yếu là tiếp thu trên thực tế, chớ không qua sách báo hay hình ảnh, mọi mặt từ lịch sử, địa lý, văn hóa của đất nước được chọn làm điểm đến. Năm 2002, các thành viên Việt Nam của YPO đăng cai tổ chức “Điểm hẹn Việt Nam” tại Hà Nội từ ngày 22 đến 26 tháng 10.

Các bạn trong nhóm YPO Việt Nam đã thiết kế một chương trình hết sức phong phú và đặc sắc gồm những buổi thuyết trình về chính trị, lịch sử, kinh tế, khoa học, văn hóa vào buổi sáng; buổi chiều dành cho việc du ngoạn tham quan danh lam thắng cảnh còn buổi tối thì dự dạ yến tại nhiều nơi khác nhau.

Tôi được cháu Tuyết Mai, giám đốc Công ty du lịch Vidotour, thay mặt ban tổ chức mời nói chuyện với đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam”, không chỉ gói gọn trong nghệ thuật mà cả văn hóa ẩm thực và văn hóa trong nếp sống.

Buổi thuyết trình được nhiều người hoan nghênh và đại biểu các nước Âu Mỹ đều ngỏ ý mời tôi đến các nước bạn để giới thiệu đề tài này. Nhưng vì lý do sức khỏe nên tôi không nhận lời mời nào cả.

Trong năm 2002 có một sự kiện về kịch nghệ Việt Nam đáng ghi lại như một dấu son: Nhà hát Đào Tấn được mời sang Đức trình diễn vở Lộ Địch, chi phí do Hội trao đổi Văn hóa Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan tài trợ. Tôi rất xúc động về việc một cơ quan văn hóa dám bỏ khoản tiền lớn đài thọ cho trên 30 người lưu diễn tại nước ngoài, nơi mà khán giả không hiểu tiếng Việt và lần đầu tiên tiếp cận với với kịch nghệ Việt Nam. Tiền vé vào cửa lại không cao nên cầm chắc chuyện thua lỗ, thế nhưng Hội Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan sẵn sàng chấp nhận mà không quan tâm đến lợi nhuận.

Bước qua năm 2003, khi đang ở tại Paris, một lần nữa tôi lại kề cận với cái chết, mà nếu không nhờ con gái Thủy Tiên từ tỉnh xa, qua điện thoại phát hiện tôi nói chuyện không mạch lạc đã báo động cho con út Thủy Ngọc kịp thời đưa cha đi cấp cứu thì có lẽ giờ đây tôi đã thành người… thiên cổ.

Mùa Hè năm đó khí hậu Paris trở nên nóng bất thường, lên đến trên 40 độ C trong mát, khiến hơn 14.000 người cao niên bị thiệt mạng. Như những người lớn tuổi khác, tôi cũng bị thiếu nước trong cơ thể dẫn đến tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Một tình cờ may mắn là Thủy Ngọc sau khi được chị báo động đã vội vã chạy đến đưa tôi vào bịnh viện.

Vừa xuất viện sau 12 ngày điều trị, tôi đã phải lên đường về nước để kịp ngày dạy học. Mới được hai tuần thì tôi ngã bệnh và phải vào bịnh viện Triều An. Ngoài căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, suy thận, đến lượt trái tim của tôi lại có vấn đề. Tôi nằm điều trị hai tuần lễ, làm đủ mọi xét nghiệm mà ban giám đốc Bịnh viện Triều An lại không nhận bất kỳ chi phí nào.

Cũng trong năm này, tôi tiếp tục hoàn thành quyển thứ sáu trong bộ hồi ký của mình với tựa đề “Du ngoạn trong truyền thống âm nhạc Việt Nam”. Thật ra đầu tiên tôi rất do dự, vì đây hoàn toàn không phải là quyển sách nghiên cứu âm nhạc truyền thống sâu sắc mà chủ yếu chỉ đề cập đến những nét cơ bản một cách đơn giản nhứt, để đại đa số độc giả bình thường có thể nắm bắt được sơ lược nền âm nhạc đa dạng và phong phú của dân tộc.

Nhưng sau khi bàn bạc kỹ với Trung tâm Hồi ký – đơn vị hợp tác thực hiện bộ hồi ký của tôi – cuối cùng, tôi quyết định viết một quyển sách về âm nhạc trong đời sống người Việt từ khi còn nằm nôi cho đến ngày từ giã cõi đời, được xuất bản vào năm 2004.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

************

Kỳ cuối: Lá rụng về cội

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội

01/07/2015 09:34 GMT+7

TTO – Trong năm 2002, có một sự kiện rất quan trọng đã đổi hướng cuộc đời của tôi.

GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 – Ảnh: tư liệu

Trong thời gian tham dự Festival Huế, nhân bữa tiệc chiêu đãi quan khách tôi được xếp ngồi kế bên cháu Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình

>> Kỳ 3: Đất khách quê người

>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống

>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Kỳ 7: Quy cố hương

>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị

>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên

>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ>> Kỳ 12: Họa vô đơn chí>> Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Trong câu chuyện trao đổi, cháu Trương Ngọc Thủy hỏi tôi có định lưu trữ những tư liệu nghiên cứu của mình ở đâu chăng? Tôi tâm sự đã gom góp khá nhiều tư liệu về âm nhạc Việt Nam cũng như những nền âm nhạc lớn của châu Á, hiện đang được cất giữ tại Pháp. Tôi đã lập di chúc giao lại cho trưởng nam Trần Quang Hải nhiệm vụ quản lý và giữ gìn tất cả tư liệu, chờ khi thuận tiện sẽ trao lại toàn bộ cho cơ quan đúng chức năng trong nước nhận lãnh để lưu giữ cho dân tộc Việt Nam. Nhưng tôi ước ao trong lúc còn sống có được điều kiện đem những tư liệu này về nước.

Nghe vậy, cháu Trương Ngọc Thủy tươi cười nói: “Cháu xin thay mặt Sở Văn hóa Thông tin Hồ Chí Minh sẽ tìm cách giúp bác mang về để lưu trữ trong một căn nhà, sau này sẽ là nhà lưu niệm Trần Văn Khê.”

Hai bác cháu nắm tay nhau, tuy chưa ký thành văn bản mà đã có một ước hẹn.

Ngay trong năm đó, cháu Trương Ngọc Thủy cùng với đại diện Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sang Pháp và đến thăm tôi tại tư gia ở Paris. Nhìn thấy tận mắt khối lượng tư liệu chất đầy kín 5 căn phòng, mọi người đều thích thú và quyết tâm bằng mọi giá sẽ tìm cho tôi một căn nhà tại thành phố. Cháu Thủy giao cho Phó giám đốc Thế Thanh thay mặt Sở Văn hóa Thông tin xúc tiến việc này.

Tháng 10 năm 2003, một người cháu của tôi là Thanh hợp sức với cháu Tươi liên hệ với một công ty vận tải biển của Pháp lo việc đóng gói và chuyên chở toàn bộ “sự nghiệp tinh thần” tôi đã chắt chiu tạo dựng qua hơn nửa thế kỷ để đem về Việt Nam. Tất cả gói gọn trong 465 kiện, trong đó có những bộ sách ghi chép về lịch sử âm nhạc Việt Nam, những dĩa hát đầu tiên của một vài nghệ nhân Việt Nam và các nước châu Á mà ngay ở các nước sở tại đôi khi cũng khó tìm được.

