Archives pour la catégorie UNESCO ICH

THANH PHƯƠNG : Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Phát Thứ hai, ngày 10 tháng sáu năm 2013
Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.RFI

Hát ví và hát giặm Nghệ Tĩnh đã được Việt Nam đề nghị với tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong danh sách của năm 2014.

Trước khi từ Paris về Việt Nam để dự một hội thảo về hồ sơ hát ví và giặm Nghệ Tĩnh chuẩn bị cho hồ sơ nộp UNESCO, giáo sư Trần Quang Hải, nhà dân tộc nhạc học đã dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn về nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này, cũng như về việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.

Giáo sư Trần Quang Hải 06/06/2013 Nghe

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130610-cac-di-san-van-hoa-phi-vat-the-chua-duoc-bao-ton-dung-dan

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 3) , 2.12.2013

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 3)

Ajoutée le 23 déc. 2013

Ngày 02/12/2013 tại nước Cộng hòa Azerbaijan, Chủ tịch hội đồng UNESCO công bố, Đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được ghi vào danh sách văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 2), 2.12.2013

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 2)

Ajoutée le 23 déc. 2013

Ngày 02/12/2013, tại Thủ đô Baku của Azerbaijan, Chủ tịch hội đồng UNESCO công bố, Đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được ghi vào danh sách văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái dẫn đầu.

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 1) , 02.12.2013

Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa của nhân loại (phần 1)

Ajoutée le 23 déc. 2013

Ngày 02/12/2013, tại Thủ đô Baku của Azerbaijan, Chủ tịch hội đồng UNESCO công bố, Đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được ghi vào danh sách văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái dẫn đầu.

WIKIPEDIA : Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Tại Việt Nam hiện đã có 9 di sản phi vật thể được UNESCO công nhận như sau:

  • Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 27/11/2014.
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào năm 2013
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  • Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.
  • Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
  • Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 01/10/2009.
  • Dân ca quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009.
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Các đề cử mới[2] cho di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam
  • Các nghi thức và trò chơi Kéo co ở Việt Nam, Hàn Quốc, Philipin và Campuchia là hồ sơ đa quốc gia đầu tiên, đề cử trong kì họp năm 2015.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đề cử trong kì họp năm 2016.[3]
  • Nghệ thuật Bài Chòi miền Trung Việt Nam đề cử trong kì hợp năm 2017.
  • Nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái đề cử năm 2018.
  • Nghệ thuật Xòe Thái đề cử năm 2019.
Các đề cử dự kiến sau năm 2020
  • Nghề làm gốm của người Chăm (Bình Thuận) (dự kiến sau năm 2020)
  • Kiến thức và Thực hành Thổ Canh Hốc Đá của các dân tộc thiểu số tại Vùng cao nguyên đá Hà Giang (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghề làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) (dự kiến sau năm 2020)
  • Múa rối nước (dự kiến sau năm 2020)
  • Sử thi Tây Nguyên (tỉnh Đak Lak chủ trì) (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghi lễ Cấp Sắc của người Dao (dự kiến sau năm 2020)
  • Nghệ thuật Hát dù kê của người Khơ Me

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BB%87t_t%C3%A1c_di_s%E1%BA%A3n_truy%E1%BB%81n_kh%E1%BA%A9u_v%C3%A0_phi_v%E1%BA%ADt_th%E1%BB%83_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A2n_lo%E1%BA%A1i

WIKIPEDIA : Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại… đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.[1] Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trùHội Gióng. Đến năm 2014, các tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau mỗi tỉnh sở hữu từ 2 đến 3 danh hiệu UNESCO; Các tỉnh Bắc Kạn, Bình Định, Cao Bằng, Đà Nẵng, Điện Biên, Hòa Bình, Khánh Hòa, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái chưa từng sở hữu một danh hiệu UNESCO nào.

Mục lục

Di sản thế giới tại Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam đã có 8 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:

  1. Vịnh Hạ Long, được công nhận năm 1994 theo tiêu chí (vii) và năm 2000 theo tiêu chí (viii).
  2. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí (viii).
  1. Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (IV).
  2. Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V).
  3. Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (III).
  4. Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí(II) (III) và (VI).
  5. Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) và (iv)
  1. Quần thể danh thắng Tràng An, theo các tiêu chí (VII) và (VIII) của một di sản thiên nhiên thế giới và tiêu chí (V) của một di sản văn hóa thế giới.

