Archives pour la catégorie TIỂU SỬ

Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI (tiếng Việt) cập nhựt 22.09.2017

TRAN QUANG HAI 2015.JPG

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

 

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

 

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)
  4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam . .
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .

 

SỰ NGHIỆP

  1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)
  2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
  3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)
  4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris
  5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc
  6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.
  7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris
  8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris
  9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris
  10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris
  11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.

 

Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .

 

Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) .

 

Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)

 

Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)

 

Từ 1970 tới 1975 : giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , Paris

 

Trong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương , và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam , đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987) , Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).

 

 

Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh . Ngoài ra còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội »của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998 .

 

Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản).

 

Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc)

 

Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988 , 1990, 1991, Paris)

 

Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh : « Le Chant diphonique » với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.

 

Ngoài ra nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này .

 

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giới

 

Tôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu :

 

Mỹ : University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000).

CANADA : Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)

BRAZIL : Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music , Rio de Janeiro (2006)

Nam Phi : University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)

Úc Châu : Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)

Đại Hàn : National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)

Nhật Bản : Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts , Osaka (2000).

Đài Loan : University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts , Taipei (2000, 2002)

Thái Lan : University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012)

Việt Nam : Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)

Lebanon : CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)

Đức : Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule , Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)

Belarus : Music Academy of Belarus, Minsk (1996)

Bỉ : Institute of Musicology , Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice , Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)

Đan Mạch : Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).

Tây Ban Nha : Summer University, Madrid (1990)

Pháp : Paris : Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)

Nice : Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)

Tours : Université de Tours (1975)

Montpellier : Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)

Toulouse : Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)

Marseille : Conservatoire National de Musique (1987)

Strasbourg : Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)

Mulhouse : Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)

Rennes : Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)

Poitiers : Université de Poitiers (2000)

Bordeaux : Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)

Lille : Université de Lille (2004)

Vương quốc Anh : Horniman Museum , London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),

Ái nhĩ lan : University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005),

Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini , Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice , Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).

Lituania : Music Academy of Lituana, , Vilnius (1997)

Na Uy – Norway : Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)

Hà Lan – Holland : Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden , Leiden (2000), University of Groningen , Groningen (1998)

Ba Lan – Poland : Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)

Nga – Russia : Âm nhạc viện Chaikowsky , Moscova (1993), Institute of World Music Research , Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)

Slovakia : Music Academy, Nitra (1997)

Thụy Điển – Sweden : Lund University , Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet , Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)

Thụy Sĩ – Switzerland : Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).

Yugoslavia : Music Academy, Sarajevo (1991)

Slovenia : Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)

Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)

 

ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

 

Trong vai trò nhạc sĩ  , tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:

1970 :

*Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France

*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran

 

1971 :

*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp – France

Semaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)

*Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany .

*Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp

*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland .

 

1972 :

*Pampelune Music Festival  (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain

*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Bỉ – Belgium

*Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France

*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.

 

1973 :

*Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France

*Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le   Havre, Pháp – France

*Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France .

 

1974 :

*Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France

*Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France .

*Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France

*Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands

 

1975 :

*Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France

*5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France .

*La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium

*Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France

*Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet , Pháp – France

 

1976 :

*Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France

*Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France

*Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France

*Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France

*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom

*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France

 

1977 :

*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA

 

 

1978 :

*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland

*Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France

 

1979 :

*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom

*Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway

 

1980 :

*Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France

*Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia

 

1981 :

*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC) , Seoul, Đại Hàn, Korea

 

1982 :

*Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France

*Polyphonix : Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

 

1983 :

*First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazil

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA

 

1984 :

*Polyphonix : Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA

*Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc) , Kaustinen, Phần Lan-Finland

*New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland

*Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland

*Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa

 

1985 :

*First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom

*Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France

*Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France

 

1986 :

*Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France

*Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France

 

1987 :

*Polyphonix : Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France

 

1988 :

*Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France

*World Music Festival (đại hội nhạc thế giới) , Melbourne, Úc châu – Australia

*People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy

*Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France

 

1989 :

*Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris , Pháp-France

*Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria

 

1990 :

*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song »( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan

*First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan .

*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.

*Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco

*Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany

*Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium

 

1991 :

*700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland

*Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France

*String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany

*Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands

 

1992 :

*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp

*Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France

*Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France

*Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada .

 

1993 :

*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France

*Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany

 

1994 :

*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco

*Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France

*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea

 

1995:

*Giving Voice : A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia

 

1996:

*Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy

*Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia

*1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA

 

1997:

*International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa

*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France

*Giving Voice : An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia

 

1998 :                                                                                                   

*International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain

*Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France

*Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France

*3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze , Ý-Italy

*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

 

1999 :

*Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch , Pháp – France

*Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France

*Giving Voice : A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan

 

2000:

*Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France

*Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France

*International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria

*Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany

*Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France

*International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy

*International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France

*Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan

 

2001 :

*Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France

*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France

*City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France

*Festival « Performato » (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore

*Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

 

2002 :

*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova , Ý –Italy

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA

*4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway

*International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia

 

2003

*International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway

*Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland

*International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany

*International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy

 

2004:

*World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China

*International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary

*International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France

*International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria

*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne culturelle *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh « Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France

*International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.

*International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany.

 

2005:

*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves”  (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy

*Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc.

*MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.

*1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy

*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*“30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France

*International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.

 

2006:

*Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA

*2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil .

*Festival « La Semaine du Son » (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France

*International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam

*Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.

*5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway

*International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia

*International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia.

*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.

*The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.

2007
*“Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)
*“Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)

*“Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)
*“Bergen International Music OI OI Festival”,  (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)
*“Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

 

 

*“39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)
*“PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC , hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)
*“International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)

2008

 

*“A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january)

 

*“Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia  (February

 

*“Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march)

*“Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june)

 

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

 

* »A Voix Haute » Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august)

 

*“MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA) , Oslo, Norway (august)

 

*“International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)

2009

*“Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july)

*“International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july)

*“MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)

2010

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july)

*“ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng) , Hanoi , Vietnam (july)

*“Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011

*“International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January)

*“International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april)

*“Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient , Pháp) Lorient, France (may)

 

*“World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june)

*“Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july)

*“41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s , Canada (july)

*“World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august)

*“Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september)

*“International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc) , Stavanger, Norway (september)

*“Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october)

*“30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november)

*“International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (december)

2012                                                                                                                

*Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april)                                                                         

*Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)

2013                                                                                                                           

*Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may)        

*42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM) , Shang Hai , China (july)                                                                                                         

*Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November)                                                                        

*Exhibition VOICE – « Voices of the World » (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)       

*Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december)            

*World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi) , Catania, Sicily, Italy (december)

2014                                                                                                                   

*Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February)                                                                                            

*“Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march)

*International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)                          

*Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august)                                                                                   

*10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october)                                                                                                   

*Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october)                             

*Festival « Il teatro vivo », (đại hội liên hoan nhà hát linh động)  Bergamo, Italy (november)

2015                                                                                                                   

*Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)                                                                         

*43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM) , Astana, Kazakhstan (july)

*Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc , Vietnam (september)

*Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso , Sardinia, Italy (october)

2016                                                                                                                   

*Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january)                                                                          

*Voice Encounters : Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april)                                                                                  

*International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng) , Vicenza , Italy (may)                                                                                                            

*Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)                                                                        

*Ancient Trance Festival , (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August)                                                                                                               

*12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE » (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg , Austria (august)

2017                                                                                                                            

*44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)

*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october)                                                                                  

*Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

 

Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

 

Hội Viên các hội nghiên cứu

 

  • Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969
  • Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978
  • ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976

(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành  – member of the Executive Board từ 2005)

  • Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977
  • International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978
  • Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997
  • Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980
  • Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)
  • CIMCIM (Unesco) từ 1983
  • Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.
  • Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979
  • Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)
  • Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987
  • Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.
  • Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980
  • International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.
  • International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)
  • Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.
  • Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)
  • American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)
  • American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)
  • World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).
  • Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

 

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

 

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

  • Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc
  • Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc
  • International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2017), Anh quốc
  • Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
  • Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc
  • International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .
  • International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
  • The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc
  • Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2017), Hoa Kỳ
  • 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ
  • International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc
  • Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2017), Pháp
  • Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ
  • Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ
  • Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ
  • Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
  • Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada
  • Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2017), Pháp
  • The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ
  • QUID, từ 2000 tới nay (2017) , Pháp
  • 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ
  • Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2017), nhà xuất bản IRMA, Pháp

 

 

NHỮNG GIẢI THƯỞNG

 

  • 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp
  • 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp
  • 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.
  • 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.
  • 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia
  • 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.
  • 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .
  • 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .
  • 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.
  • 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ
  • 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ
  • 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga
  • 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp
  • 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp.
  • 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.
  • 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc
  • 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .
  • 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.
  • 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia
  • 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

 

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

 

  • Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp
  • Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp
  • Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.
  • Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp .

 

DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

 

  • Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet
  • Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp
  • The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp
  • Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải .

 

   Dĩa hát của Trần Quang Hải đàn

  1. Vietnam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.
  2. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  3. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  4. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983 Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  5. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  6. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984.

5 Compact Discs

« Rêves et Réalité- Tran Quang Hai & Bach Yen  » do Playasound phát hành, PS 65020, Paris, 1988.

« Bach Yen – Souvenir « , William Arthur phát hành, Los Angeles, 1994

« Cithare Vietnamienne – Tran Quang Hai », do Playasound phát hành PS 65103,Paris, 1993.

« Landscape of the Highlands – Tran Quang Hai », do Music of the World phát hành, Chapell Hill, USA, 1997.

« Les Guimbardes du Monde – Tran Quang Hai », do Playasound phát hành, Paris,1997.

5 K7 thương mại về tân nhạc và dân ca Việt Nam

1 videocassette về nhạc truyền thống Việt Nam (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam  » (nhạc Việt Nam) do bộ giáo dục thành phố Perth (Úc châu) sản xuất (1989)

4 films on Tran Quang Hai

« Vietnam / Variations sur sa musique traditionnelle par Trân Quang Hai with Bach Yen », 46 phút, Bùi Xuân Quang (đạo diễn) , Paris Vietnam Productions (nhà phát hành), 2009

“Mystères des Voix du Monde avec Tran Quang Hai”, Patrick Kersalé (thực hiện), 24’58 , Paris, 2012

« Le Chant des Harmoniques par Tran Quang Hai », 20’11, Patrick Kersalé (thực hiện) tại đại hội liên hoan lần thứ 7 « Nghệ Thuật và Khoa học » ( Festival 7th Art & Sciences), Noirmoutier, France, 2013,

« HAI : parcours d’un musicien vietnamien à Paris » (HAI : quảng đường của một nhạc sĩ việt nam tại Paris), 52 phút, Pierre Ravach (đạo diễn) Bruxelles năm 2005, sản xuất tại  Paris (2015)

Tham gia vào những CD

« Voices of the World », 3 CD, sách nhỏ song ngữ Pháp – Anh (188 trang), do Le Chant du Monde sản xuất, bộ sưu tập CNRS/ Musée de l’Homme, Paris, 1996. Giải thưởng Hàn Lâm Viện Charles Cros 1997, giải thưởng Le Diapason d’Or năm 1997, giải thưởng Le CHOC năm 1997

« Vietnam: Musics of the Montagnards », 2 CD, sách nhỏ song ngữ Pháp- Anh (124 trang), do Le Chant du Monde sản xuất, bộ sưu tập CNRS/ Musée de l’Homme,

« Phillip Peris – Didjeridu » , do Les Cinq Planètes sản xuất, Paris, 1997.

« Klangfarben der Kulturen », do Staatliche Museen zu Berlin sản xuất, Berlin, 1998.

« World Festival of Jew’s Harp in Molln », 2CDs do Molln Jew’s Harp Ass.sản xuất, Austria, 1999.