Tôi cũng có hơn 100 quyển thuộc loại từ điển bách khoa của Anh, Mỹ, Ý, Pháp; gần 200 cuốn sổ đi đường, như một thiên nhật ký, ghi chép hành trình tôi tham dự hơn 200 hội nghị ở khoảng hơn 68 nước trên thế giới để làm tư liệu về dân tộc học; hơn 2.000 sách, tạp chí thuộc loại nghiên cứu âm nhạc học và nhạc kịch Việt Nam, một kho hình ảnh cùng 800 băng cassettes ghi lại nội dung gặp gỡ nghệ nhân trong các chuyến điền dã khắp Việt Nam và một số nước trên thế giới…

Những thứ “của cải” này, tuy không có giá trị thương mại, nhưng vô giá đối với tôi và tôi nghĩ rằng chúng có ích cho những thế hệ mai sau trong việc tìm hiểu và nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp dân tộc nhạc học.

Nhưng khi mọi thứ được đóng gói xong và chuyển đi, thú thật tôi đã khá lo lắng. Bởi chuyến tàu trên đường đi có thể bị tai nạn, bị sóng đánh chìm, hay hàng hóa có thể bị thất lạc…

Thôi thì, một liều ba bảy cũng liều!

Khi biết được chi phí tổng cộng lên tới 7.000 Euros cho một container 40 feets, một số bạn bè, thân hữu vẫn theo dõi công việc làm của tôi xưa nay, đồng thời thông cảm với hoàn cảnh một nhà nghiên cứu suốt đời thanh bạch, đã tự nguyện cùng nhau đóng góp để giúp tôi trang trải chi phí trong việc vận chuyển khá tốn kém nói trên. Thậm chí một cặp vợ chồng người Việt sống bên Mỹ, chỉ nghe một môn sinh của tôi là cháu Thiên Nga kể về việc làm của tôi trong lãnh vực văn hóa chớ chưa bao giờ tiếp xúc, nhân dịp về thăm quê nhà cũng tìm gặp tôi và đề nghị được chung tay giúp đỡ.

Tôi vô cùng xúc động trước nghĩa cử đẹp của những tấm lòng ấy.

Đầu tháng 12, may mắn thay, chiếc tàu trong đó có kiện hàng của tôi cập bến Việt Nam an toàn. Nhờ sự giúp đỡ của Sở Văn hóa Thông tin Thành phố, nhứt là giám đốc Trương Ngọc Thủy và phó giám đốc Nguyễn Thế Thanh, mà các thủ tục hải quan được tiến hành nhanh chóng. Chỉ sau 5 tiếng đồng hồ, tất cả các kiện hàng được chở về gởi tạm trong Bảo tàng viện Thành phố, vì các cơ quan hữu trách chưa tìm ra căn nhà phù hợp để cấp cho tôi.

Cuối cùng Thế Thanh cho biết Sở Văn hóa Thông tin đã chọn được một biệt thự cũ tại tại số 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh và giao kiến trúc sư sửa chữa, xây dựng lại cho phù hợp với yêu cầu làm việc và sanh sống của tôi.

Tháng 10 năm 2005, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chánh thức bàn giao căn nhà trên cho tôi để làm nơi cư trú và lưu trữ toàn bộ hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Sau khi tôi qua đời, nơi đây sẽ trở thành “Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”.

Từ tháng 10, tôi tạm ngưng các hoạt động về văn hóa để đặt trọng tâm cho việc ổn định chỗ ở. Cháu Tươi (thời gian này đã rời Paris về Sài Gòn phụ giúp tôi) cùng với em Lý (Trưởng Trung tâm Hồi ký) cùng hợp sức lo việc trang trí nội thất, sắp đặt các phòng tư liệu, phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp… cho căn nhà Huỳnh Đình Hai.

Em Lý nhờ nghệ nhân Út Tài thiết kế cây cảnh trong sân vườn nhà tôi. Có một kỷ niệm vui là sau khi nhận lời, ngay tối hôm đó cô Út Tài cho xe tải tới đổ xuống rất nhiều cây cảnh và chậu hoa, đến độ tôi lo lắng phải gọi điện thoại cho em Lý: “Thầy e là không đủ tiền để trả cho chừng đó cây cảnh đâu. Nếu ở Paris thì với số lượng này chắc phải bán nhà mới đủ trả”.

Không dè lát sau em Lý gọi điện lại: “Em đã nói chuyện với chị Út rồi, nhưng chị nói sẽ còn mang thêm nhiều nữa!”. Khi khu vườn đã hoàn tất, rất hợp với sở thích của tôi, đến phần thanh toán tiền nong thì cô Út Tài tươi cười khoát tay: “Em làm tặng thầy”. Tôi vô cùng cảm động trước quà tặng này.

Việc trang trí nội thất phòng khách thì vợ chồng kiến trúc sư Trương Hiền Phúc đã thực hiện đúng theo ý tôi là sắp đặt để bình thường đây là nơi tiếp khách, nhưng lại có thể biến thành phòng họp cho cả trăm người đến dự những buổi tôi nói chuyện về âm nhạc. Trên các bức tường trong phòng khách treo đầy tranh, ảnh, nhạc khí… hầu hết là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong suốt những tháng năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, hoặc là những món quà kỷ niệm do thân hữu hoặc bạn bè trao tặng.

Từ đó đến nay, căn nhà này được sử dụng đúng mục đích, vừa là nơi sinh sống của tôi, vừa là một địa chỉ văn hóa mà các hội đoàn hay chánh quyền thành phố vẫn đưa khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Các tư liệu tôi mang về nước được sắp xếp phân loại với sự giúp đỡ của Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, tuy chưa hoàn tất nhưng bước đầu cũng đã phục vụ cho nhu cầu tìm đọc của nhiều sinh viên và một số nhà nghiên cứu. Việc chuyển tư liệu từ băng cassette ra CD, băng video VHS ra DVD vẫn đang được tiến hành.

Đặc biệt nơi đây còn diễn ra những chương trình sinh hoạt văn nghệ định kỳ, là dịp để tôi giới thiệu các bộ môn âm nhạc truyền thống cho giới yêu âm nhạc thành phố và cả khách nước ngoài. Khó khăn nhứt là chi phí tổ chức, may mắn đã có em Trần Trọng Thức và cháu Thanh Nga lo việc tìm tài trợ từ những mạnh thường quân hay các doanh nghiệp trong nước.

Bắt đầu từ đây, tôi vui sướng tận hưởng cuộc sống mới của người con đất Việt xa quê hương hơn nửa thế kỷ, nay trở về để có thể tiếp tục cống hiến ngay tại quê nhà.

Trong những năm cuối đời, tôi may mắn được đồng bào trong và ngoài nước theo dõi, biết qua những chuyện tôi đã làm và lấy tình ruột thịt mà đối đãi với tôi.

Từ sự tận tình theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho tôi của các bác sĩ nhiều bịnh viện trong thành phố, đến chiếc xe điện di chuyển trong nhà, chiếc laptop tôi sử dụng hàng ngày, rồi thẻ đi taxi của công ty Mai Linh… thật không sao kể hết những tấm lòng hào hiệp đã bỏ công bỏ của hỗ trợ cho tôi suốt những năm qua.

Tôi đi ăn ở nhiều nhà hàng, chủ nhân đề nghị được chiêu đãi, đi hớt tóc thì chủ hiệu dứt khoát không lấy tiền. Thấy tôi đi ngoài đường chị bán hàng rong đứng dậy hỏi: “Giáo sư đi đâu đó?”, anh xích lô cũng mời: “Giáo sư ơi, lên xe em chở đi hóng mát một vòng”.