Di sản phi vật thể tại Việt Nam

Tại Việt Nam hiện đã có 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận là kiệt tác của nhân loại theo thứ tự từ mới nhất đến cũ nhất là:

  • Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 27/11/2014.
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 5/12/2013 tại phiên họp Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan.
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  • Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.
  • Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
  • Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 01/10/2009.
  • Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009.
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam

Việt Nam hiện có 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm:

Di sản tư liệu tư liệu thế giới tại Việt Nam

Việt Nam hiện có 4 di sản tư liệu thế giới gồm:

  • Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam do UNESCO công nhận ngày 31 tháng 7 năm 2009. Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng.
  • Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long đã được công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc.
  • Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm (tỉnh Bắc Giang) đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 16/05/2012;
  • Châu bản triều Nguyễn (kho tài liệu đồ sộ này đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I, số 18 Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 14/5/2014;

Các di sản tư liệu khác:

  • Đề cử di sản tư liệu thế giới thất bại: Kho mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), công bố ngày 26/5/2011. Tuy nhiên nó đã được công nhận là di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương và tiếp tục được đề cử vào di sản tư liệu thế giới.
  • Đầu năm 2014, Việt Nam đã trình hồ sơ lên UNESCO đề cử Châu bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới.[10] Ngày 14/5/2014, Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.[11]
  • Các di sản tư liệu thế giới đang chuẩn bị đề nghị UNESCO công nhận: bộ kinh Phật cổ ở chùa Dâu (Bắc Ninh), các cột kinh, sách đá chùa Nhất Trụ (Ninh Bình), Bản thảo của Bác Hồ (Hà Nội), cuốn sách « Hoa Lư thi tập« [12]

Mạng lưới Công viên địa chất Việt Nam

Việt Nam hiện có cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào năm 2010.

Theo TS. Trần Tân Văn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thì viện này đã cùng một số đối tác trong và ngoài nước triển khai trên khoảng 25 khu vực và đã xác định được 15 khu vực có thể xây dựng thành CVĐC Quốc gia. Trong đó khoảng 1/3 đến ½ khu vực hoàn toàn có khả năng trở thành Công viên địa chất Toàn cầu như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quần đảo Cát Bà (Hải Phòng), Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội), Vườn quốc gia Cúc PhươngCố đô Hoa LưTràng An (Ninh Bình), Vườn quốc gia Hoàng Liên – Sapa (Lào Cai), Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và vùng đệm (Quảng Bình)…[13][14][15]

Xem thêm

Liên kết ngoài

  1. ^ Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới
  2. ^ “Can Gio Mangrove”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  3. ^ “Cat Tien Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  4. ^ “Cat Ba Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  5. ^ “Red River Delta Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  6. ^ “Kien Giang”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  7. ^ “Western Nghe An Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  8. ^ “Mui Ca Mau Biosphere Reserve”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  9. ^ “Cu Lao Cham”. Trang thông tin điện tử của Chương trình loài người và sinh quyển (MAP)/UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  10. ^ Châu bản triều Nguyễn sẽ trở thành di sản tư liệu thế giới?, BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM, 19/01/2014
  11. ^ Châu bản triều Nguyễn được công nhận Di sản thế giới, 15/5/2014, VnExpress
  12. ^ Trao tặng UNESCO cuốn sách « Hoa Lư thi tập »
  13. ^ Việt Nam: Nhiều khu vực có thể trở thành Công viên Địa chất
  14. ^ Thêm 15 điểm có thể trở thành công viên địa chất
  15. ^ Việt Nam có tiềm năng xây dựng công viên địa chất

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh – vo –

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh – vo –

Ajoutée le 27 nov. 2014

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2014
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Ví and Giặm songs are performed by communities in north-central Viet Nam. They are sung while people cultivate rice in the fields, row boats, make conical hats or lull children to sleep. Songs focus on key values and virtues including respect for parents, loyalty, care and devotion, and the importance of honesty and a good heart. Singing provides people with a chance to ease hardship while working, to relieve sorrow in their lives and to express sentiments between men and women.
Country(ies): Viet Nam
© 2013 Institut de la Culture et des Arts du Viêt Nam [2013]
Duration: 00:09:54 – Support: DVD (0100800004)