Sáng tác của Trần Quang Hải

Nhớ Miền Thượng Du  (Nostalgia of the Highlands) cho Đàn Tranh (1971)

Xuân Về (The Spring Is Coming Back) cho Đàn Tranh (1971)

Tiếng Hát Sông Hương (The Song of the Perfumed River) cho Đàn Độc Huyền (1972)

Ảo Thanh (The Magic Sound) cho Muỗng (1972)

Về Nguồn (Return to the Sources) hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường, (1975)

Shaman cho Giọng, saxo, synthetizer (1982)

Hát Hai Giọng (Diphonic Song) cho hát đồng song thanh(1982)

Ca Đối Ca (Song vs Song) for hát đồng song thanh (1982)

Tùy Hứng Muỗng (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Độc Tấu Đàn Môi Mông  (Solo of Mong Jew’s Harp) for đàn môi (1982)

Tiếng Hát Đàn Môi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Đàn môi (1982)

Sinh Tiền Nhịp Tấu (Rhythm of Coin Clappers) for Sinh Tiền (1982)

Tiết Tấu Miền Thượng (Rhythm of the Highlands) for 2 Đàn Môi (1982)

Núi Ngự Sông Hương (Royal Mount and Perfumed River) for Đàn Độc Huyền (1983)

Nam Bắc Một Nhà ( North and South, the Same House) cho Đàn Tranh  (1986)

Chuyển Hệ (Modulation) cho Đàn Tranh(1986)

Trở Về Nguồn Cội (Return to the Origin) (electro-acoustical music – nhạc điện thanh) (1988)

Solo Thái cho Đàn Tranh  (1989)

Tambours 89 hợp tác vớiYves Herwan Chotard (1989)

Envol cho hát đồng song thanh (1989)

Chuyển Hệ Ba Miền (Metabole on three regions) cho Đàn Tranh (1993)

Mộng Đến Vùng Việt Bắc (Dream of Viet Bac) cho Đàn Tranh (1993)

Vịnh Hạ Long ( Ha Long Bay) cho Đàn Tranh (1993)

Sông Hương Núi Ngự (The Perfumed River and the Royal Mount) cho Đàn Tranh (1993)

Tiếng Vang Đàn Trưng Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) cho Đàn Tranh (1993)

Nhớ Miền Nam  (Nostalgia of the South) cho Đàn Tranh (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) cho Đàn Tranh (1993)

Vĩnh Long Thời Thơ Ấu (Vinh Long, My Childhood) cho Đàn Tranh (1993)

Cửu Long Giang Tbân Yêu (the Beloved Mekong River) cho Đàn Tranh (1993)

Hồn Viêt Nam (The Soul of Viet Nam) cho Đàn Tranh (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (Ở Bali, người ta nghe đàn môi) cho Đàn Môi  (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Phong cảnh Cao Nguyên) cho Đàn Môi (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nhớ vùng đất H’Mông) cho Đàn Môi (1997)

Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Kỷ niệm với Alexeiev và Chichiguine)  cho Đàn Môi(1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) cho Đàn Môi (1997)

Orient-Occident (Đông – Tây) cho Đàn Môi (1997)

Souvenir de Norvege (Kỷ niệm xứ Na Uy) cho Đàn Môi (1997)

Vietnam, mon Pays (Việt Nam, quê hương tôi) cho Đàn Môi (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) cho Đàn Môi (1997)

La Mélodie des Harmoniques (Giai điệu của bồi âm) cho Đàn Môi  (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Không Khí Cao Nguyên Việt Nam) cho Đàn Môi (1997)

Echo des montagnes (Tiếng Vang Núi Rừng) cho Đàn Môi (1997)

Taiga mysterieux (Taiga Huyền Bí) cho Đàn Môi (1997)

Le Saut des Crapauds (Cóc nhảy) cho Đàn Môi (1997)

Harmonie des Guimbardes (Hòa âm Đàn Môi) cho Đàn Môi (1997)

L’Univers harmonique (Vũ Trụ bồi âm) cho Đàn Môi (1997)

Consonances ! (Cộng Hưởng !) for Jew’s Harp (1997).

Vietnam, My Motherland (Việt Nam , Quê Mẹ của Tôi) cho Đàn Môi  (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 (chào mừng đại hội liên hoan đàn môi tại Molln)  for Jew’s Harp (1998)

Nhạc phim chop him “Long Vân Khánh Hội” 1980.

Nhạc phim chop him “Le Chant des Harmoniques” (bài ca bồi âm) 1989.

Nhạc phim chop him La Rencontre du Dragon et du Coq (Cuộc gặp gỡ giữa Rồng và Gà) (1997)

 

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

 

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

  • 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc
  • 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp
  • 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ
  • 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada
  • 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus
  • 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn
  • 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì
  • 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức
  • 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý
  • 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp
  • 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

 

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

 

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam  duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

 

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

 

Liên lạc : TRẦN QUANG HẢI

điện thoại di động : 06 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà : https://tranquanghai.com

https://tranquanghai1944.com

https://tranvankhe-tranquanghai.com

 

Địa chỉ: 12 Rue Gutenberg

94450 LIMEIL BREVANNES

FRANCE

MI0002761457.jpg

tqh-chant-des-harmoniques.jpg

tran quang hai joue des cuillers.jpg

tran-quang-hai-chc6a1i-c491c3a0n-mc3b4i-square.jpg

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRAN QUANG HAI biography / Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI

TRAN QUANG HAI Bio

Chan-dung-TQH

TRAN QUANG HAI

Tran Quang Hai was born on 13 May 1944 in Vietnam. He is a talented and renowned musician. He comes from a family of five generations of musicians. He studied at the National Conservatory of Music in Saigon before coming to France in 1961 where he studied the theory and practice of Oriental music with his father, Prof.Dr. Trân Van Khê at the Center of Studies for Oriental Music in Paris.

For several years, he also attended seminars on ethnomusicology at the School of High Studies for Social Sciences (he got the MA and Ph.D degrees), and acoustics with Prof. Emile Leipp.

He plays 15 or so musical instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe.Since 1966, he has given over 3,500 concerts in 70 countries, and has taken part in nearly 200 international traditional music festivals. He has taken part in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa, and Australia. He had been working for the National Center for Scientific Research (CNRS) in France since 1968, and was attached to the Department of Ethnomusicology of the Musée de l’Homme (Paris). He was a lecturer on South East Asian music at the University of Paris X – Nanterre (1988-1995). In 2009, he retired after 41 years (1968-2009) working as a researcher of the National Center for Scientific Research, Paris, France.

Apart from his artistic activities, he is also interested in musical research. He has improved the technique of spoon playing and of the Jew’s harp. In 1970 he found the key to the technique of overtone singing. The film « Le Chant des Harmoniques  » (The Song of Harmonics) which he co-produced with Hugo Zemp, and in which he was the principal actor and composer of the film music, has won four awards at international scientific film festivals in Estonia (1990), France (1990), and Canada (1991). He is considered as the greatest specialist in overtone singing in the world. He has written numerous articles on Vietnamese and Asian music (New Grove Dictionary of Music and Musicians, New Grove Dictionary of Musical Instruments, Algemeine Muziekencyclopedie, Encyclopaedia Universalis). He has also recorded 15 LPs and 2 CDs (one of which obtained the Grand Prix de l’Academie de Disque Charles Cros in 1983). He has composed hundreds of popular songs. His musical experience is very varied : contemporary music, electro-acoustical music, improvisation, film music. He continues to preserve and develop traditional Vietnamese music (numerous new compositions for the 16 stringed zither dàn tranh ).

He has received a Gold Medal for music from the Asian Cultural Academy, and honorary doctorates from the International University Foundation (USA), and the Albert Einstein International Academy (USA). Trân Quang Hai works with his wife Bach Yên who is a Vietnamese great folk singer. He has obtained more than 20 prizes and international awards.He was nominated President of the Jury of the Khoomei Throat Singing Festival (Tuva, 1995) He obtained the Cristal Medal of the National Center for Scientific Research (France, 1996).He was also President of Honor of the Festival d’Auch: Eclats de Voix (1999) and the Festival de Perouges / Au Fil de la Voix (2000). He was member of the Jury of the Song Contest 2000 « A Song for Peace in the World » in Roma (2000). And in June 2002, he received the medal of Knight of the Legion of Honor from the French President Jacques Chirac . In 2009,he was the recipient of the Medal of Honor, category Great Gold for his 41 years as a public servant of France .

He is the only Vietnamese to have taken part as a performer or composer in such great historical events as the Australia’s Bicentenary celebrations (1988), the Bicentenary of the French Revolution in Paris (1989), the 700th Anniversary of the Birth of Switzerland (1991), the 350th Anniversary of the Founding of Montreal (1992), the 500th anniversary of the discovery of America (1992), the 600 Years of Seoul-Korea (1994), the Jubilee of the King of Thailand (1996), the 1,000 Years of Trondheim in Norway (1997).

Discography

  1. Vietnam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.
  2. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  3. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  4. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983.Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  5. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  6. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984.

5 Compact Discs

« Reves et Realite- Tran Quang Hai & Bach Yen  » edited by Playasound PS 65020, Paris, 1988.

« Bach Yen – Souvenir « , edited by William Arthur, Los Angeles, 1994

« Cithare Vietnamienne – Tran Quang Hai », edited by Playasound PS 65103,Paris, 1993.

« Landscape of the Highlands – Tran Quang Hai », edited by Music of the World, Chapell Hill, USA, 1997.

« Les Guimbardes du Monde – Tran Quang Hai », edited by Playasound, Paris,1997.

5 commercialized cassettes on pop and folk music of Vietnam

1 videocassette on Vietnamese Music (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam  » produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)

4 DVDs

Le Chant diphonique”, CRDP, co author : tran quang hai & luc souvet, 27 minutes, Saint Denis, Ile de la Réunion, 2002.

« Le Chant des harmoniques », CNRS Audiovisuel, co author : tran quang hai & hugo zemp, 38 minutes, (French version) Paris, 2005

« The Song of Harmonics », CNRSS Audiovisuel, co author : tran quang hai & hugo zemp, 38 minutes, (English version), Paris, 2006

“La Voix”, Lugdivine editions, author: Patrick Kersalé, with the cooperation of Tran Quang Hai, 100 minutes, Lyon, 2006.

2 films on Tran Quang Hai

“HAI : parcours d’un musician vietnamien” (HAI : path of a Vietnamese musician), author: Pierre Ravach, 52 minutes, Brussels, 2005.

« Vietnam – Musique Traditionnelle – Trân Quang Hai », author : Bùi Xuân Quang, 46 minutes, Paris , 2009

Participation to these CDs

« Voices of the World », 3 CD, booklet in French/English (188pages), edited by Le Chant du Monde, collection CNRS/Musée de l’Homme, Paris, 1996. Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros 1997, Le Diapason d’Or de l’Année1997, Le CHOC de l’Année 1997.

« Vietnam: Musics of the Montagnards », 2 CD, booklet in French/English (124pages), edited by Le Chant du Monde, collection CNRS/Musée de l’Homme,Paris, 1997. Le Diapason d’Or, Le CHOC

« Phillip Peris – Didjeridu » , edited by Les Cinq Planètes, Paris, 1997.

« Klangfarben der Kulturen », edited by Staatliche Museen zu Berlin, Berlin, 1998.

« World Festival of Jew’s Harp in Molln », 2CDs edited by Molln Jew’s Harp Ass., Austria, 1999.

Performer of more than 3,500 concerts in 70 countries around the world since 1966.

Performer of more than 1,500 school music concerts organized by JMF (Jeunesses Musicales de France), JMB (Jeunesses Musicales de Belgique), JMS (Jeunesses Musicales de Suisse), Rikskonsertene of Norway and Sweden from 1971 to 2005

Performer at more 150 International Music Festivals.

1970: International Sound Festival, Paris, France Festival of Arts Chiraz-Persepolis, Iran.

1971: Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales(GRM),Paris. Indochinese Cultural Week, Geneva, Switzerland Oriental Music Festival, Berlin, Germany. Ajaccio Music Festival, Ajaccio, Corsica,France 15 Days of Folk Music with the Bourdon Folkclub, Geneva, Switzerland.

1972: Pamplona Music Festival, Pamplona, Spain « La Geolette d’or », Knokke le Zoute, Belgium Traditional Music Festival, Vesdun, France. SIGMA 8: Contemporary Music Festival, Bordeaux, France

1973: Music Festival of Royan, Royan, France. International Folk Music Festival, Le Havre, France. International Festival of Culture and Youth, Presles, France

1974: Folk Music Festival, Bezons, France International Folk Music Festival, Colombes, France Music Festival of Haut Var, Haut Var, France Musicultura, Breukelen, The Netherlands.

1975: Three Days of Folk Music, Conflans Sainte Honorine, France Vth Contemporary Music Festival, Bourges, France. « La Geolette d’Or », Knokke le Zoute, Belgium Festival of Unwritten and Traditional Music, Chélon sur Saçne, France. International Folk Festival, Olivet, France.

1976: The Spring of Present Peoples, Paris, France Summer Music Festival, Chailles, France Festival of Marais, Paris, France International Musical Days, Vernou, France. A Month of Asian Arts, Alençon, France Durham Oriental Music Festival, Durham, United Kingdom. South East Asian Music Festival, Laon, France.

1977: International Musical Days, Vernou, France World Music Festival, Berkeley, USA.

1978: International Musical Days, Vernou, France Traditional Music Festival, Lugano, Switzerland. Saint Jean Music Festivities, Dieppe, France.

1979: Durham Oriental Music Festival, Durham, United Kingdom. International Contemporary Music Festival, Clichy, France.

1980: Autum Festival, Paris, France. International Folk Music Festival, Sarajevo, Yugoslavia.

1981: Asian Music Festival, Seoul, Republic of Korea.

1982: Kuhmo Chamber Music Festival, Kuhmo, Finland Polyphonix: Poetry and Music Festival, Paris, France.

1983: First Third World Music Festival, Rio de Janeiro, Brazil.

1984: Polyphonix: Poetry and Music Festival, New York, USA.(may) Kaustinen Folk Music Festival, Kaustinen, Finland. (june) Vitaasarii New Music Festival, Vitaasarii, Finland. (june) Kuhmo Chamber Music Festival, Kuhmo, Finland. (june) Festival of World Musical Cultures, Cape Town, South Africa.(july)

1985: First World Music Festival, Belfast, Northern Ireland, United Kingdom. (april) International Music Festival, Langeais, France.(june) Estival Festival, Paris, France.(july)

1986: Music Festival of Three Continents, Nice, France( june) Traditional Music Festival – North-South, Paris, France. (september) Festival of Immigrant Musics, Paris, France. (september)

1987: Polyphonix: Poetry and Music Festival, Paris, France. (april) Folk Music Festival, Ris Orangis, France. (may)

1988: First Meetings of Vocal Expressions, Abbaye de Fontevraud, France.(april) Festival of World Music, Melbourne, Australia. (200 Years of Australia) (august) Peoples Music Festival, Milan, Italy. (may) Asian Music Festival, Etampes, France.(june)

1989: Bicentennial of the French Revolution, Paris, France. (july) Intercultural Festival, Saint Herblain, France. (july)

1990: Music Festival: « Blossoming Sounds, Floating Songs », Osaka, Japan. (july) First Forum of Asian and Pacific Performing Arts, Kobe, Japan. (july) Asian Music Festival, Tamba, Japan. (july) Traditional Music Festival, Arzila, Morocco.(august) Berlin Music Festival, Berlin, Germany. (september) Vox Populi, Brussels, Belgium (october)

1991: 700 years of Switzerland, Lausanne, Switzerland. (june) Saint Denis Music Festival, Saint Denis, France. (june) String Music Festival, Berlin, Germany.(september) Vox Festival, Rotterdam, The Netherlands (february)

1992: 4th Meetings of Polyphonic Songs, Calvi, Corsica, France. Festival around the Voice, Argenteuil, France Festival about the Spirit of Voices, Perigueux, France. Music Festival, Montreal, Canada (350 years of Montreal).