Đâu đâu tôi cũng nhận được lời chào thân thiện và niềm nở của mọi người. Cái tình đó là phần thưởng rất lớn giúp tôi thêm hăng say làm việc và cũng ấm lòng một người suốt đời nguyện tận tụy phụng sự âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

GS TRẦN VĂN KHÊ

TRẦN VĂN KHÊ : TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

 TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU

Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

Năm 1949, nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê đã “đơn thân độc mã” thi âm nhạc tại Đại nhạc hội Budapest (Hungari) với 70 nước tham gia rất “hoành tráng”. Ngay sau kỳ thi, chàng Trần Văn Khê đã gửi thư về nước báo tin vui. 

 tvk budapest 1949 1
TRẦN-VĂN-KHÊ trước khi Đại Hội Budapest – Ảnh Việt báo 18-1949

Tuần san Việt báo số 18-1949 ở Sài Gòn đã đăng toàn văn lá thư – bài viết này của chàng nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê, ngay sau trang 3 xã luận. Và hình bìa tạp chí là hình nhạc sĩ Trần Văn Khê.

TTO xin mạn đăng bài viết cách đây 66 năm này của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trần Văn Khê mà ngay từ lúc ấy đã có một  tình yêu dân tộc, quê hương mãnh liệt khi “đem chuông đi đấm xứ người”. 

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

 tvk budapest 1949 2
 
Hình bìa tuần san Việt báo số 18-1949

“…Vẫn biết rằng nhờ toàn-dân Việt-Nam đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý-do chánh-trị, họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết-quả gì, nhưng tôi sung-sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quý của chúng ta”. – TRẦN-VĂN-KHÊ

Tại…

Gửi những anh chị em quen biết,

Budapest, 25-8-49

Tôi gởi thơ nầy để các bạn chia vui với tôi và để khoe với các bạn rằng trong kỳ thi đàn cổ với các nước tại Budapest, tôi đã đem GIẢI NHÌ cho Việt-Nam ngang hàng với Mông-cổ, thua Nga mà hơn Lỗ-ma-ni (Rumani) và Hung-gia-lợi (Hunggari).

Hôm tôi được mời lại Phòng Văn-Hóa của Đại-Nhạc-Hội Budapest để bàn về những cuộc tranh tài về nhạc và khiêu-vũ, tôi đã nói với những nhân-viên Phòng Văn-Hóa rằng: Nước Việt-Nam đã xa xôi lại còn đang tranh-đấu giành tự-do thành ra các nhân-tài vì nhiệm-vụ kháng chiến không thể dự Hội-nghị. Chúng tôi là những sinh-viên ở Âu-châu, bất tài, chỉ cố gắng trình-bày phần nào của văn-hóa Việt-Nam, vì đó là bổn-phận của chúng tôi chứ ra mà tranh tài với các nước thì chúng tôi không dám”.

Nhưng nhân-viên Phòng Văn-Hóa nói rằng: “Nếu Việt Nam không tranh tài về các môn đờn piano hay violon thì ít ra Việt-Nam cũng có một lối nhạc cổ đặc biệt và các nước như Mông-cổ, Hung-gia-lợi cũng sẽ đem nhưng cây đàn cổ thô sơ ra dự thi, anh cố gắng để Việt-Nam có thể góp mặt với các nước chớ!”.

Bảo tôi ra tranh tài thì tôi không dám. Nhưng bảo tôi rán dự thi để Việt Nam được góp mặt với các nước thì tôi khó thể chối từ. Thế là tôi nhận lời.

Về nhà tôi nói với anh em:

“Chắc chắn thể nào mình cũng hạng chót, nhưng ít ra trong lúc dự thi và khi có kết-quả, dầu hạng chót đi nữa, mình cũng làm cho tên tuổi Việt-Nam được người ta để ý thêm một chút. Tôi kỳ này thật là “liều mạng già” làm lý ra dự thi để cho tên Việt-Nam được nhắc nhở đến”.

Tuy nghĩ thế nhưng lòng vẫn phập phồng. Và chiều ngày 17-8-49 tôi o cây đàn cò “chết nhát” của tôi lại, gắn cục tòng chỉ cho ngay, thay dây mới, phủi bụi cây đàn tranh và nhấn dây cho nó êm dây. Đúng 4 giờ chúng tôi lại Magyar Synhez mà dự thi.

Trong lúc chờ đợi, tôi nghe người giới thiệu đọc bằng tiếng Nga, Pháp, Anh, Hung rằng hôm nay có những nước Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi (Bungari) và Việt-Nam dự thi về nhạc và khiêu-vũ theo xưa; tôi đâm ra lo.

Đoàn Tiệp-khắc ra sân khấu với trên 80 thanh niên nam nữ hát những bài hát cổ và múa nhưng điệu đặc-biệt theo đồng quê.

Đoàn Bảo-gia-lợi đem trên 100 thanh-niên hợp-xướng những bản xưa và nhảy múa rầm rộ. Lại thêm có giàn nhạc violon đờn theo điệu triganest. Mặc dầu trời không nóng lắm mà tôi toát mồ hôi. Trời ơi! Người ta đi dự thi với hàng trăm người, với bao nhiêu bài hát điệu múa với cả giàn nhạc, mà tôi “đơn thân” với hai cây đàn quèn nầy tôi sợ làm xấu hổ cho Việt-Nam quá. Tôi nhớ lại ân hận rằng không năn nỉ anh Tư Huyện mượn cây đàn-cò cần, để cây đàn-cò bạch chảng của tôi ra sân-khấu dự-thi coi kỳ quá.

Trong khi đoàn Hung-gia-lợi ngoài nhiều lối khiêu-vũ theo xưa còn có thêm một giàn nhạc xưa với cây đàn giống như cây tam-thập-lục với mấy ống sáo bằng đồng bằng cây.

Đoàn Lỗ-ma-ni lựa ra hai người kỳ tài. Một em bé 13 tuổi thổi ông sáo 5 lỗ thổi những bài nhạc xưa giống tiếng sáo của mấy mục đồng đuổi trâu về xóm; một thiếu-nữ chỉ dùng một lá cây mà thổi một điệu nhạc xưa tiếng kêu tương tự như giọng kèn tiểu của nhạc ta. Rồi giàn đờn gồm có mấy cây đàn tam-thập-lục, đàn hình bầu dục như cây tỳ-bà. Thêm vào đấy bao nhiêu điệu múa tưng-bừng.

Chết tôi rồi! Áo tôi ướt đẫm mồ hôi, khi bỏ màn, người giới thiệu ra nói: “Bây giờ đến phiên anh V.K. biểu-diễn cổ nhạc Việt-Nam”.

Trái lại với quang cảnh tưng bừng màu sắc, rầm-rộ với những điệu khiêu-vũ trên sân khấu minh-mông chỉ “đơn thân” và “độc mã” với cây đàn xấu-xí.

Màn kéo lên.

Khán giả hơn ngạc nhiên vì từ 4 giờ tới bây giờ toàn những ban nhạc, những đoàn khiêu vũ bây giờ chỉ một người ngồi với một cây đàn dị kỳ.

Phóng viên các báo chụp hình. Ánh magne-sium làm chóa mắt tôi.

Khi lên dây xong, định thần lại, tôi thấy trên lầu 8 người giám khảo ngồi trước 8 tờ giấy trắng. Thính giả lặng thinh. Tôi nghe tim tôi đập mạnh.

“Cầu xin ông Tổ nhạc giúp cho tôi trong phen nầy”.

Những tay đàn lỗi lạc như Sáu Tửng, Tư Huyện, Sáu Quý, Chín Kỳ,v.v… các anh ở đâu để tôi lãnh trách nhiệm nặng nề là thay mặt cho cổ nhạc Việt- Nam đây?

Tôi bắt đầu rao ít câu. Tôi không rao theo các điệu cải lương. Tôi phỏng theo điệu sa-mạc rồi đặt ra nhiều câu với nhiều ngón run, ngón vuốt.

Hôm nay tôi để cả tâm hồn tôi vào đấy, tôi đàn bực trên rồi xuống bực đưới. Cả rạp im lặng nghe.