1993: Folk Music Festival / Ris Orangis, France. (may) Voice Festival, Volterra, Italy.(june)

1994: Traditional Music Festival, Azilah, Morocco (august) World Music Festival, Nantes, France. (september) First Festival and Conference of the Asian / Pacific Society for Ethnomusicology,Seoul, Korea (november)

1995: Giving Voice: A Geography of the Voice, Cardiff, Wales, United Kingdom.(april) 2nd International Festival of Throat Singing, Kyzyl, Tuva, Russia.(june) International Festival of Choir, Musica Choralis, Luxembourg. (september)

1996: International Symposium of Vietnamese Music, Saint Paul, Minnesota, USA (march) Giving Voice: An Archeology of the Voice, Cardiff, Wales, United Kingdom (april) Festival of Oriental Music, Les Courmettes, France (june) 4th World Symposium of Choir, Sydney, Australia (august) Stuttgarter Stimmtage 96, Stuttgart, Germany (september) International Symposium on Ethnomusicology, Minsk, Belarus.(october) 3rd International Conference and Music Festival of the Asia/Pacific Society for Ethnomusicology, Mahasarakham, Thailand.(december)

1997: International Symposium: An Archeology of the Voice, Wales.(april) International Conference of the ICTM, Nitra, Slovaquia.(june) International Symposium and World Music Festival, Cape Town,South Africa (july). Mediteria – Festival of Traditional Music, Montpellier, France (october) Festival of World Music, Montigny, France (november) International Symposium of Ethnomusicology, Vilnius, Lithuania.(december) UNESCO-International Seminar on bamboo, Ho Chi Minh City, Vietnam (december)

1998: TokkerFestival, Amsterdam, the Netherlands (february 7-8) Festival of Mediterranean Musics, Genova, Italy (march 10-12) Transcendant Asia: A Celebration of Asian Music in Europe, London, England (april 23-24) Vietnamese Spring Festival, Paris, France. (april/may) Voice Festival, Auch, France( may) 3rd International Jew’s Harp Festival, Molln, Austria.(june 22-28) Bartok Music Festival, Hungary.(july 4-11) 23rd Saint Chartier/ Rencontres Internationales de Luthiers et Maîtres Sonneurs (July 11-14) Autres Rivages/World Music Festival, Uzes, France (1-2 August) International Music Festival, Bergamo, Italy (19-20 september) Asian Music Festival, Firenza, Italy (october) International Festival of Voice, Rio de Janeiro, Brazil. (november)

1999: Voice Festival: Between Heaven and Earth, Chartreuse de Valbonne, France (12 march) Symposium: Culture and Mathematics, Venise, Italy (26-28 march) Voice Festival: Eclats de Voix, Auch, France (30 marsch and 29 may ) Symposium : A Divinity of the Voice, Aberystwith, Wales (1-11 april ) Festival of Voices of the World, Bruxelles, Belgique (1-5 june ) Festival Bela Bartok, Sombathely, Hongrie (14-19 july) World Conference ICTM, Hiroshima, Japon (18-24 august) Yoga International Congress, Montélimar, France (29-31 october)

2000 : SCONTRI – Festival of Corsican Culture, Paris, France (12-13 february) 2ème Congrès annuel des Professtionnels de la Voix, Enghien les Bains (26-27 february) Printemps musical de Pérouges / Au Fil de la Voix, Pérouges, France (may-june) Tanz & Folk Fest Rudolstadt 2000, Rudolstadt, Allemagne, 4-7 july) Congrès international sur l’enseignement de la voix, VASTA, Virginia, USA (6-9 august) 6th Annual CHIME Conference, Leiden, Pays-Bas (23-27 august) Festival de Voix d’homme, Bretagne, France (15-17 september) Congrès sur la Voix parlée, Stuttgart, Allemagne, (21-24 september) Annual Congress of Acousticians , Kumamoto, Japon (3-5 october) International Congress of Traditional Music, Taipei, Taiwan (6-15 october)

2001 : Symposium of Voice, Lyon, France (february) Festival of Traditional Music, Denain, France (may) City of London Festival , London, U.K. (june) Festival  » Performato « , Rio de Janeiro, Brazil (july) International Festival of Choral Music, Singapore (august) Festival  » 1000 faces of Voice, France (september)

2002 : World Music Festival, Rennes, France (february) International Voice Festival, Genoa, Italy (may) 13th Vivonne World Music Festival, Vivonne, France (may) Music Day Festival, Beyrouth, Lebanon, (21 june) 6th World Symposium of Choral Music, Minneapolis, Minnesota, USA (august) World Festival of Jew’s Harps, Raudal, Norway (september) International Congress of Polyphony, Tbilissi, Georgia, (october)

2003 : Making New Waves Contemporary Music Festival, Budapest, Hungary (February)

International Seminar of Shamanism , Genoa, Italy (June)

Telemark Folk Music Festival, Bo, Norvay (August)

International Congress of Psychotherapy , Hannover, Germany (September)

Suoni di Mondo Festival , Bologna, Italy (November)


2004

World Conference of the ICTM, Fushou, China (january)
International Festival « Making New Waves », Budapest, Hungary. (february)
International Congress of Musical Acoustics, Nara, Japan (april)
International Congress of Acoustics, Kyoto, Japan (april)
International Congress of Yoga, Vogüe, France (may)
3rd Festival « Le Rêve de l’Aborigène », Poitiers, France(july)
International Congress of Shamanism, University of Donau, Krems, Austria (july)
Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre « Lille, Ville européenne culturelle 2004 , Lille, France (july)
International Seminar on Voice, University of Reading, Reading, United Kingdom (july)
International Symposium of Sung and Spoken Voice, Stuttgart, Germany (september)

2005
International Festival of Avant Garde Music « Making New Waves », Budapest, Hungary (february)
International Festival of Choral Music, Arnhem, the Netherlands (april)
International Festival of Mediterranean Music, Genova, Italy (june)
Sunplash Festival of Reggae music, Italy (june)
World Conference of the ICTM, Sheffield, United Kingdom (august)
MELA Festival, Oslo, Norway (august)
1st World Festival of Marranzanu, Cantania, Sicily, Italy (september)
International Symposium of Voice, Stuttgart, Germany (september)
« 30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace », Mulhouse, France (october)
International Festival of Traditional Music, Limerick, Ireland (october)

2006
Têt in Seattle, Seattle, USA (january)
2ème Rencontre sur la parole chantée, Rio de Janeiro, Brazil (may)
Festival « La Semaine du Son », Châlon sur Saône, France (june)
International Seminar on Ca Trù, Hanoi, Viet Nam (june)
Festival international des Musiques sacrées, Fribourg, Switzerland (july)
5th International Jew’s Harp Festival, Amsterdam, the Netherlands (july)
MELA festival, Oslo, Norway (august)
International Meeting of the ICTM, Ljubliana, Slovenia (september)
International Congress of Applied Ethnomusicology, Ljubliana, Slovenia (september)
International Symposium of Voice, Stuttgart, Germany.(september)
International Meeting « Music as Memory », Oslo, Norway (october)
The Global Forum on Civilization and Peace, Seoul, Korea. (november)

2007
Bilan du film ethnographique, Paris, France (march)
Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC, Buenos Aires, Argentina (march)
Symposium on music therapy, Sao Paulo, Brazil (april)
Bergen International Music OI OI Festival, Bergen, Norway (may-june)
Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)
39th World conference of the ICTM, Vienna, Austria (july)
PEVOC 7 – International Congress on Voice, Groningen, the Netherlands (august)
International Doromb Jew’s Harp Festival, Hungary (september)

2008

A Week of Sound Festival, Lyon, France (january)

Unesco Congress of World Heritage, Canberra, Australia (february)

Giving Voice, Aberystwith, New Wales (march)

Bergen International Music OI OI Festival, Bergen, Norway (may/june)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

« A Voix Haute » Festival,Bagnères de Bigorre, France (august)

MELA music festival, Oslo, Norway (august)

International Voice Festival, Dresden, Germany (september)

2009

Voice Festival, Switzerland (may)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

40th World conference of the ICTM, Durban, South Africa (july)

International Congress of Voice Teachers, Paris, France (july)

MELA Music Festival, Oslo, Norway (august)

2010

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

International of Sound, Saint John’s, Canada (july)

ICTM 2 study groups meeting , Hanoi , Vietnam (july)

Vietnamese Guiness Record Ceremony, Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011

International Symposium on Dan Ca tai tu Nam bo, Ho Chi Minh city (January)

International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city, Phu Yên, Vietnam (april)

World Jew’s Harp Festival in Yakutsk, Yakutia (june)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

International Festival of Mediterranean Music, Genova, Italy (july)

41st World Conference ICTM in Saint John’s , Canada (july)

World Symposium of Choral Music, Puerto Madryn, Argentina (august)

Spring Festival of South African Music, Fort Hare, South Africa (september)

International Festival of Humour and Music, Stavanger, Norway (september)

Peace Festival, Wroclaw, Poland (october)

Congre

International Conference of Arirang , Seoul, Korea (december)

2012

1st International Festival of Music Khomus « Khomusic Proms », Moscow, Russia (june)

2012 Crossroads : Contemporary of Traditional Arts, Singapore (december)

2013

International Congress of Yoga, Voguë, France (march – april)

International meeting for the UNESCO project « Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh » (Ví Giặm Folksongs of Nghệ Tĩnh), Vinh, Vietnam (june)

International meeting about the UNESCO convention & the future of Vietnamese Intangible Cultural Heritage, Hội An, Vietnam (june)

42nd ICTM world conference , Shang Hai, China (july)

Marranzano World Festival, Catania, Sardinia, Italy (december)

2014

The 8th Congress & International Jew’s Harp Festival, Taucha, Germany (august)

The Norwegian Jew’s harp Festival 2014, Hörten, Norway (september)

Exhibition The Voice (ornamented voice, disguised voice), City of Sciences, Paris, France, (september)

International Film Festival Jean Rouch, celebration of 20 years of Bartok prize, Paris, France (november)

2015

International Meeting for the UNESCO project on « Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam » (the art of folk bài chòi in Vietnam), Quy Nhơn, Bình Định, Vietnam (january)

43rd ICTM World Conference, Astana, Kazakhstan (july)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

International Meeting for the UNESCO project on « Hát then Tày Nùng Thái » (Folk songs of Tày Nùng Thái ethnic minorities), Tuyên Quang , Vietnam (september)

Master class di Canto Armonico, Sorso, Sardinia, Italy (october)

Khomus Day & the 25th Anniversary of the Museum of the Peoples of the World Khomus, Yakutsk, Yakutia (november – december)

2016

International Meeting for the UNESCO project on « Văn nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại » (Religious Practices in Contemporary Society), Nam Định, Vietnam (january)

Symposium « Voice Encounters : Voice Pedagogy, Wroclaw, Poland (april)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

Ancient Trance Festival, Taucha, Germany (august)

2017

 

44th ICTM World Conference , Limerick, Ireland (july)

Congress « Voci e Sone « Di Dentro e di Fuori », Padova, Italy (october)

Congress La Voce Artistica 2017 XI edition, Ravenna, Italy (october)

Career

Ethnomusicologist: Musée National des Arts et Traditions Populaires, Paris,1968-1987

Ethnomusicologist: Musée de l’Homme, Paris, 1968 – 2009

Professor: Centre of Studies for Oriental Music, Paris, 1970-1975.

Lecturer: Université de Paris X-Nanterre, 1987-1995.