Dạo đàn trong 5 phút tôi ngâm 5 câu sa mạc vừa ngâm vừa đàn phụ họa theo. Dứt bài tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp và họ vỗ mãi trong vòng gần 2 phút không ngừng. Tôi hơi vững lòng “lên tinh thần” lấy đàn tranh ra. Tôi nhấn trên một sợi dây đến 9 chữ đàn khác nhau. Phóng-viên các báo lại chụp hình một lần nữa. Tôi rao đàn tranh trong 5 phút lại bắt đầu ca bản “Bắc Cung Ai”. Lại cũng vừa đàn vừa ca. Trước khi ca tôi có cắt nghĩa sơ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ý nghĩa bài hát: “một thiếu phụ than thân trách phận”.

Tôi cố diễn tả sự đau đớn của thiếu-phụ bằng giọng ngân, bằng chữ nhất, bằng nét mặt, và khi dứt bài một tràng pháo tay vang dậy. Tôi phải trở ra chào thính-giả mấy lượt. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng qua là lối xã-giao chứ so với các giàn nhạc kia tôi còn cho mình kém quá.

Nhưng tôi đã rán hết sức tôi và tôi đã thành công: tôi đã làm được một số thính giả cảm động vì bài hát.

Nhiều phóng-viên các báo Hung, Tiệp, Lỗ đến hỏi tôi về cây đàn cò và đàn tranh và họ nói rằng đây là đầu tiên trong lịch-sử mà cây đàn tranh và đàn cò lên tiếng tại kinh đô nước Hung.

Cùng đi với tôi, anh Nguyễn-ngọc-Hà đờn bản Thiên-Thai bằng “guitare electrique” nhưng khi nhà báo đến hỏi cây đàn gì anh Hà bảo là cây đàn Lục-huyền cầm Hạ-uy-di cho nó có cái tên Việt-Nam. Anh Hà rất được hoan-nghinh với cây đờn ấy và có điều lạ là dân chúng Hung chưa nghe guitare hawaienne lần nào cả và rất thích giọng đàn uốn éo.

Làm xong phận sự, chúng tôi về ra sung sướng ở chỗ VIỆT-NAM CŨNG ĐÃ GÓP MẶT VỚI CÁC NƯỚC KHÁC trong cuộc tranh tài nầy.

Vài hôm sau nước Nga với một nhạc công danh tiếng biểu diễn balalaika và những cây đàn cổ khác, nước Mông Cổ với cây đàn tami lúc khẩy lúc kéo. Nhạc sĩ Mông-cổ kéo rất hay tiếng kêu như tiếng violoncelle.

Đến bữa 24-8-49, sau khi ban giám khảo cọng điểm lại thì cô thông ngôn hối hả chạy cho tôi hay. “Anh Khê này! Bốn giờ chiều nay anh lại Âm-nhạc-viện mà lãnh thưởng. Phòng Văn-hóa vừa cho hay anh được giải thưởng về nhạc. Anh thay đồ đi mau. Tôi có mấy lời khen anh đấy!”.

Thay đồ đi mà tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ mình hạng chót nhưng họ cho giải an ủi hoặc một cấp bằng danh dự chi chi chớ chẳng lẽ mình hơn người ta.

Đến Âm-nhạc-viện thấy bao nhiêu đại biểu các nước ngồi thật. Trên bàn danh dự có Chủ-tịch Thanh niên thế giới, Chủ-tịch sinh viên thế giới, 14 viên giám khảo, các nhạc sư nhạc trưởng các nước.

Hôm ấy, Nga được tất cả 50 giải thưởng đàn violon, đàn piano, hợp xướng, độc xướng, kèn trompette v.v… các anh nhạc sĩ Nga hạng nhứt cả.

Đến phiên cổ nhạc, hạng nhứt anh Garayev (Nga) hạng nhì Biemian (Mông Cổ) và tôi (Việt-Nam), hạng ba Florika (Lỗ-ma-ni) và Beres (Hung-gia-lợi).

Khi kêu đến tên tôi, tôi đi lên sân khấu và trong lúc Chủ-tịch phiên nhóm bắt tay tôi và cả rạp vỗ tay, phóng-viên báo chụp hình, tôi sung sướng vì đại-biểu các nơi không phải hoan-nghinh cá nhân tôi mà hoan nghinh cả một nền cổ nhạc Việt-Nam, tôi sung-sướng vì tôi đã không làm hổ mặt Việt-Nam.

Và nói ra chắc bạn cười tôi sao yếu tánh chớ trong những trường-hợp thế nầy tôi thấy mặt tôi nóng bừng và nước mắt từ đâu tuôn dài theo má khi tôi trở về chỗ ngồi.

Lúc đứng trên sân khấu tôi cố dằn và rán cười nhưng khi về đến chỗ ngồi lại thấy nước mắt đâu nó tuôn ra như thế?

Dở quá bạn nhỉ? Nhưng nhạc-sĩ nào lại chẳng dễ cảm xúc hơn người!

Hôm sau, khi các báo đăng kết quả, khi các đài phát thanh loan báo tin các cuộc tranh tài, nhiều bạn nhạc-sĩ các nước tìm tôi hỏi thăm về âm-nhạc Việt-Nam, về những cây đàn cổ. Tiếc rằng tôi không có những cây đàn sến, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn độc huyền để cho họ biết thêm, vì khi qua Pháp tôi chỉ đem được có hai cây đàn cũ mua lại của người ta. Nhưng hiện giờ tôi quí hai cây đàn ấy lắm. Chúng nó đã giúp tôi trong khi tôi trình bày cổ nhạc Việt-Nam và hôm 24-8, có lẽ tôi đã sống được một phút cảm động nhứt trong đời nhạc của tôi.

Vẫn biết rằng nhờ toàn dân V.N. đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý do chính-trị họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết quả gì, nhưng tôi sung sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quí của chúng ta.

TRẦN-VĂN-KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/ban-tranvan-khe-da-lanh-giai-nhi-cho-vietnam-ve-conhac/766839.html

http://chengdec.blogspot.fr/2015/06/giao-su-tran-van-khe.html

ÁI LAN : Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải ở đại nhạc hội BUDAPEST, năm 1949

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/tho-cho-ban-o-parislich-su-hai-cay-don-da-giup-anh-tranvankhe-doat-giai/766872.html

THƠ CHO BẠN Ở PARIS

Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải

Ba tuần sau khi đăng trân trọng ngay ảnh bìa nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê dự Đại hội âm nhạc sinh viên Budapest (Hunggari), Việt báo số 21-1949 tiếp tục đăng ảnh bìa về người nhạc sĩ trẻ này với bài viết bên trong về hai cây đờn mang đi thi của nhạc sĩ sinh viên Trần Văn Khê.

 tvk trên đường sang Hongrie ghé Thụy sĩ 1949
 
Nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê trên đường sang Thụy Sĩ và Hunggari khi dự Đại hội âm nhạc Budapest (Hungari) – Ảnh bìa Việt báo số 21-1949

Bài viết ký tên Ái Lan, gửi cho một người bạn ở Pháp.

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

.

Bạn NGỌC-LAN, 

​Trong số báo trước, tôi đã hứa với bạn sẽ kể lại lịch-sử hai cây đờn của anh Khê. Chắc bạn đã mỉm cười, nếu bạn không bỉu môi thầm bảo: Lịch-sử quái gì hai cây đờn ấy.

Thì cứ ra chợ Cầu ông Lãnh mà mua, hay là mua lại đờn cũ của ai đó chớ gì.