Lecturers of many Universities and Museums in the World since 1969:

USA : University of Hawaii (1977), University of Maryland (1980), Columbia University, New York (1983), Museum of Modern Art, New York (1984), University of California, San Diego (UCSC, 1990), Cornell University, New York (1994), Saint Thomas University, Minnesota (1996), University of Wisconsin, Wisconsin (1998), George Mason University, Washington D.C.(2000)

Canada :University of Montreal, Montreal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Ontario Museum, Toronto (1994)

Brazil: Conservatorium of Music, Rio de Janeiro (1983), University of Recife, Recife (1998) , University of Rio de Janeiro (2006),

South Africa : Cape Town University, Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University (1984), University of Durban (2009), University of Fort Hare (2011)

Australia : Monash University, Melbourne (1986), University of Sydney, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986, 2008), Melbourne College of Advanced Education, Melbourne (1988)

Philippines: University of the Philippines, Manila (1988)

Japan:Tokyo University of Fine Arts, Tokyo (1981), Miyagi University of Music Education, Sendai (1999), Université de Hiroshima, Hiroshima (1999), OsakaUniversity of Fine Arts, Osaka (2000)

Korea: Seoul National University, Seoul (1981),

Thailand: Mahasarakham University, Mahasarakham (1996), University of Chulalongkorn, Bangkok (2012)

Taiwan : Université de Taiwan, Taipei (2000), Centre National des Arts , Taipei (2000)

Liban : CLAC (centre de lecture et d’animation culturelle) à Barja , Mansoura, Kfar Debyan, Amioun ,( 2002)

Austria : University of Austria (2007),

Belgium: Institute of Musicology, Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa (1976), Royal Museum of Musical Instruments, Brussels (1980, 2001), University of Anvers (1984), Musee Royal de Mariemont, Mariement (2002)

Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), French Cultural Center, Napoli (1980),Academia Nacionale Santa Cecilia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venice (1995, 1996), University of Bologna, Bologna (2000), Institute of Musictherapry, Padova, Italy (2001,2016 ), Fondazione Giorgio Cini, Venice (1979, 2001, 2002, 2003, 2004,2005,2006, 2007, 2008) , Institute IATGONG for traditional music, Genoa, (2003,2007, 2016), Conservatory of Music, Padova (2017)

The Netherlands: Jaap Kunst Center for Ethnomusicology, Amsterdam (1974),Gemeente Museum, The Haye (1980), Tropen Museum (1975, 1992, 1998), University of Leiden, Leiden (2000)

Germany: Volkerkunde Museum, Berlin (1985, 1990, 2000), La Charité Hospital, Berlin (1991), Musik Hochschole, Detmold (1994), Musik Hochschole, Stuttgart (1996, 2000, 2015), University of Heidelberg, Heidelberg (1997), University of Aachen, Aachen (2003), University of Hannover (2015)

United Kingdom: Horniman Museum, London (1974), Durham University, Durham (1976, 1979, 1985), University of London, London (1991), City University, London (1992), SOAS (School of Oriental and African Studies), London (1998), Queen’s University, Belfast (1985), Centre of Performance Research,Cardiff (1995,1996), University of Reading, London (2005)

France: many universities in different towns from 1974 onwards: Universite de Paris IV-Sorbonne, Univeriste de Paris VIII-Saint Denis, Universite de Paris X-Nanterre, Paris; Universite de Nice; Universite deTours; University of Rennes ; Conservatoire National Régional de la musique, Strasbourg; Universite de Montpellier 3, Montpellier; Universite de Marseille; Universite Le Mirail, Toulouse, Université de Poitiers, Poitiers , Universite de la Reunion, Ile de la Reunion (1999, 2000, 2001, 2002 , 2003)

Switzerland: Volkerkunde Museum, Basel (1969), Academy of Music, Basel (1993)

Spain: Summer University, Madrid (1990)

Yugoslavia: Academy of Music, Sarajevo (1991)

Sweden: Lund University, Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Musik Museet, Stockholm (1981), Royal Academy of Music, Stockholm (1985),

Denmark: Musikhistorisk Museum, Copenhagen (1972), Danish Folk Archive Institute , Copenhagen (1972), Conservatory of music, Holstebro (1972), Nordisk Teaterlaboratorium, Holstebro (1998), Cantabile 2, Vordingborg (2000)

Norway: Institute of Musicology, Trondheim (1976,1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Sibelius, Bergen (2004), Musik Folkehogskole, Oslo (2003)

Poland : 17th Summer Course for Young Composers, Polish Society for Contemporary Music, Radziejowice, Poland (1997), University of Wroclaw, Poland, (2011, 2016)

Russia: National Conservatory Tchaikovsky, Moscow (1993), Institute of Research for World Music Cultures, Moscow (1993, 2012), International Center of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995).

Georgia : Conservatory of Music , Tbilissi (2002)

Lithuania: Academy of Music, Vilnius (1997)

Belarus: Academy of Music, Minsk (1996)

Slovenia : University of Ljubljana (2006, 2011)

Croatia : University of Zagreb (2006)

Ireland : University of Limerick, Limerick (2007, 2017), Cork University, Cork (2007)

Vietnam : Vietnamese Institute of Musicology, Hanoi (2002, 2017), Academy of Music , Hanoi (2017), Conservatory of Music, Ho Chi Minh city (2007)

Musician

15 LP records and 7 CDs as performer on Vietnamese Music (with different record companies: Le Chant du Monde, OCORA, Studio SM, Société Française deProductions Phonographiques, Playasound in France, Lyrichord, Music of the World in the USA, Albatros in Italy.

  1. Cithare Vietnamienne (le Dan Tranh) par Tran Quang Hai. Le Chant du Monde LDX 74454, Paris, 1971, collection Special Instrumental.
  2. Le Chant de la Rivière des Parfums. Productions et Editions Sonores PES 528 003, Paris, 1973.
  3. Vietnam: Nouvelle Musique Traditionnelle. OCORA 558 012, Paris, 1976.
  4. Musique du Vietnam: Tradition du Sud. Anthologie de la musique des Peuples AMP 72903, Paris, 1976.
  5. Musique Traditionnelle du Vietnam. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 01, Paris, 1976.
  6. Musica del Vietnam. Albatros Records VPA 8396, Milan, 1978.
  7. Vietnam: Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 33514, Paris, 1979, collection: Musiques de l’Asie traditionnelle, vol.10.
  8. Cithare et Chants Populaires du Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 02, Paris, 1979.
  9. Music of Vietnam. Lyrichord LLST 7337, New York, 1980.
  10. Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris, 1983. Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros 1983
  11. Vietnamese Dan Tranh Music/ Tran Quang Hai. Lyrichord LLST 7375 ,New York, 1983.
  12. Shaman/Tran Quang Hai et Misha Lobko. Didjeridou Records DJD O1, Paris, 1983.
  13. MUSAICA: chansons d’enfants des émigrés. DEVA RIC 1-2, Paris, 1984.
  14. Landscape of the Highlands/ Tran Quang Hai. Music of the World MW 004, New York, 1984.
  15. Le Monde Magique du Dan Tranh/ Tran Quang Hai. Viet Productions VN 1944, Paris, 1985.
  16. CD: Rêves et Réalités – Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 65020, Paris, 1988.
  17. CD: Cithare vietnamienne/Tran Quang Hai. Playasound PS 65103, Paris, 1993.
  18. CD: Landscape of the Highlands/String Music from Vietnam/Tran Quang Hai. Latitudes LAT 50612, North Carolina, USA, 1997.
  19. CD: Phillip Peris/Didjeridu. Les Cinq Planètes CP 10296, Paris, 1997.
  20. CD: Les Guimbardes du Monde / Tran Quang Hai. Playasound PS 66009, Paris, 1997.
  21. CD: That’s All Folk! Le Chant du Monde CML 5741015.16, 2CDs, Paris1997.
  22. CD: International Jew’s Harp Festival Molln Austria ’98, CD-0513, 2CDs, Molln, 1999.

5 commercialized cassettes on pop music of Vietnam

1 videocassette on Vietnamese Music (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam » produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)

1 videocassette on « Tran Quang Hai performance » produced by the Melbourne College of Advanced Education in Melbourne (Australia) (1989)

1 videocassette on « Dan Tranh Music » produced by Volkerkunde Museum, Berlin (Germany) 1991.

3 DVD on overtone singing : « The Song of Harmonics » published by the CNRS Audio Visual, 38 minutes, English version, France, 2006

« Le Chant des Harmoniques » published by the CNRS Audio Visual, 38 minutes, French version, France, 2004

« Le Chant Diphonique », Université de Saint Denis, Reunion Island, 2002

2 DVD on Tran quang Hai’s musical activities : « Vietnam – musique traditionnelle Trân Quang Hai », Paris ,49 minutes,

« HAI – parcours d’un musicien vietnamien » (HAI – path of a Vietnamese musician », 52 minutes, Paris, 2015

Performer for film music in 25 commercialized films

Performer of nearly 3,500 concerts in 70 countries around the world since 1966.

5 commercialized cassettes on pop music of Vietnam

Composer

300 pop songs in Vietnamese, French, English

100 musical compositions for different musical instruments: 16 stringed zither, monochord, spoons, Jew’s harp, overtone singing.

3 compositions for electro-acoustical music (1975, 1988, 1989, see creative works)

Researcher

Author of a book Âm Nhac Viêt Nam  » (Music of Vietnam in Vietnamese) , edited by Nhom Bac Dâu, 361pages, Paris, 1989.

Author of a book « Musiques du Monde » (in French), edited by J-M Fuzeau, 320 pages, 3 CD, Courlay, 1993.(with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musics of the World  » (in English), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1994. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musik aus aller Welt  » (in German), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1996. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musicas del Mundo » (in Spanish), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1998. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe  » (in French), edited by J -M Fuzeau, 380pages, 2 CD, Courlay, 1995.

Author of a book (in cooperation with Patrick Kersale), VOIX , DVD, edited by Lugdivine, Lyon, 2006

Author or more than 250 articles on Vietnamese and Asian musics

Co-ordinator for New Grove’s Dictionary of Musical Instruments on South East Asian Music (1st edition, 1984) 3 volumes

Author of articles in New Grove Dictionary of Music and Musicians (6thedition, 1980, 20 volumes), Algemeine Muziekencyclopedia (Holland, 1982, 12 volumes), Encyclopaedia Universalis (France, 1984, 1986, 1988, 1990, 1991)

Co-author with Hugo Zemp for the film 16mm on the overtone singing style « Le Chant des Harmoniques » (The Song of Harmonics) produced by the National Center for Scientific Research-Audio Visual, Paris, 1989)

Contributor to the bilingual notes (188pages) accompanying the 3CD set

« Voices of the World » edited by Le Chant du Monde, Paris, 1996

Contributor to the bilingual notes (124pages) accompanying the 2CD set « Vietnam: Musics of the Montagnards  » edited by Le Chant du Monde, Paris,1997.

Researcher specializing in Vietnamese Music, South East Asian Music, Overtone Singing Style, Music Therapy, Music Pedagogy, Creation of NewTechniques for Vietnamese 16 stringed zither, Jew’s Harps, Spoons.

Author of more than 500 articles in Vietnamese for 30 Vietnamese magazines in America, Europe, Asia and Australia.

Memberships in different Scientific Societies

Society for Ethnomusicology, USA, since 1969.

Society for Asian Music, USA, since 1978.

International Council for Traditional Music, USA, since 1976 (Liaison Officer since 1991)

International Musicological Society, Switzerland, since 1977.

International Association of Sound Archives, Australia, since 1978.

European Seminar in Ethnomusicology, Switzerland, since 1983

Société Française d’Ethnomusicologie, France, since 1985 (founding member)

Société de Musicologie, France, since 1980.

Association Française d’Archives Sonores, France, since 1979.

Centre of Studies for Oriental Music, France, since 1962 (Professor from 1970 to 1975)

Vietnamese Penclub in Europe, France, since 1987.

Center of Vietnamese Studies, France, since 1987

Association Française de Recherche sur l’Asie du Sud-Est, France, since 1983.

Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM), Paris, since 1983.

International Center of Khoomei, Tuva, Russia, since 1995.

Honorary Member of the Scientific Society of Vietnamese Professionals, Canada, since 1992.

Life Fellow, International Adviser, Deputy Governor of the American Biographical Institute and Research Association, USA, since 1987.

Life Fellow, International Adviser, Director Deputy General of the International Biographical Association, United Kingdom, since 1987.

Consultant of the Prize Diderot for the Encyclopaedia Universalis, France, since 1990.

Board Committee of the International Association of Jew’s Harp, Austria, since 1998.<

Composer

300 pop songs in Vietnamese, French, English

100 musical compositions for different musical instruments: 16 stringed zither, monochord, spoons, Jew’s harp, overtone singing.