Vâng, chính thế, nhưng bạn ạ, bạn có biết đâu trong hai cây đàn đó, nó còn ẩn náu bao nhiêu niềm uẩn khúc đầy triết lý của cái nghèo nơi một nghệ-sĩ chơn chánh như anh Khê chẳng hạn.

Vậy, mời bạn hãy đọc dưới đây một mẫu giai thoại… vui vui về hai cây đờn “bạch chãng” của anh Khê, nhưng tôi cấm bạn cười… ra nước mắt đấy!

Tại nhà ở, chúng tôi đang ngồi nói chuyện phiếm để đỡ sốt ruột trong lúc chờ anh Khê và vài người bạn khác, để dự một bữa tiệc tiễn chơn anh Khê sang Pháp, bỗng một tiếng két của chiếc xe xích-lô thắng ngoài ngõ, và tiếp theo một giọng cười đặc biệt của anh Khê là lúc nào cũng hồn nhiên, sung sướng, từ ngoài cửa ném vào. Một người bạn nói khẽ với tôi: “Anh ấy đi đến đâu là mang cả một vũ-trụ lạc quan đến đó”.

Lời phê-bình vắn tắt, nhưng rất đúng. Bạn không thể nào giữ được nỗi buồn, nếu bạn nghe giọng cười của anh Khê một khi đã cất lên.

Trong lúc chúng tôi nói lén anh, thì anh đã bước vào với hai cây đàn, một cũ, một mới. Cây cò còn mới tinh của anh, làm bằng một thứ cây gì trắng tươi như cây thông mà anh Khê gọi là màu “bach chãng”.

Tôi vội thuật lời nói lén của người bạn khi nãy với anh Khê, anh phá lên cười một chuổi dòn tan trong lúc anh cẩn thận đặt hai cây đờn xuống ván. Bỗng anh Khê hạ thấp giọng:

“Không biết giờ này, vợ tôi đã chạy ra tiền đi chợ chưa? Nhà chỉ còn có vài chục bạc, tôi đã lấy hết đi mua đờn từ sáng tới giờ”. Nói xong, anh lại cười, để cho chúng tôi… ra nước mắt!

– Anh mua đờn làm gì mà gấp đến phải vét cả tiền chợ?, tôi hỏi.

Anh Khê cho hay rằng anh định đem hai cây đờn đó sang Pháp đờn bậy chơi. Nhứt là trong lúc ở dưới tàu, linh-đinh trên mặt biển gần trót tháng.

Anh lại cho biết, cây cò anh mua ở Cầu ông-Lãnh, còn cây tranh, anh xin của cậu anh đem về chữa sửa lại mấy chỗ hư hỏng, vì nó đã cũ kỹ.

–  “Chưa đủ, anh phải đem theo một cái lon, hay cái nón lá xe kéo để người ta bỏ xu, khi anh ngồi đờn nơi mấy cái nhà ga xe điện”. Một người bạn nói đùa.

– “Mua thêm cây độc huyền và một cuốn thơ Lục vân Tiên”.

Tất cả các bạn đều rộ lên cười.

Sau khi cười dứt, anh Khê nghiêm trang nói:

“Được chớ! Nếu ngày nào thấy cần, tôi sẽ làm thế”.

– Anh không mắc cở à? Tôi hỏi.

Khê nhìn tôi với đôi mắt trách thiện:

“Tôi làm gì mà mắc-cở? Nghèo, đi đờn mướn, hát dạo, kiếm tiền ăn, học, nếu nghề ấy có thể giúp tôi học”.

Sau khi dùng cơm xong, anh Khê đờn cho chúng tôi nghe trước khi anh lên đường.

Tối hôm ấy, một bác sĩ ở Cholon lại tiễn anh Khê và thết luôn chúng tôi một bữa cơm Tàu. Bộ đồ “vía” của anh Khê để dành mặc trong lúc đặc biệt, được nó trang hoàng vào người anh, huê dạng như… một chánh khách… chầu rìa.

Sau khi ăn uống xong, chúng tôi đón xe “tắc-xi” về Saigon. Trước khi lên xe, anh Khê kê miệng vào tai H… nói nhỏ: “Ê! H trả tiền xe nhé”.

Cách đó vài tháng, chúng tôi được đọc một bức thơ của anh Khê từ Pháp gởi về cho một người bạn tên H. Trong ấy, có một câu đã làm cho tôi cảm động và ghi nhớ mãi: “H… ạ! Sự sống của tôi ở Paris lúc nầy nguy ngặt quá vì số tiền bà gia tôi dự bị để gởi lần cho tôi tạm lúc đầu đã bị gián đoạn, do một việc rủi-ro bất ngờ. Lắm lúc, tôi muốn thực-hành lời nói đùa của các bạn trong buổi tiệc tại nhà P. là đem đờn kéo dạo ở mấy nhà ga. Nhưng bạn ạ! Chỉ vì một lẽ là tôi đã lên diễn đàn mấy lần trong những cuộc lễ của Tổng Hội Sanh Viên V.N tổ chức. Nếu tôi ra ngồi đờn hát như thế, sợ mất thể diện cho Hội. Còn về cá nhân tôi, tôi không ngại gì việc ấy…”

Hôm nay, tôi không ngờ hai cây đờn mà gia-đình anh Khê đã nhịn ăn một ngày để lấy tiền mua nó, nó đã giúp anh Khê đoạt giải nhì về âm nhạc cổ Việt Nam trước mấy ngàn đại-biểu sanh viên quốc-tế ở Budapest.

PHOTOS TRẦN VĂN KHÊ 1949 /BUDAPEST , HUNGARY

tvk budapest 1949 2

tvk budapest 1949 1

TVK dự đại nhạc hội Budapest 25.08.1948 lãnh giải nhì , Việt Báo

tvk trên đường sang Hongrie ghé Thụy sĩ 1949

TRẦN VĂN KHÊ trên đường đi Thụy Sĩ và Hung Gia lợi (Hungary) để tham dự lễ hội âm nhạc tại Budapest, tháng 8 năm 1949

Hình trên báo VIỆT BÁO với bài tường thuật của Trần Văn Khê

Some pics showed Trần Văn Khê on the road to Hungary to participate in the Music Festival in Budapest in 1949 . He gained the 2nd prize for his performance of 2 stringed fiddle (đờn cò) and 16 stringed zither (đờn tranh)

SONG KỲ – NAM YÊN : “Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê:

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

(LĐĐS) – Số 28 Song Kỳ – Nam Yên – 7:50 AM, 26/07/2015
Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương thời trẻ (Ảnh từ trái qua).

Như đã biết, Trần Văn Khê là anh cả trong gia đình có 3 anh em, hai người còn lại là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương. Giống như người anh cả Trần Văn Khê, hai người em cũng lớn lên trong môi trường âm nhạc của gia đình, về sau đều thành danh. Đặc biệt là người em kế Trần Văn Trạch, tuy kém anh mình ở học hàm, học vị, nhưng cũng đủ sức làm náo động cả Sài Gòn suốt thời gian dài bằng tài năng nghệ thuật của mình.

“Khê anh” và “Khê em”

Trần Văn Trạch sinh năm 1924, nhỏ hơn Trần Văn Khê 3 tuổi. Thuở nhỏ, cũng giống như anh mình, Trần Văn Trạch theo học tiểu học ở Collège de Mỹ Tho (Trường Trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã có năng khiếu về âm nhạc, lại được người cô ruột là cô Ba Viện chỉ dạy, nên ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Ông còn học đàn mandoline với anh ruột Trần Văn Khê và học đàn violon với người anh họ Nguyễn Mỹ Ca. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Kể về đứa em kế của mình, GS.TS Trần Văn Khê viết: “Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi “Trạch ơi!” là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà”. Từ đó, dù trong sổ bộ vẫn tên Trần Văn Trạch, nhưng cậu bé Trạch được gọi cái tên mới là “Khê em”, còn Trần Văn Khê là “Khê anh”. Trong gia đình và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi 2 anh em là “Khê anh” và “Khê em”.