3 compositions for electro-acoustical music (1975, 1988, 1989, see creative works)

Biographical Reference Books:

  1. Dictionary of International Biography, 15th edition, United Kingdom
  2. Men of Achievements, 5th, 6th, 7th editions, United Kingdom.
  3. International Who’s Who in Community Service, 3rd edition, United Kingdom
  4. International Who’s Who in Music, 8th,9th,10th,11th,12th,13th,14th,15th,16th,17th, 18th editons, since 1982,U.K.
  5. Who’s Who in Europe, 2nd, 3rd editions, U.K.
  6. Men and Women in Distinction, 1st, 2nd editions, U.K.
  7. International Register of Profiles, 4th, 5th editions, U.K.
  8. International Who’s Who of Intellectuals, 2nd, 3rd editions, U.K.
  9. The First Five Hundreds, 1st edition, U.K.
  10. Who’s Who in the World, 5th, 6th, 7th, 8th, 9th, 10th, 11th, 12th, 13th, 14th,

15th,16th, 17th, 18th editions, since 1983,USA

  1. 5000 Personalities in the World, 1st edition, USA
  2. International Directory of Distinguished Leadership, 1st edition, USA
  3. International Book of Honor, 1st edition, USA
  4. International Register of Personalities, 1st edition, USA
  5. Nouveau Dictionnaire Européen, 5th,6th,7th,8th,9th editions,1985,BELGIUM
  6. Who’s Who in International Art, 1st edition, 1989, SWITZERLAND
  7. Who’s Who in France, 29th, 30th, 31st, 32nd, 33th, 34th, 35th, 36th, 37th,etc.. editions,since 1997,FRANCE
  8. Who’s Who in Entertainment, 3rd edition, 1998-1999,U.K.
  9. Who’s Who in Popular Music, 2nd edition, 1998, U.K.
  10. Ve Vang Dan Viet – The Pride of the Vietnamese, vol.1, 1st, 2nd editions, 1993, USA
  11. Fils et Filles du Vietnam, 1st edition, 1997, USA
  12. Tuyên Tâp Nghê Si (Selection of Vietnamese Artists), vol. 1, 1st edition, 1995, CANADA
  13. Guide du Show Business, from 20th to 40 th editions (since 1983), FRANCE
  14. Director Deputy General List of Honour, 1998, U.K.
  15. The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Etats-Unis(2000)
  16. QUID (since 2000), France
  17. 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Etats-Unis (2002)

Prizes, Honours, Awards:

1983: Grand Prize of Academy Charles Cros, Paris for LP « Vietnam/Tran Quang Hai and Bach Yen (SM 3011.97) 1986: Medaille d’Or de la Musique (Gold Medal of Music) / Asian Cultural Academy, Paris. 1987: D.MUS (HON) / International University Foundation, USA. 1987: Life Fellow of the American Biograhical Institute and Research Association, USA. 1987: Deputy Governor (DG) of the American Biographical Institute, USA 1987: Life Fellow of the International Biographical Centre (IBC), UK 1987: Director Deputy General (DDG) of the International Biographical Centre, UK. 1988: International Advisor of the American Biographical Institute, USA 1988: International Order of Merit/ International Biographical Centre, UK 1989: Ph.D (HON) / Albert Einstein International Academy Foundation, USA. 1990: Grand Prize of the International Festival of Anthropological and Visual Film for the film « The Song of Harmonics », Parnü,Estonia. 1990: Prize of the Best Ethnomusicological Film for the film « The Song of Harmonics » delivered by the Academy of Sciences, Parnü, Estonia. 1990: Special Research Prize of the International Festival of Scientific Film for the film « The Song of Harmonics », Palaiseau, France. 1991: Grand Prize Northern Telecom of the 2nd International Festival of Scientific Film of Quebec for the film « The Song of Harmonics », Montreal, Canada. 1991: Van Laurens Award of the British Voice Association and the Ferens Institute for the best paper on overtone singing research , London, UK 1991: Honorary International Advisor of the International Biographical Centre, UK 1991: Alfred Nobel Medal of the Albert Einstein Academy Foundation, USA. 1991: Man of the Year 1991/ American Biographical Institute, USA 1991: International Man of the Year 1991/1992/ International Biographical Centre, UK 1992: Honorary Member of the Vietnamese Scientific Society of the Professionals, Canada 1994: Man of the Year / American Biographical Institute, USA 1994 : Gold Record of Achievement par American Biographical Institute, Etats-Unis 1995: Special Prize of the 2nd International Festival of Throat Voice, Kyzyl, Tuva. 1995: Honorary Scientific Member of the International Center of Khoomei, Kyzyl, Tuva. 1996: Medal of Cristal / National Center for Scientific Research, Paris, France. 1997: Prize of the Academy of Records Charles Cros for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France 1997: Le Diapason d’Or of the Year for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France. 1997: Le CHOC of the Year for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France. 1998: The Medal of Honor/ City Hall of Limeil Brevannes, France. 1998 : The Platinum Record for Special Performance in Music and Overtone Singing, USA 1998 : Special Prize of Jew’s Harp , 3rd World Jew’s Harp Festival, Molln, Austria 2002 : Highest Distinction of France : Knight of the Legion of Honor (Chevalier de la Legion d’Honneur), Medal of Honor, category Great Gold (Médaille d’Honneur du Travail, catégorie Grand Or), France, 2009, Diploma of Distinguished Jew’s harp player, Yakutsk, Yakutia, 2015, Medal of the Founding Member of the French Society for Ethnomusicology, Paris, France, 2017.

Other relevant informations

Tran Quang Hai is the first Vietnamese musician who performed at special events: Bicentennial of Australia in Melbourne (1988), Bicentennial of the French Revolution in Paris (1989), 700 Years of Switzerland in Lausanne (1991), 350 Years of Montreal in Montreal, Canada (1992), 500 Years of Christophe Columbus’ Discovery of America in Paris (1992), 600 Years of Seoul in Seoul, Korea (1994), Jubilee of the King of Thailand in Mahasarakham, Thailand (1996), 1000 Years of Trondheim in Norway (1997).

He is the first Vietnamese musician who performed different works composed by contemporary composers such as Nguyên Van Tuong (died in 1996), Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, and also film music composed by Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit.

He practises 15 musical instruments belonging to Europe (violin, guitar, banjo, mandoline, flute), Vietnam (zither dan tranh, monochord dan doc huyen, 2 stringed fiddle dan co, coin clappers sinh tien, spoons muong, ),China (2 stringed fiddle nan hu), India (lutes tampura, vina) Iran (drum zarb), European and Asian Jew’s Harps.

His research on overtones since 1969 has given him the title of the- greatest specialist of overtone singing with more than 8000 persons who have learnt this peculiar vocal style with him from 70 countries around the world. He got the Cristal Medal of the National Center for Scientific Research in 1996 for his research on overtones, and the recipient  » Knight of the Legion of Honor  » given by the French President Jacques Chirac in 2002 for his career as musician and musicologist since 1966 , the Medal of Work, Great Gold category in 2009 for his 41 years’ career at the National Center for Scientific Research, the Diploma of Vietnamese Guiness Book 2010 for the title “KING OF SPOONS” in 2010 in Ho Chi Minh City, Vietnam, the Diploma of Vietnamese Guiness Book 2012 for the title « Trần Quang Hải has presented the Vietnamese Jew’s harp in the biggest number of countries in the world », the medal of the founding member of the French Society for Ethnomusicology, Paris in 2017.

CONTACT: TRAN QUANG HAI 12 rue Gutenberg 94450 LIMEIL BREVANNES France Tel : +33 1 45 69 55 77 (overseas),

Mobile : + 33 6 50 25 73 67

E-mail: tranquanghai@gmail.com

Websites: http://tranquanghai.com,  http://tranquanghai1944.com

Blogs : http://tranvankhe-tranquanghai.com , http://tranquanghaidanmoivn.wordpress.com , http://haidiphonie.com

WIKIPEDIA : TRẦN QUANG HẢI , biographie

Trần Quang Hải

tqh portrait quoc hoi tv

 

Trần Quang Hải
une illustration sous licence libre serait bienvenue
Biographie
Naissance
Activité
Père
Autres informations
A travaillé pour
Distinction

Trần Quang Hải, né le 13 mai 1944 à Linh Dong Xa au Viêt Nam, est un ethnomusicologue dont le domaine de recherche est la musique vietnamienne, la musique asiatique, et le chant diphonique sibérien.

Trâǹ Quang Hải est issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations. Il est le fils de l’ethnomusicologue Trâǹ Văn Khê.

Il a été ethnomusicologue au CNRS (Centre national de la recherche scientifique) depuis 1968 et a pris sa retraite en mai 2009.

Travaux

Membre de nombreuses sociétés scientifiques dans le domaine de l’ethnomusicologie (Société d’ethnomusicologie aux États-Unis depuis 1969, Conseil international de musique traditionnelle – ICTM depuis 1971 et membre du bureau exécutif depuis 2005, Société française d’ethnomusicologie comme membre fondateur depuis 1985, Société internationale de guimbardes comme membre fondateur depuis 2000), etc…

Il a publié 23 disques sur la musique traditionnelle du Vietnam (Grand prix du disque de l’Académie Charles-Cros en 1983), 4 DVD sur le chant diphonique (2004, 2005, et 2006), 2 DVD sur la musique du Vietnam (2000, 2009), un film sur sa vie (2005), des articles dans le New Grove Dictionary of Music and Musicians (1re édition en 1980 et 2e édition en 2001), New Grove Dictionary of Musical Instruments (1984), et quelques centaines d’articles sur les musiques du monde et le chant diphonique.

Il a reçu le cristal du CNRS (1995), la médaille de chevalier de la Légion d’honneur (2002), et la médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand or (2009).

https://fr.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Quang_H%E1%BA%A3i

WIKIPEDIA : tiểu sử GS TRẦN VĂN KHÊ

Trần Văn Khê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trần Văn Khê
Trần Văn Khê.jpg

Giáo sư Trần Văn Khê năm 2013
Sinh Trần Quang Khê
24 tháng 7, 1921
làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho, Nam Kỳ (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam)
Mất 24 tháng 6, 2015 (93 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nơi an nghỉ Nghĩa trang Bình Dương (Chánh Phú Hòa, Bến Cát)
(hỏa táng)[1]
Nơi cư trú Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Học vị Giáo sư Tiến sĩ
Công việc Nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc
Năm hoạt động 19422015
Quê quán Việt Nam
Tôn giáo Phật
Người phối ngẫu Nguyễn Thị Sương
Con cái Trần Quang Hải
Cha mẹ Trần Quang Chiêu (cha)
Nguyễn Thị Dành (mẹ)
Người thân Nguyễn Tri Phương (ông cố)
Nguyễn Tri Khương (cậu)
Trần Ngọc Viện (cô)
Giải thưởng Giải thưởng

Trần Văn Khê (24 tháng 7, 1921 – 24 tháng 6, năm 2015) là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.[2]

Mục lục

Tiểu sử

Trần Văn Khê (tên khai sinh là Trần Quang Khê) sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[3], biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương[4]. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[5]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[6]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[6].

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ » trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, « Truyền bá vệ sinh » của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến « đi Hội đền Hùng« , và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến một thời gian rồi về vùng Pháp kiểm soát cuối năm 1946.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[7].

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Năm 2009, ông là một trong những trí thức nổi tiếng ký vào thư phản đối dự án Boxit ở Tây Nguyên[8].

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.[2]

Thực hiện di nguyện

Mâu thuẫn về nơi đặt di cốt

Theo di nguyện của ông Trần Văn Khê trước khi mất, hài cốt sẽ được mang về Vĩnh Kim (Tiền Giang), bên cạnh mộ phần của cha mẹ ong và dòng tộc bao đời nay vẫn ở đó[9].

Tuy nhiên, ngày 26/12/2015, con thứ của ông là Trần Quang Minh đã di cốt của cố giáo sư từ nhà riêng của ông tại Thành phố Hồ Chí Minh tới an vị tại Linh Hoa Tuệ Đàn thuộc Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương tài trợ toàn bộ kinh phí xây dựng một không gian thờ phượng và tưởng niệm cố giáo sư Trần Văn Khê tại một vị trí trang trọng, bao gồm cả các bộ bàn ghế tiếp khách và trang thiết bị truyền hình, âm thanh, nơi trưng bày các hiện vật, tranh ảnh… để phục vụ cho những cuộc giao lưu, những nghiên cứu âm nhạc dân tộc của ông.[10] Đây là quyết định gây mâu thuẫn. Quyết định này được các con gái của ông Khê ủy nhiệm, nhưng lại không được con trưởng của ông là Trần Quang Hải tán thành[9].

Thành lập nhà lưu niệm

Di nguyện của ông Trần Văn Khê là sau khi ông mất, toàn bộ tiền phúng viếng sẽ để ra để thành lập Quỹ Trần Văn Khê và chuyển ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai trở thành Trung Tâm Trần Văn Khê.

Tuy nhiên, ngày 1/1/2016, con trai trưởng Trần Quang Hải viết thư cho Ban tang lễ (ban được ông Khê ủy nhiệm cùng con trai trưởng để thực hiện di nguyện) xin từ bỏ ý định thực hiện di nguyện do một số lý do: Quỹ 700 triệu từ tiền phúng viếng không thể đủ để thành lập quỹ (theo quy định là 1 tỷ) và duy trì hoạt động sau này, ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai thủ tục quá nhiêu khê và vẫn chưa được nhà nước cấp phép[11].

Gia đình

Ông Trần Văn Khê có người em trai là nhạc sĩ Trần Văn Trạch và em gái út là Trần Ngọc Sương. Nhạc sĩ Trần Văn Trạch là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài gòn trước năm 1975. Trần Ngọc Sương sinh năm 1925, từng là ca sĩ lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.

Trần Văn Khê, Trần Văn TrạchLê Thương ở Sài Gòn năm 1949

Người vợ đầu của ông Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Ông Trần Văn Khê có bốn người con với bà Sương: GS.TS. Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh, kiến trúc sư, hiện sống ở TP Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris[12].

Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, do hoàn cảnh, ông và bà Sương không còn sống với nhau nữa. Năm 1960, bà Sương và ông ly dị[13], tuy nhiên sau này vẫn coi nhau là bạn[14]. Sau đó ông có những người phụ nữ khác. Ông nói: « Đa tình thì có thể nhưng rất may là tôi không phải là người bạc tình và cũng chưa bao giờ cùng lúc có hai ba người. Chỉ có người này đi qua người khác đến. Cũng chưa có người phụ nữ nào oán trách tôi, khi chia tay chúng tôi đều giữ lại được tình bạn.« [15]. Mấy chục năm cuối đời ông sống một mình.

Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, người con gái út của ông Trần Thị Thủy Ngọc chưa ra đời. Sau này, năm 1961 Trần Quang Hải (trưởng nam) sang Pháp, tới năm 1969 đến lượt Thủy Ngọc (con gái út) sang Pháp ở với cha. Còn Trần Quang Minh và Thủy Tiên ở lại Việt Nam, sống với mẹ[13]. Trần Quang Hải kết hôn với ca sĩ Bạch Yến (ca sĩ) sống tại Paris. Trần Quang Minh có gia đình sống ở TP HCM.

Hội viên

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc và trên trường quốc tế:

  • Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học (Société Française de Musicologie) (Pháp)
  • Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Française d’Ethnomusicologie) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
  • Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
  • Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
  • Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
  • Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
  • Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
  • Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ thuật…

Giải thưởng

  • 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
  • Huy chương bội tinh hạng nhứt của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
  • Văn hoá bội tinh hạng nhứt của Bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
  • 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada).
  • 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique).
  • 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français (Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp).
  • 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn.
  • 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam.
  • 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp.
  • 2005: Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng.
  • 2011: Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu

Chú thích

  1. ^ Vĩnh biệt GS-TS Trần Văn Khê – một người tài hoa … Q.Như- H.Thuận, 13:37 – 24/06/2015 (GMT +7)
  2. ^ a ă Singapore Swim Association. “Giáo sư Trần Văn Khê qua đời”. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
  3. ^ Mai Anh, « GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt« , trang Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập 2008-10-22.
  4. ^ ‘Sẽ không ai thay thế được GS-TS Trần Văn Khê’, VoA Tiếng Việt, ngày 25 tháng 6 năm 2015.
  5. ^ Trần Văn Khê, « Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ« , bảo Tuổi Trẻ 15/01/2006 10:50 GMT+7. Truy cập 2015-06-29.
  6. ^ a ă Nguyễn Phúc Nghiệp, « Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam« , trang tỉnh Tiền Giang cập nhật 18-04-2008. Truy cập 2015-06-29..
  7. ^ Bạch Dương, « GS Trần Văn Khê và những ngôi nhà« , Bạch Dương ghi, Báo Tiền phong 13:31 ngày 05 tháng 10 năm 2008. Truy cập 2015-06-29.
  8. ^ BBC Vietnamese – Việt Nam – Nhiều trí thức ký vào thư phản đối dự án bauxite
  9. ^ a ă http://danviet.vn/van-hoa/se-khong-co-quy-va-nha-tuong-niem-tran-van-khe-652321.html
  10. ^ “Di cốt GS Trần Văn Khê an vị tại Bình Dương”.
  11. ^ http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/con-trai-gs-tran-van-khe-bo-y-dinh-thuc-hien-di-nguyen-cua-cha-3337343.html
  12. ^ “Cuộc đời, sự nghiệp GS. Trần Văn Khê qua lời hồi ức của con trai (I)”. Báo điện tử Dân Trí. 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập 24 tháng 6 năm 2015.
  13. ^ a ă Chiếc bóng bên đời người nhạc sĩ tài hoa Trần Văn Khê | Vbizz.net
  14. ^ Phu nhân GS.TS Trần Văn Khê qua đời – Văn hóa – Dân trí
  15. ^ Những người phụ nữ trong đời giáo sư Trần Văn Khê

Tham khảo

TRẦN QUANG HẢI : A FEW WORDS ON MY FATHER TRẦN VĂN KHÊ, ceremony of 100 days after Prof. Trần Văn Khê ‘passing away, October 3rd 2015 in Taverny, FRANCE

A FEW WORDS ON MY FATHER TRẦN VĂN KHÊ

images

Ladies and Gentlemen,

First, I would like to express my thanks to Phương Oanh, a musical companion of mine for 60 years (since the day we first met at the National Conservatory in Saigon in the mid-50s of the last century) who has kindly organized the 100th-day remembrance after the passing of my father, under the form of an ethno-musical program with the participation of many students of my father in Vietnam, France, Norway,etc.

Talking about the teaching career of my father, who had passed the musical torch to several generations at the Sorbonne University in Paris (from 1958 to 1987), at the Centre of Studies for Oriental Music (from 1959 to 1987) and at many Universities around the world, I was very fortunate to have worked closely with my father for more than 50 years, learning abundantly in the process about the history of music of Vietnam and of other Asian countries, and together we have introduced the music of Vietnam to many countries. Thousands of students have had the opportunity to learn about the music of Vietnam and the music of other countries in Asia. In addition, a great number of students and musicians in Vietnam also had many opportunities to directly or indirectly learn from my father over the past many years, especially since the day my father came back to Vietnam in 2005 until his passing on June 24, 2015 in the district of Bình Thạnh, Ho Chi Minh City.

A TRADITION TO BE CONTINUED

At his death, my father has left behind a voluminous treasure of books, memoirs, research articles, etc. All of these are being carefully kept in Vietnam. The process of educating the young generations consists of two forms:

  1. Teaching and Playing Vietnamese Musical Instruments

In France, Phương Oanh and the Phượng Ca Folksong and Traditional Music, School of Vietnamese traditional music, Hồ Thụy Trang and the Tiếng Tơ Đồng ensemble, have been introducing with great success the traditional music of Vietnam thanks to several performances on stage and many classes throughout Europe teaching students how to play Vietnamese musical instruments, with branches in Norway, Canada and Australia. Nguyệt Ánh of Orsay and the FAVIC band have also contributed in the introduction of folk music of Vietnam.

In Vietnam, Mrs. Phạm Thúy Hoan and the Tiếng Hát Quê Hương group have frequently organized several musical activities and musical classes over the past several years to teach many young students how to play traditional instruments. Hải Phượng has performed in many countries, and has introduced the Vietnamese zither at many international music festivals around the globe. Mrs. Thúy Hoan and Hải Phượng have greatly helped my father over the past 10 years (2005-2015) organizing regular activities at the Trần văn Khê Centre in Saigon. Dr. Nguyễn Nhã and Hồ Nhựt Nam have also made their contributions on folk and traditional music of the southern region of Vietnam.

/

  1. Doing Research and Teaching Music at Schools

Bạch Yến and I have introduced Vietnamese traditional music in musical programs at many public schools, high schools and universities in Norway (Rikskonsertene), Belgium (Jeunesses Musicales Belges JMB), France (Jeunesses Musicales de France JMF), Switzerland (Jeunesses Musicales Suisses JMS) with more than 1,500 school concerts over the past 30 years. We have participated in more than 150 International Festivals on Traditional Music in 45 countries since 1978 until now. In the future, we will continue to carry on this task.

For myself, I have taken the place of my father since 2011 in international symposiums for the preparation of UNESCO files honoring the intangible cultural heritage, because my father could not move around easily during the last years of his life. I have participated in international meetings on Hát Xoan Phú Thọ in 2011, on Hát Ví Dặm Nghệ Tỉnh in 2013, on Hát Bài Chòi Nam Trung Bộ in 2015, on Hát Then Tày Nùng Thái in 2015, and will be present at the international colloquial on Hát Văn in 2016. As a board member of the International Council for Traditional Music since 2005, I have helped a number of Vietnamese researchers to become members of this organization in order for them to participate in the international conferences to present the results of their research on the world stage. In the future, I will continue to encourage the young researchers to actively participate in these international conferences to widen their fields of research and to exchange information with researchers from other countries.

Finally, I would like to thank Phương Oanh and Tùng and the Phượng Ca Folksong and Traditional Music, School of Vietnamese Traditional Music, as well as my friends Hồ Thụy Trang, Hải Phượng, Khánh Vân, Thanh Hiệp, Nguyệt Ánh, Vân Anh, Ngọc Dung, Thu Thảo and many other participants who have greatly contributed to the success of the tonight’s program.

The blog on Professor Trần Văn Khê is: https://tranvankhe1921.wordpress.com

BIOGRAPHY OF FORMER PROFESSOR TRẦN VĂN KHÊ

TVK ĐỜN TY BA

Professor Trần Văn Khê was born on 24 July 1921 at the Vĩnh Kim village, in the county of Châu Thành in the province of Mỹ Tho (currently named Tiền Giang). He was:

– Director of Research at the National Centre for Scientific Research of the Republic of France.

– Member of the UNESCO’s International Council on Music, in which he held for 10 years the title of President of the International Selection Committee for the forum on music of Asia.

– Member of the Academy for Science, Literature and European Arts.

He was born to a family of 4 generations of musicians. Both of his paternal and maternal families had good musicians and good composers. Trần Văn Khê started to play “đàn kìm” moon shaped lute (đàn nguyệt) at 6, “đàn cò” 2 stringed fiddle (đàn nhị) at 8, and the zither and the drums at 12.

After completing the baccalaureate with excellent marks in 1941 in Saigon, Trần Văn Khê received a scholarship from the government to go to Hanoi to study medicine (1941-1944). That was the time when he and his high school friend Lưu Hữu Phước (both had attended the Trương Vĩnh Ký high school in Saigon) became soul-mates on such matters as music and the responsibilities of students toward the mother country.

From 1944 to 1949 Trần văn Khê worked as professor at private schools in Saigon and in Cần Thơ, and at the same time worked as reporter for the Thần Chung and Việt Báo newspapers.

In 1949, Trần Văn Khê went to France as a press reporter, and started multi-year academic formation, then a long career in France. He graduated from the prestigious School for Political Sciences, International Relations Branch, in Paris in 1951. Then he was grounded for 3 consecutive years in hospital because of a grave illness. After leaving the hospital, he pursued his study on musicology at the University of Paris. In June 1958, he was the first Vietnamese to obtain the Doctorate in Musicology from Sorbonne University with a highest citation together with several felicitations and praises from the board of examiners. The theme of Tran Văn Khê’s thesis was “Traditional Music of Vietnam”, in which the music of the Imperial Huế and the Amateur Music in the southern part of the country were greatly emphasized.

After obtaining his Doctorate in Musicology, Trần Văn Khê started his university teaching career in France and in more than 20 countries around the world, and at the same time, continuously provided great contributions through his research on traditional music, as follows:

  • He founded the Centre of Studies for Oriental Music in Paris, specializing in teaching traditional music of Asia through singing and playing the instruments (in 1959). At this Centre, Trần Văn Khê assumed the position of Director of Arts specializing in teaching the playing of instruments (zither, kim, cò) and the singing on an amateur basis, with the cooperation of his two children Trần Quang Hải and Trần Thị Thủy Ngọc. Over a period of 30 years, this Centre has educated more than 150 students from France and from other countries where Vietnamese amateur music is known and appreciated.
  • He worked at the National Centre for Scientific Research in France starting as a research officer and climbing the rank to become a Director of Research, specializing in Vietnamese musicology, in particular Amateur Playing and Singing and other Metaboles. He also compared the Vietnamese Amateur Playing and Singing with the chamber music of other countries in Asia such as China, Japan, Korea, Mongolia, India, Indonesia, Malaya, Burma, Thailand, Kampuchia, Laos and Philippines.
  • Thanks to an international assistance, he had for the the first time, cut a disk on music of the Imperial Huế and a disk on amateur music of Southern Vietnam, in which there were songs of Tứ Đại Oán and Vọng Cổ.
  • As an international musicology researcher, Trần Văn Khê had been invited to teach musicology at the Faculty specializing in folk music of the Sorbonne University in Paris and at many other universities around the world. In the years of 1968-1972, he focussed his research on theatrical plays in Asia such as Chinese opera; Nôh and Kabuki in Japan; Pansori in Korea; Hát Chèo, Hát Bội and Hát Cải Lương in Vietnam.
  • He has published more than 200 articles on Vietnamese music and Asian music in many musicology magazines around the world. Specially, the papers he wrote for the “Courrier de l’Unesco” have been translated into 14 different languages.
  • He has completed twenty five 23-LP disks and CDs on music in Vietnam and in a few Asian countries to be distributed around the world.
  • He was Special Advisor to a Unesco’s Committee for the establishing of the files on international Amateur Singing and Playing (he has made recommendations to accurately fix the errors in several Amateur Singing and Playing films, and provided to the Committee several disks issued by Unesco in which there are several items on Amateur Singing and Playing).

Since 2006, Professor Trần Văn Khê had permanently returned to his native land. The authorities of Ho Chi Minh City had arranged for his disposition a property located at 23 Huỳnh Đình Hai Street in the district of Bình Thạnh for him to live and work during the last years of his life. At this location, he had used many of his own valuable researches in the form of books, notes and disks to work with officials specializing in cultural affairs of Ho Chi Minh City and many closed collaborators in the effort to build a Trần Văn Khê Library which will support future research requirements on folk music. Also at this location, together with his closed partners, he had organized hundreds of seminars, mini shows, information exchanges with the general public, especially with the young generation, to cover such subjects as Vietnamese folk music with special features of various regions of the country. He had also greeted at this location many political, cultural and diplomatic officials of Vietnam and of foreign countries.