GS.TS Trần Văn Khê kể tiếp: “Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm, chúng tôi không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, môt gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc”.

Sau khi Trần Văn Khê lên Sài Gòn học Trường Petrus Ký rồi ra Hà Nội học ngành y, Trần Văn Trạch cũng rời quê hương lên Sài Gòn đi theo nghiệp âm nhạc. Nhưng chỉ hơn năm sau, tại quê nhà, cô Ba Viện (như là mẹ ruột của 3 anh em Trần Văn Khê) lâm trọng bệnh. Vì chữ hiếu, “Khê em” phải bỏ giữa chừng mọi dự tính, trở về quê lo tròn chữ hiếu. GS.TS Trần Văn Khê kể: “Khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch. Cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm. Nhưng Trạch, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngã ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn 1 cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió…”.

Lúc đó, ở Mỹ Tho, có một gia đình người Pháp làm công chức. Người Pháp này có cảm tình với cậu học sinh đàn hay, hát giỏi Trần Văn Trạch. Lúc Nhật đảo chính Pháp năm 1945, ông người Pháp bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp và trai tài gái sắc đã gặp nhau, cuộc tình dẫn đến sự ra đời của một đứa bé. Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, Trần Văn Khê gia nhập Thanh niên cứu quốc. Trần Văn Trạch dắt cô vợ Pháp và đứa con nhỏ vào vùng kháng chiến tìm anh. Để rồi sau khi gặp anh ở Cần Thơ, Trần Văn Trạch được vào Ðội quân nhạc Nam bộ và hai anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch. 

Người khai sinh nhạc hài hước

Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế chiến 2, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà ở Sài Gòn được phép mở cửa trở lại. Trần Văn Trạch trở về Sài Gòn xin vào làm hoạt náo và hát tại Dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau đó, ông mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, TPHCM). Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán ca nhạc tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TPHCM). Nhằm câu khách, ông Trạch thường hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho một cái tên rất Tây là Tracco. Trong thời gian cùng anh trai đi theo ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương. Nhìn thấy Trần Văn Trạch tiềm ẩn nét duyên pha lẫn chất hài, Lê Thương viết thử bài ca hài cho bạn trình diễn. Ðó là bài “Hòa bình 48”, Trạch hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom… Trạch trình diễn thành công, Lê Thương nổi hứng viết tiếp bài “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu; rồi bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp… cũng do ông Trạch hát. Vì những bài hát này mà Lê Thương và Trần Văn Trạch có lần bị cảnh sát bắt giam ở bót Catinat mấy ngày.

Năm 1949, Trần Văn Trạch đã nảy ra ý nghĩ mở đại nhạc hội – một chương trình văn nghệ tổng hợp bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật… Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền, kể từ đó cái tên “đại nhạc hội” trở nên phổ biến. Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ “chương trình văn nghệ phụ diễn” cũng ra đời từ đó. Trần Văn Trạch cũng sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn. Bản nhạc “Anh phu xích lô” là sáng tác đầu tiên của ông. Ông viết tiếp những bài hát hài “Cái tê-lê-phôn”, “Cái đồng hồ tay”, “Cây bút máy”, “Anh chàng thất nghiệp”, “Sở vòi rồng”, “Đừng có lo”, “Tôi đóng xinê”, “Chiếc ôtô cũ”, “Chiến xa Việt Nam”… Bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú về chất duyên, hài hước của ca từ, giai điệu và cách diễn xuất của chính tác giả.

“Quái kiệt” đa tài

Ngoài nghiệp ca hát và sáng tác, Trần Văn Trạch còn cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, ông cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là “Lòng nhân đạo” (1955) và “Giọt máu rơi” (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương. Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là “Thoại Khanh – Châu Tuấn” (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và “Trương Chi – Mỵ Nương” (1956, đóng chung Trang Thiên Kim, La Thoại Tân).

Năm 1961, sau một chuyến lưu diễn 6 tháng ở Pháp, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là màn múa rối học được ở Pháp. Đồng thời, người yêu nhạc Sài Gòn lấy làm thích thú giọng hát Trần Văn Trạch với bài hát “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa). Bài “Chiều mưa biên giới” với giọng hát Trần Văn Trạch đã đứng vững trong làng tân nhạc Sài Gòn suốt mười mấy năm, hầu như không có ca sĩ nào ở Sài Gòn hát bài này qua Trần Văn Trạch. Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch còn là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ. Khoảng giữa thập niên 1960, bắt đầu từ một bài báo, biệt danh “Quái kiệt Trần Văn Trạch” đã xuất hiện ở Sài Gòn, gắn liền với người nghệ sĩ đa tài mà mỗi lần xuất hiện đều làm náo động sàn diễn.

Hầu hết người Sài Gòn và cả miền Nam không thể nào quên bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” do chính Trần Văn Trạch sáng tác và hát mỗi chiều thứ bảy, khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát sóng trực tiếp chương trình xổ số kiến thiết hàng tuần. Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào chơi vé số, kèm theo đó là nạn chơi số đề, nở rộ khắp Sài Gòn và cả miền Nam. Bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” qua giọng hát thu hút của Trần Văn Trạch như thêm thôi thúc người dân đến với xổ số và số đề: “Kiến thiết quốc gia/ Giúp đồng bào ta/ Xây đắp muôn người/ Được nên cửa nhà/ Tô điểm giang san/ Qua bao lầm than/ Ta thề kiến thiết/ Trong giấc mộng vàng/ Triệu phú đến nơi/ Chỉ mười đồng thôi/ Mua lấy xe nhà/ Giàu sang mấy hồi…”.

Tháng 12.1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp), ông tiếp tục có những năm tháng sống gần gũi với anh trai là GS.TS Trần Văn Khê. Từ đó trở đi, Trần Văn Trạch gần như chia tay với hoạt động nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống. Trần Văn Trạch mất ngày 12.4.1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris. Ngày ông qua đời, người anh trai là GS.TS Trần Văn Khê đang ở Việt Nam để sưu tầm âm nhạc truyền thống dân tộc. GS.TS Trần Văn khê đã tức tốc bay về Paris làm chủ tang cho đứa em ruột thịt của mình, đứa em đã từng gắn bó với ông trong những ngày niên thiếu và cùng đi chung với ông trên con đường nghệ thuật thênh thang.

http://laodong.com.vn/van-hoa/quai-kiet-tran-van-trach-nguoi-lam-nao-dong-ca-sai-gon-356437.bld

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Một gia đình đại thụ âm nhạc
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

(LĐĐS) – Số 27 Song Kỳ – Nam Yên – 6:50 PM, 19/07/2015

GS.TS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đại thụ âm nhạc”, được thừa hưởng truyền thống và những tố chất âm nhạc, nhưng cuộc đời không trải thảm để Trần Văn Khê bước đến vinh quang. Những biến cố trong gia đình cộng với hoàn cảnh đất nước bị xâm lược… đã làm cho những năm tháng tuổi trẻ của ông gặp không ít thăng trầm.

Nhưng với tài năng bẩm sinh, nhiệt huyết cháy bỏng, ông đã vượt qua mọi trở ngại để đạt đến đỉnh cao tài năng trong âm nhạc, góp phần quan trọng làm cho âm nhạc truyền thống Việt Nam được vinh danh trên thế giới.