ACHIEVEMENTS IN VIETNAM AND ELSEWHERE

Professor Trần Văn Khê had received numerous titles and rewards from Vietnam and from other countries for his skills and his valuable contributions to folk music on the international scale, as follows:

Before 1975:

  • Purple Medal Class 1
  • Cultural Purple Medal Class 1

After 1975:

  • UNESCO – CIM Prize on Music (1981)
  • Art and Literature Medal from the Ministry of Culture of France (1991)
  • Member of the European Academy of Science, Literature and Arts (1993)
  • Koizumi Fumio Prize on International Music, Japan (1994)
  • Medal of Palm Knight Academy, Ministry of Education, France (1999)
  • Medal of First Class Labor, Vietnam (1999)
  • Prize on Honoring Vietnam (2003)
  • Đào Tấn Prize (2005)
  • International Prize of San Francisco for “lifelong contribution to the research on Vietnamese traditional music” 2013
  • Phan Châu Trinh Prize on Culture (2013)
  • Armorial of Ho Chi Minh City (2013)

Many thanks to anh Nghiêm Phú Phúc for the translation

 

 

TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

tran-van-khe-phunuonline.com_.vn-dongnhacxua.com_

images

(ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT)

I. Thời thơ ấu

Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), tôi chào đời trong một gia

đình bốn đời nhạc sĩ.

Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công triều đình Huế. Ông nội là Trần

Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, chủ soái nhóm đờn ca tài tử Vĩnh Kim

(Tiền Giang). Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi là

Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu) và

đờn kìm (đàn nguyệt). Ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là « dây Tố

Lan », thường dùng để đờn Văn Thiên Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong

Nam đều biết và còn sử dụng.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược

Nam Kỳ. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh

tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và

Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri Khương, cậu thứ năm của

Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy tôi đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng

tác nhiều bản nhạc theo truyền thống.

Tôi chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội

ngoại đều là nhạc sĩ, mà lại còn được « thai giáo » một cách rất đặc biệt. Mỗi ngày

cậu Năm thổi sáo và đàn tranh cho thai nhi Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa,

chiều. Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như

« Nhị Thập Tứ Hiếu », « Gia Huấn Ca »… Sau khi chào đời, mỗi ngày tôi vẫn tiếp tục

được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân

cũng là người thổi ống tiêu rất hay.

Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần ông và hàng ngày nghe ông

đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, tôi đã sống trong một không khí đầy

âm nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thuỷ để cho tôi nhảy cà tưng trong tay

người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp, hễ ông đờn mau thì

nhảy mau, ông đờn chậm thì nhảy chậm.

Sáu tuổi tôi đã biết đờn kìm (đờn nguyệt). Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai

tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc.

Nhưng tôi lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm tuổi đến

phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba Viện nuôi

ba anh em tôi đến ngày khôn lớn.

II. Thời kỳ học tập

10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi.

Đến Tam Bình, Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba năm với nhà thơ và nhà

nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long đậu Sơ Học có

phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh đậu bằng chữ

Trung học

Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm

nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học Pháp văn với ông Champion, được

chấm đậu kỳ thi tuyển lựa một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du

lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938 từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan

Thiết, Tourane (Ðà Nẵng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh

là được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.

Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy

được Giải thưởng đặc biệt của đô đốc Decoux để đi viếng cả nước Cao Miên

(Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế

Thích. Và trên đường về Việt Nam ghé Hà Tiên, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu

nên được nhà thơ Ðông Hồ dẫn đi xem thập cảnh, mỗi nơi đến đều được nghe một

bài thơ hay do thi sĩ Ðông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp.

Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu

Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu

lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (Hội Đức Trí Thể Dục

Nam Kỳ). Tôi chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn

Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club

những bài hát Tây loại « Les Gars de la Marine », « Sunset in Vienna »… Tôi cũng

làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký

Hội Thể Thao, và giữ tủ sách của trường trong ba năm Tú Tài.

Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của Hội

SAMIPIC, tôi ra Hà Nội học y khoa.

Tôi đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, được các nhạc

sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. Tôi thừa dịp đó để có thể, ngoài những

bản thông thường của nhạc Tây phương như « La Veuve Joyeuse », « Marche

Turque », « Monument Musical »… thì giới thiệu những bài hát về thanh niên và lịch

sử của Lưu Hữu Phước.

Tôi và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát

« Thiếu Sinh », các cô trường Đồng Khánh hát bài « Thiếu Nữ Việt Nam », sinh viên

đại Học Hà Nội hát bài « La Marche des Etudiants », và đầu năm 1943, dựng ca

nhạc kịch « Tục Luỵ » (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh

trường Đồng Khánh Hà Nội và trường Gia Long.

Năm 1949, tôi sang Pháp, làm « phóng viên », lúc ấy thành ký giả chuyên

nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho.

Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự

Liên hoan thanh niên tại Budapest (Hungaria – Hung Gia Lợi). Cùng với anh

Nguyễn Ngọc Hà (hiện giờ đương tại chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương),

tổ chức chương trình văn nghệ giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự

do. Tôi dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đờn cò và đờn tranh, được giải nhì, sau

Liên Xô, đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi.

Tôi đi đờn mỗi tối thứ năm và tối chủ nhựt tại hiệu cơm « La Paillote ». Trong

năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng « Bồng Lai » của

ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA,

hơn 30 bài nhạc mới.

Mùa hè năm 1950, tôi sang La Haye, Hoà Lan học về Luật quốc tế. Hè năm

1951, thi đậu ra trường Chánh trị khoa Giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5 nên

được tuyển vào ngạch thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp đại hội tại

Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau

khi đậu bằng Chánh trị, bị bịnh phải nằm nhà thương trong ba năm hai tháng. Ghi

tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris năm 1952.

Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và

chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile

Gaspardone, và André Schaeffner.

III. Ngoài ra tôi làm nhiều công việc để mưu sống, đáng kể nhứt là bốn

việc sau đây:

1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân đôn với

các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam.

2. Ðóng phim cho hãng « Arthur Rank Corporation » bên Anh. Phim tên là « A

Town Like Alice ».

3. Trong phim Pháp « La Rivière des Trois Joncques » (Ba chiếc thuyền trên

con rạch), phim gián điệp. Tôi đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam

trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean

Gaven và Dominiques Wilms.

4. Lồng tiếng phim « Gengis Khan » (Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thừa tướng

Kao Linh. Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói.

Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (môn Nhạc Học) đại học Sorbonne

hạng Tối ưu với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable avec

félicitations du Jury).

Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique vietnamienne

traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music).

Đề tài phụ:

1. Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music).

2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société

vietnamienne / Place of Music in the Vietnamese Society).

VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa

Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris.

Tham luận và Hoà nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar (Ấn Độ), Ebadi

và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ

gốc Nga, Danh cầm thế giới về violon / violin).

Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ

biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu

nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies in

Oriental Music) bao gồm nhạc truyền thống Trung quốc, Ấn độ, Ba tư (Persian), Ả

rập, Việt Nam. Giữ chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm

1979 Chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm

này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt động.

Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5

hướng chánh:

1. Nghiên cứu âm nhạc

Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre

National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research)

với chức Tuỳ viên nghiên cứu (attaché de recherche), 1964 lên chức lần lần đến

năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche).

Đề tài nghiên cứu: trước hết là “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” rồi đi lần

đến đề tài « đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn ngữ âm nhạc các nước Châu Á ».

Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng trong không gian. Trong thư

viện tìm thư mục, trong các bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát, làm phiếu, và

nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm, chụp ảnh

trên thực địa. Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp

chí chuyên môn.

Phải tham gia giảng trong các trường đại học và tham luận tại các hội nghị

Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:

– Đã đăng gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh,

có một số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rập, trong đó có

hơn 130 bài đăng từ hai ba chục đến cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng

trong tạp chí “Le Courrier de l’UNESCO” được dịch ra hơn 15 thứ tiếng (Phụ lục

Thư mục các bài đã được in trong các tạp chí chuyên môn).

– Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học

Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới

(Phụ lục: Danh sách các Hội nghị thế giới đã tham dự)

– Đã tự ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với các nghệ nhân, nghệ sĩ

Việt Nam. Thâu trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 tấm ảnh

dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều

nước đã qua. Thâu thập được gần 500 dĩa hát của các nước trên thế giới, thực hiện

được gần 30 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng

lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp năm 1960, 1970, dĩa hát Đức quốc năm 1969.

Đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển

Dhrupad (Ấn độ), về ống Sheng (Sanh hầu) Trung quốc, đàn Guqin (cổ cầm Trung

quốc), đàn tranh Việt Nam.

2. Giảng dạy trong các trường đại học

Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông Phương, dưới sự

bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris / Institute of

Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ngữ âm nhạc các nước

Châu Á. Đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy.

Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong

các truyền thống tại châu Á.

Từ năm 1970 đến sau dạy môn Dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học.

Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ

đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ luận văn cao học và luận án tiến

sĩ về nhạc châu Á, châu Phi.

Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des

Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris (lớp về

nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genevieve de Chambure), và được thỉnh giảng trên

20 đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại

Budapest, đại học Varsovie, đại học Vicenza, Venise, Iran (Ba Tư), Tây Nam Úc

châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần UCLA, Los

Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà Nội, và nhiều lần

tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc

và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng…

3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam

Tuy dạy về nhạc học, nhưng tôi vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống.

Trong các hội nghị quốc tế,tôi thường được mời tham dự với hai tư cách: người

nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và còn đàn như một nghệ sĩ.

– Tôi còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes,

Royan bên Pháp; Ajaccio tại đảo Corsica; Bá Linh (Berlin) bên Đức; Pamplona

bên Tây ban nha; Venise, Roma bên Ý; Bratislava và Brno (Tiệp Khắc); Shiraz (Ba

Tư); Sao Paulo bên Nam Mỹ; Wellington bên Tân Tây Lan (New Zealand), …

– Tôi đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết

quả rõ nhứt là hai người con của tôi, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều

biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp.

– Tôi đã thực hiện những dĩa hát mà trong đó có nhạc sĩ đờn độc tấu, hoặc vừa đờn

vừa ca những bản xưa.

– Tôi đã nhận lời thuyết trình cho thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các

đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.

– 43 nước trên thế giới đã mời tôi thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống

4. Nhiệm vụ quốc tế

Tôi là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong các nước Pháp, Mỹ,

Trung Quốc, và trên trường quốc tế:

– Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)

– Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)

– Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d’Ethnomusicologie) (Pháp)

– Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)

– Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)

– Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )

– Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific

– Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)

– Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc

với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for

Traditional Music) – nguyên là Phó chủ tịch (Mỹ)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO),

Nguyên Ủy viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội

trưởng danh dự (Pháp)

– Viện sĩ thông tấn Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ

Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế

giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc).

Từ 27 năm nay, thành viên, và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của

Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức.

Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề

xướng và tài trợ).

Với nhiều nhiệm vụ đó, tôi đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và

Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giới.

Xin đơn cử một số thí dụ:

+ Hội nghị của các hội quốc tế

1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco), Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962;

Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973;

Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979;

Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.

2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo

1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987;

Schladming (Áo) 1989.

3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg

(Pháp) 1982.

4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc, Perth 1979; Varsovie 1980.

5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu, Berlin 1965,

1967, 1971, 1986, 1989

6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975;

Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) 1983; Ulan

Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố Hồ Chí Minh 1990; Bombay 1993.

+ Đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc

Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila

1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982;

Madagascar 1985; Dakar 1985.

+ Đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc

Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden

(Đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.

+ Đề tài: Giáo dục âm nhạc

Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie1982; Budapest

1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.

Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự:

* 1938: Bổng du lịch Saigon-Hà Nội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt cho học

sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam.

*1941: Bổng Toàn quyền đô đốc Decoux cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần

nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị

* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.

* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l’Academie

du Disque Français) Giải thưởng đại Học Pháp (Prix des Universites de France).

Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.

* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát Đức quốc cho dĩa về

Nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung, dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30

LD 2022. Dĩa UNESCO Collection .

* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de

l’Academie du Disque Français), Prix de l’Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc

nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.

Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam Cộng Hoà

* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa tại Đại học

Ottawa (Canada)

* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco – Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix

Unesco Ơ.CIM de la Musique)

* 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de

l’Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn

Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).

* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật.

Viện Sĩ thông tấn (Membre correspondant de l’Académie européenne des Sciences,

des Lettres et des Arts).

* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến

công du của Tổng thống tại Việt Nam.

* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher

Schallplatten Kritik Preis)

* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize

for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)

* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)

* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau

Brunswick, Canada)

* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần

đức Lương cấp (CHXHCNVN)

Danh sách dĩa hát do tôi đờn hay thu thanh điền dã:

– 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên

Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc. Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.

– 1959: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD

365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l’Academie du Disque Français 1960.

Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960).

– 1969: « Viet Nam 1 », hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng),

collection Unesco, Kassel, Đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng

dĩa hát Đức 1969), Grand Prix de l’Acad’mie du Disque Français 1970 Prix

d’ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 – Giải thưởng

Dân tộc nhạc học).

– 1970: « Viet Nam 2 », hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33

vòng), collection Unesco, Kassel, Đức.

– 1972: « Musique du Viet Nam , Tradition du Sud » (Nhạc Việt Nam, truyền thống

miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/

33 vòng), Paris.

– 1972: « South Viet Nam, Entertainment Music » (Miền Nam Việt Nam,

Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 (30cm/33

vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hoà Lan.

– 1972: « Inde du Nord / Pandit Ram Narayan / Le Sarangi » (Ấn Độ miền Bắc /

Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33

vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1972: « Narendra Bataju, Sitar/Surbahar » (Nhạc sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và

Surbahar), hãng CETO SELAF ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn

– 1976: « Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle » (Việt Nam: Nhạc cổ truyền

kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa

OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng), Paris.