Từ Vĩnh Kim ra đi

Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921, là anh cả trong gia đình có 3 anh em. Năm 9 tuổi, ông mồ côi mẹ, đến năm 10 tuổi lại mồ côi cha. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô ruột Trần Ngọc Viện (cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Ông học tiểu học tại Mỹ Tho, đến năm 13 tuổi ông được cô Ba Viện đưa lên Sài Gòn học tại Trường Trung học Pétrus Ký. Tại đây, Trần Văn Khê cùng 2 bạn học là Lưu Hữu Phước và Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục.

Năm 1941, ông được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội Đức trí Thể dục ra Hà Nội học y khoa tại Đại học Đông Dương. Tại đây, Trần Văn Khê có một kỉ niệm nhớ đời. Ông kể: “Ngày khai giảng ở trường đại học (nay là số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài – quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise, một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: “Quốc kỳ và quốc ca của ta đấy!”. Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài”…

Kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc. Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc, khuấy động phong trào thanh niên lành mạnh, khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: “Người xưa đâu tá”, “Bạch Đằng giang”, “Ải Chi Lăng”…

Cũng năm đó, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bằng tiếng Pháp và giới thiệu dân ca 3 miền Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise đã viết khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỉ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê.

Năm 1943, khi còn đang học ngành y ở Đại học Đông Dương, Trần Văn Khê trở về Nam lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sương – người bạn học cùng lớp triết ở Trường Pétrus Ký Sài Gòn. Bị sốt rét nặng, rồi nạn đói ở miền Bắc hoành hành, Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Tại quê nhà, ông dạy học và đi khắp nơi để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trở thành Giáo sư Đại học Sorbonne

Năm 1945, Trần Văn Khê tham gia kháng chiến, cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ. Các ông tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà (Bến Tre), đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… giúp ban tuyên truyền vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát cho thương binh nghe.

Cuối năm 1946, Trần Văn Khê về Sài Gòn vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh văn. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, vì các hoạt động yêu nước, Trần Văn Khê bị thực dân Pháp bắt giam tại khám Catinat. Sau khi được trả tự do, năm 1949, Trần Văn Khê cùng một số bạn rời Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn” vừa đi du học. Ông ra đi với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng làm “phóng viên” với các báo kể trên. Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều nghề.

Suốt thời gian từ 1949 – 1951, ông viết mục “Điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều, viết du kí, phóng sự cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Sau đó, Trần Văn Khê thi đỗ vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po và tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch quốc tế sau hai năm miệt mài học tập và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Sau khi tốt nghiệp, ông phải đi điều trị bệnh và giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng.

Cuối năm 1954, ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris, Pháp. Để có tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc như thuyết trình về âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC, đóng phim, lồng tiếng… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một “thầy đờn” Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê và NSND Phùng Há. 

Về với cội nguồn

Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO. Ông không ngần ngại thừa nhận rằng, công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước.

Từ năm 1976 – 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng. Mỗi năm, ông dành ra 2-3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong nước. Những kiến thức bác học và cách thuyết trình tài hoa của GS.TS Trần Văn Khê đã gieo vào lòng nhiều thế hệ sinh viên tình yêu âm nhạc truyền thống và niềm tự hào về quê hương, dân tộc. Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước.

Gần nửa thế kỉ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở 67 quốc gia trên thế giới, GS.TS Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS.TS Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc.

Năm 2003, sau hơn nửa thế kỉ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS.TS Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn “Đại từ điển âm nhạc thế giới”, được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng “Vinh danh nước Việt”…

GSTS Trần Văn Khê có 4 người con. Hai con trai là GS.TS Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris và Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TPHCM. Hai con gái của ông là Trần Thị Thuỷ Tiên (sống tại Paris) và Trần Thị Thuỷ Ngọc (nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Nối nghiệp cha, GS.TS Trần Quang Hải (SN 1944) đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học năm 1973, đã trình diễn khoảng 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 65 quốc gia trên thế giới, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Châu Âu, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học trên thế giới, tham dự hơn 130 liên hoan âm nhạc quốc tế. Ông là người sáng tạo ra lối hát đồng song thanh độc đáo, là hội viên của 20 hội nghiên cứu nhạc học quốc tế; một chuyên gia về âm thanh học và âm nhạc dân tộc.

Ông được tặng thưởng Huy chương vàng của Hàn lâm viện Văn hóa Á châu (1986); Tiến sĩ Danh dự của International – Hoa Kỳ (1987); Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về đàn môi (1998 và 2002), vinh dự được Tổng thống Pháp Jacques Chirac tặng Bắc đẩu Bội tinh.

Kỳ cuối: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người làm sôi động cả Sài Gòn

http://laodong.com.vn/am-nhac/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-tu-lang-vinh-kim-toi-dai-hoc-sorbonne-phap-355020.bld

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

(LĐĐS) – Số 26 Song Kỳ – Nam Yên – 2:20 PM, 15/07/2015
Gánh hát Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện.

Đất Vĩnh Kim (thuộc huyện Châu Thành, tỉnh tiền Giang ngày nay) nổi tiếng từ xưa là miền đất sinh ra nhiều tài năng âm nhạc dân tộc. Gia tộc họ Trần của GS.TS Trần Văn Khê là một tộc họ nổi danh về âm nhạc và là niềm tự hào không chỉ cho Tiền Giang mà cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn đời âm nhạc dân tộc

Dòng họ Trần trên đất Vĩnh Kim có xuất xứ là nhạc quan của triều đình Huế. Bất mãn cảnh nước mất nhà tan, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã từ bỏ kinh thành, di cư vào Nam vào khoảng năm 1860. Tại làng Vĩnh Kim, ông đã dừng chân và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua ngón đàn kìm. Ông Bảy Triều kết hôn với bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành, 1899-1930, cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương), cũng là một người xuất thân trong gia đình âm nhạc. Ông Bảy Triều và bà Tám Dành sinh 3 người con, con trai trưởng là Trần Văn Khê, một tài năng âm nhạc dân tộc kiệt xuất sau này.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tì bà. Ngoài ra, bà còn có tài thêu thùa may vá và chính nhờ nghề này, bà đã nuôi sống cả gia đình. Chồng cô Ba Viện là con một ông Phán mê âm nhạc ở đất Mỹ Tho, họ lấy nhau được hơn một năm thì sinh con, nuôi được ba tháng thì mất; sau đó không lâu, chồng bà cũng mất theo. Cảm thương tình cảnh góa bụa sớm, gia đình bên chồng cho bà về lại quê nhà. Thuở đó, người ta nói bà là hồng nhan bạc phận, một kiếp lênh đênh trên cõi đường tình duyên.

Khoảng năm 1915-1916, bà Ba Viện lên Sài Gòn dạy đàn ở trường nữ sinh Áo Tím (Trường Gia Long cũ, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai). Ở trường, bà đọc nhiều sách báo tiến bộ của các nhà yêu nước, các chí sĩ tiền bối nên ý thức chính trị được giác ngộ, nâng cao hiểu biết rộng rãi hơn nhiều phụ nữ đương thời. Nhưng cũng vì thế mà bà bị mật thám Pháp tình nghi làm “quốc sự” cùng với em rể là giáo sư Nguyễn Văn Bá – chủ bút tờ báo Thần Chung. Đến năm 1926, sau lần đi dự đám tang cụ Phan Chu Trinh, bà bị nhà trường đuổi việc. Từ đó, trường Áo Tím cũng dẹp luôn môn dạy đàn.

Gánh hát Đồng Nữ Ban

Về lại quê nhà Vĩnh Kim, bà Ba Viện tham gia hoạt động kháng Pháp. Lúc bấy giờ, nhiều người yêu nước nghe tiếng, thường xuyên tới lui thăm viếng, trong số đó có ông Nguyễn An Ninh và ông xem bà như người chị ruột. Năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Mỹ Tho thành lập, sau đó Chi bộ xã Vĩnh Kim, thuộc tổ chức trên cũng được thành lập. Để góp phần tuyên truyền, kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân, đồng thời tạo ngân quỹ cho chi bộ xã, bà Ba Viện – với sự góp sức của người em dâu là Nguyễn Thị Dành – đã hăng hái đứng ra thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban, đảm nhiệm vai trò bầu gánh và đạo diễn.

Nói thêm về bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) còn gọi là Tám Dành, sinh trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở xã Vĩnh Kim. Bà là cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương và là con của ông Nguyễn Tri Túc – một nghệ nhân nhạc tài tử ở địa phương – và là em gái của soạn giả Nguyễn Tri Khương – người sáng tác tuồng “Giọt máu chung tình” nổi tiếng một thời. Năm 1918, bà Dành kết hôn với ông Trần Văn Triều. Năm 1927, bà là người đầu tiên ở xã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1930, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản và được Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ định làm Bí thư đầu tiên của Chi bộ xã Vĩnh Kim…

 GS.TS Trần Văn Khe (lúc nhỏ) và mẹ.

Ngày 3.5.1930, sau một cuộc biểu tình của hàng ngàn người tại Cao Lãnh, bà bị lính đối phương đâm trọng thương. Dù được đưa lên Sài Gòn điều trị, nhưng do vết thương quá nặng lại bị đau tim và sảy thai nên bà đã mất vào ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930), hưởng dương 31 tuổi. Bà qua đời để lại 3 người con nhỏ, về sau đều nên danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ  Thủy Ngọc (tên thật làTrần Ngọc Sương) .

Vào khoảng giữa năm 1928, lần đầu tiên gánh hát Đoàn Nữ Ban ra mắt khán giả vở “Giọt máu chung tình”, nội dung là câu chuyện tình của hai nhân vật Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, diễn tại cầu Ba Lung, xã Vĩnh Kim, được nhân dân háo hức cổ vũ. Trong một bài viết, GS Trần Quang Hải (con GS.TS Trần Văn Khê) đã nêu lên những đặc điểm của gánh Đồng Nữ Ban như sau: Gánh hát không có kép nam (do vậy mang tên là Đồng Nữ Ban), quy tụ con em tuổi từ 17 – 20 của những gia đình nông dân, điền chủ trong làng Vĩnh Kim và các làng lân cận Bình Hoà Đông, Rạch Gầm, Kim Sơn, Long Hưng.

Các diễn viên sống nội trú, có thời khoá biểu các môn học chữ, học nữ công, học võ thuật để dùng trong những lớp tuồng. Khi đi lưu diễn, cạnh chiếc ghe con chuyên chở thầy đàn, thầy võ, bà Ba Viện cùng tất cả diễn viên ở chung trong một chiếc ghe chài to chứa được mấy mươi người. Ngoại trừ lúc biểu diễn, tất cả diễn viên đều phải mặc áo dài tím (vì cô Ba Viện trước kia là giáo viên dạy đàn cho Trường Áo Tím, nên thích áo dài tím). Tích tuồng không dùng lịch sử Trung Quốc mà lấy trong sử Việt Nam như: Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Quang Trung – Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Xiêm ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – quê hương Vĩnh Kim, máu chảy ruột mềm… Trong số đó, vở diễn chủ lực là “Giọt máu chung tình” của soạn giả Nguyễn Tri Khương.

Ngoài những bài bản nhạc tài tử thông thường như Tây Thi Cổ bản, Lưu thủy đoản, Lưu thủy trường, Hành Vân, Tứ đại Oán, Dạ cổ hoài lang, gánh Đồng Nữ Ban còn sử dụng nhiều bản mới do ông Nguyễn Tri Khương đặt thêm theo phong cách cổ truyền như Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Thất trĩ bi hùng… Cảnh trí, trang phục đều do cô Ba Viện thiết kế dàn dựng và may ráp, không lấy kiểu theo hát bội. Động tác diễn đều do cô Ba Viện sắp đặt, với phương châm diễn xuất phải “nhập tâm, nhập vai”, diễn xuất theo tình cảm chân thật của mình, không “cường điệu”.

Trong bài viết “Đồng Nữ Ban – gánh cải lương toàn phụ nữ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam”, TS Nguyễn Phúc Nghiệp nhận xét: Nhận thấy tính cách “quốc sự” của gánh, nên giới cầm quyền thực dân ở Nam kỳ đã ra lệnh cho Đồng Nữ Ban phải ngưng hoạt động vào năm 1929. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng gánh Đồng Nữ Ban là niềm tự hào của nữ giới Tiền Giang trong công cuộc vận động giải phóng dân tộc và góp thêm vào sự đa dạng của sân khấu cải lương trong những năm 20 của thế kỉ vừa qua.

Đến khoảng giữa năm 1929, do sự khủng bố gắt gao của đối phương, gánh hát Đồng Nữ Ban phải giải tán. Khi không còn đoàn hát nữa, bà Ba Viện về ở nhà người em là ông Bảy Triều, sống một cuộc đời thanh bạch. Ở đây, bà đã hết lòng nuôi dạy các cháu của mình là Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Trần Thị Mộng Trung khi mẹ các cháu mất sớm. Bà Trần Ngọc Viện mất năm 1944, thọ 60 tuổi.

Cố học giả Vương Hồng Sển khen ngợi bà Ba Viện như sau: “Bà Trần Ngọc Viện là chị nhà tài tử vắn số Bảy Triều. Nay mộ (bà) chôn ở giữa hai mộ vợ chồng em trai Bảy Triều tại làng Vĩnh Kim… Bà biết ca và sử dụng cây thập lục tươi mướt. Bà từng làm cách mạng, không sợ vào khám và đã nếm cơm tù nhiều lần. Đứng về mặt mĩ thuật và văn hóa, bà có công đào tạo mớ đào cải lương và người lỗi lạc để tiếng nhắc đời không ai khác hơn là cô Năm Phỉ”. Nói về bà, trong bài ca trù “Địa linh nhân kiệt” của Hồng Thuận Đăng có đoạn viết như sau: “Người chợ Giữa đi khắp bốn phương hồ hải/Giỏi vạn nghề há phải một nghề thi/Nầy! Ngón tơ đồng trong sáu tỉnh chưa có tương tri/Chơi phong nhã, nói gì cờ với vẽ/So kim cổ biết bao nhiêu kẻ/Dẫu thoa quần cũng san sẻ gánh non sông/Chuyện năm xưa ai có nhớ không?/Ôi! Dân khí, dân quyền rền một lúc…”.

Trần Văn Khê (sinh ngày 24.7.1921) đã lớn lên, được giáo dục và thụ hưởng truyền thống âm nhạc dân tộc trong một gia đình như thế. Chỉ tính từ khi họ Trần từ kinh đô Huế vào đất Vĩnh Kim đến đời Trần Văn Khê đã có 4 đời làm nhạc sĩ. Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị) và được cô ruột Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) dạy đàn tranh. Từ đó, ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng Đại học Sorbonne ở thủ đô Paris nước Pháp.

Kỳ tới: Từ làng Vĩnh Kim đến Đại học Sorbonne – Pháp

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng
  • Nhiều nghệ sĩ xúc động viếng thăm GS Trần Văn Khê
  • Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến viếng GS Trần Văn Khê
  • Video: Hàng nghìn người tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng
  • Video: Hai cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn điêu luyện khiến người nghe ngây ngất
  • Dàn nhạc dân tộc tấu khúc tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê
  • Phạm Duy qua hồi ức của Giáo sư Trần Văn Khê
  • http://laodong.com.vn/xa-hoi/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-ky-2-mot-gia-dinh-dai-thu-am-nhac-351433.bld