– 1978: « Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ » hãng EMI ODEON số 064-183113

(30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

– 1979: « Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre », hãng Philips số 658

6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà

– 1983: « Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle » (Việt

Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33

– 1985: « Viet Nam, Court Theatre Music » (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng gia, hãng

EMI ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas

– 1985: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de

Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng), Paris.

– 1990: « Viet Nam / Hat Cheo », hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection

Unesco, Paris. Tái bản của dĩa « Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre »

của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này được

xuất bản cùng một lúc.

– 1991: « Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho », hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD),

collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-

183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một

– 1994: « Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », dĩa

OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải Diapason d’Ór. Tái bản của dĩa

OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972).

– 1994: « Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc »

(Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris.

– 1995: « Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d’Hier et d’Aujourd’hui » (Việt Nam /

đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện tại » với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn

Khê, hãng OCORA số 560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique

Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de la

– 1996: « Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », hãng

AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.

– 1998: « Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi

Thuy Ngoc », hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA

số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).

– 1997: « Viet Nam Ca Tru », hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1997: « Viet Nam: Tradition de Hue » (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung

đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1998: « Viet Nam: Tradition du Sud » (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng

AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn

giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba.

– 1998: « Viet Nam: Musique bouđhique » (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng

INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

Một số phim do tôi thực hiện và một số phim về tôi:

1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ, điệu thức Raga Todi do hai anh

em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông

Pierre Schaeffer), Paris , 1964 thực hiện. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura

Ấn độ, một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với

12 đơn vị. Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhrupad và

những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.

2. Phim « Histoire du riz », phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt

Nam, phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Diier Mauro

và Hồ Thuỷ Tiên. Sản xuất: Orchidees.

3. Phim « Dis moi, Philippines » do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin

thực hiện. Sản xuất: Orchidees.

Tài liệu băng thu thanh:

1. Les Traditions musicales de l’Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu), nói tiếng

2. Le Dhrupad: un art vocal de l’Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ

miền Bắc), nói tiếng Pháp.

3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và

chu kỳ tiết tấu trong nhạc Ấn theo trường phái Hindoustane), nói tiếng Pháp.

4. La musique arabe (Nhạc Á rập), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon

Shiloah, nói tiếng Pháp.

Băng Video:

Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học Paris Đauphine, INALCO

(Viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh Đông phương), đặc biệt với Guy Senelle,

Didier Tauin và Paul Hervé.

1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ

Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn

Khê. Khái quát về « Sanh Hầu ở Á châu ».

2. Le Qin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có

nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một

vài bài cổ điển của Đàn Tranh, Cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.

3. Le « Dan Tranh », cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây)

với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Quá trình lịch sử, miêu tả, kỹ thuật đàn,

một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối

chiếu với các loại đàn tranh Trung Quốc, Nhựt Bổn, Đại Hàn và Mông Cổ.

4. Le « Dan Tranh », cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của

Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê, thực

hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương.

Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:

1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982

– Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP. Hồ Chí Minh (29/09/1982)

– Trích đoạn tuồng « Thần nữ dựng ngũ linh kỳ »(29/09/1982)

– Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nam, Trang điểm, động tác, đấu võ (25/10/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Bình Định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ động tác, những

cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)

– Tuồng dân gian Hát Bài chòi. Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền

(18/10/ 1982)

– Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)

2. Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987

– Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh

– Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đờn tranh 12 dây và 2

đờn kìm 4 dây do Mác Tuyên sáng tạo. Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các

nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà Nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và

Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987).

– Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi và trường Lê Lợi

(TP HCM) (27 /11/1987)

– Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý

Hoan, giáo sư trường Âm nhạc TP.HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn

Khê (29/11/1987)

– Độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của

Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)

– Nhóm nhạc gõ Phù Đổng tại TP HCM (04/12/1987)

– Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ « Tiếng Hát Quê Hương »,

« Tao đàn », « Bình Thạnh » (06/12/1987)

– Dạ hội Nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần

giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê (07/12/1987)

– Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4,

3. Thu hình video năm 1989:

– 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và

múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần

Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và

nhóm Phù Đổng (nhạc cụ gõ).

– Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức

vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)

– Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê

với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP.HCM) vào hai

ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)

– Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai

tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)

– Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh

« International Reception of  Music in Vietnamese Traditional (22/07/1990), tham

gia bàn tròn về « International Recepion in Music » (24/07/1990) (phim video

– Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7,

1990) (phim video NTSC)

– Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ gia đình Quỳnh Dao, nhà thơ

nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP.HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video

– Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình, đài truyền

hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16

tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại

tại Thuỳ Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của Trần văn Khê tại phường Bửu

Hội, tỉnh Biên Hoà (Đồng Nai) (2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

– Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình

TP.HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

TRẦN VĂN KHÊ : TIỂU SỬ TIẾNG VIỆT

TVK HDH 8

TIỂU SỬ GS-TS TRẦN VĂN KHÊ

Ngày sinh : 24-07-1921

Quê quán : Làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

Nơi ở hiện nay :   32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí

Công việc hiện nay:

Hưu trí, thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO.

Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Nhạc Truyền Thống (International Council for

Điện thoại : ĐT nhà riêng : (08) 3.551.1249

+ Được cấp bằng Tiến sĩ Văn chương, Khoa Âm Nhạc học, ĐH Sorbonne Paris

+ Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1967.

Quá trình học tập/công tác :

1941-1944 : Trường Đại học Đông Dương Hà Nội, Y khoa.

1944-1949 : Giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Hậu Giang ; Ký giả báo Thần Chung và

1949-1988 : Học tập, nghiên cứu và tham gia giảng dạy tại hơn 20 Trường Đại học trên

1959-1988 : Giám đốc Nghiên cứu tại Trung Tâm Quốc gia Pháp Nghiên cứu Khoa

Minh

Traditional Music) vào năm 2013

E-mail : trantruongca@yahoo.com.vn

Việt Báo.

khắp thế giới.

học (Directeur de Recherche au Centre National de la Recherche

Scientifique)

1969-1988 : Giáo sư Khoa Dân tộc Nhạc học tại Đại học Sorbonne Paris.

1999-2003 :  Giáo sư Đại học Dân lập Hùng Vương (TP.HCM).

2006 đến nay : Giáo sư Đại học Dân lập Bình Dương. Cố vấn đặc biệt Hội đồng

Thành viên của nhiều Hội quốc tế về Âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như : Hội

đồng âm nhạc quốc tế thuộc UNESCO, Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Hội

đồng quốc tế Giáo dục âm nhạc, Hội đồng quốc tế Nghiên cứu âm nhạc, Hội Âm

nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội Dân tộc Âm nhạc học Mỹ,

Hội Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội Nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ.

Những đóng góp chủ yếu cho Việt Nam và thế giới :

– Đã có trên 200 bài viết về Âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Châu Á đã được đăng

trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt những bài viết cho

Courrier de l’UNESCO được dịch ra 14 ngôn ngữ khác nhau.

– Đã thực hiện trên 25 đĩa hát 33 vòng và CD về Âm nhạc Việt Nam và vài nước

Khoa học Đại học Bình Dương.

– Đã lồng tiếng cho trên 100 phim từ tiếng Anh ra tiếng Pháp, diễn viên điện ảnh

cho 6 phim quảng cáo tại Pháp và làm diễn viên cho 2 phim lớn là : “La Rivière

des trois Joncques” (Pháp) và “A town like Alice” (Anh).

– Viết bài về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều báo chí, tạp chí trong nước

và trên thế giới. Giúp các cơ quan trong nước giới thiệu âm nhạc Việt Nam tại các

Hội nghị quốc tế, trong các Diễn đàn âm nhạc Châu Á, các Cơ quan quốc tế như:

UNESCO, Hội đồng Âm nhạc quốc tế.

– Giới thiệu các bộ môn Ca trù, Múa rối nước, Hát bội miền Nam, Nhã nhạc (Cung

đình Huế), Nhạc Phật giáo Việt Nam, đàn Tài tử, ca nhạc Huế bằng những buổi

thuyết trình, dĩa hát, băng video, làm cho ngoại quốc hiểu thêm về các di sản văn

hóa phi vật thể của Việt Nam.

– Đặc biệt đã giới thiệu Đờn ca tài tử trong và ngoài nước :

+ 1949 : Tại Budapest Hung-ga-ri trong cuộc thi về nhạc khí dân tộc do Liên

hoan Thanh Niên tổ chức : Giới thiệu 2 nhạc khí đờn Cò và đờn Tranh Việt

Nam trong những bài bản Đờn ca tài tử, giải nhì thế giới.

+ 1949 – 1951 : Giới thiệu trong nhiều dịp cho các đoàn thể Thanh niên Pháp và

những người yêu nhạc Đông phương những chương trình về Đờn ca tài tử,

được tổ chức trong các nhà Văn hoá Pháp.

+ 1953 : Bắt đầu soạn Luận án Tấn sĩ văn chương khoa Nhạc học tại Trường Đại

học Văn khoa Paris – Sorbonne với đề tài “Âm nhạc truyền thống Dân tộc Việt

Nam”, bảo vệ thành công năm 1958 – Ưu hạng với lời khen của Ban giám

khảo. In ra năm 1962 với sự ủng hộ tài chánh của Trung tâm quốc gia nghiên

cứu khoa học Pháp và Bảo tàng viện Guimet. Tuy là một luận án về Âm nhạc

truyền thống nói chung nhưng các tư liệu phong phú nhứt có liên quan đến Âm

nhạc Cung đình Huế và Âm nhạc Tài tử miền Nam.

+ 1959 : Thành lập Trung tâm Học nhạc Đông phương chuyên dạy các môn Âm

nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón.

Trong Trung tâm đó lãnh trách nhiệm Giám đốc Nghệ thuật và chuyên dạy

Đờn ca tài tử (Tranh, Kìm, Cò) với sự cộng tác của hai con (Trần Quang Hải &

Trần Thị Thuỷ Ngọc), hoạt động 30 năm và đào tạo trên 150 sinh viên Pháp và

quốc tế biết nhạc tài tử, trong số đó nổi bật nhứt là 3 sinh viên : Kim Lý (dạy

đờn Tranh cho trẻ em Việt Nam nhiều nơi tại Pháp) – Andre Lantz (GS điện tử,

đờn Tranh rất mùi, đi nghĩa vụ quân sự tại châu Phi, nhân ngày Tết Việt Nam

đã đờn bài Tứ đại làm rơi nước mắt bao nhiêu kiều bào Việt ở châu Phi) –

Nelly Felz (GS dạy cấp Tú tài chuyên về Âm nhạc, bắt buộc tất cả sinh viên

phải biết đờn Tranh mới được thêm điểm trong cuộc thi, chuyên Đờn ca tài tử

và đặc biệt thích nhứt là hơi Xuân và hơi Oán).

+ 1959 – 1963 : Được tuyển vào Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học

Pháp với cấp bực “Tuỳ viên Nghiên cứu” để nghiên cứu về ngôn ngữ âm nhạc

Việt Nam đặc biệt trong Đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole)

+ 1959 – 1965 : Giới thiệu Đờn ca tài tử trong tiết mục dành riêng cho tôi tại 2

hiệu ăn lớn : hiệu ăn La Table du Mandarin của anh Phạm Văn Mười và hiệu

ăn Bồng Lai của anh Bùi Văn Tuyền tại Vùng Champs-Elysees.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ).

Nhờ bà De Chambure trong lúc thăm Việt Nam bà có máy ghi âm tối tân bằng

âm thanh nổi hiệu Nagra ghi âm Đờn ca tài tử dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn

Hữ Ba và nhờ tiền tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Học nhạc với phương

pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh làm ra được 1 dĩa hát về nhạc Cung đình Huế

và 1 dĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam, xuất bản dưới nhãn hiệu dĩa hát của

Unesco, trong dĩa đó có những bài Tứ đại oán và Vọng cổ do Bạch Huệ ca,

trong dàn đờn người giữ cây đờn Kìm là bác Sáu Tửng.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ)

+ 1968 – 1972 : Chức vụ Nghiên cứu sư, đã được mời dạy nhạc học trong

chuyên khoa Dân tộc nhạc học. Trong những năm này đặt trọng tâm nghiên

cứu vào các Kịch nghệ châu Á: Jing Xi (Kinh kịch Trung Quốc), Nôh, Kabuki

(Nhựt Bổn), Pansori (Triều Tiên), Hát chèo, hát bội, hát cải lương (Việt Nam)

+ 1972 : Trường Đại học Carbondale (Mỹ) có mời Nhạc sư Vĩnh Bảo, tôi và

Nhạc sĩ Phạm Duy sang dạy một khoá 3 tháng cho sinh viên. NS Vĩnh Bảo dạy

về cách đóng đàn và cách đờn theo truyền thống Đờn ca tài tử, tôi dạy về Lịch

sử và lý thuyết của âm nhạc Việt Nam nói chung và Đờn ca tài tử nói riêng,

Phạm Duy dạy về Dân ca Việt Nam (cả 3 miền). Trường tổ chức nhiều buổi

hoà nhạc Đờn ca tài tử cho sinh viên, kể cả các tổ chức Văn hoá của vùng do

NS Vĩnh Bảo và tôi đảm nhận.

+ 1973 : Trước khi trở về Việt Nam NS Vĩnh Bảo ghé Pháp và ở tại nhà tôi. Hai

anh em góp sức giảng dạy về Đờn ca tài tử cho Trường Đại học Sorbonne và

những trường Trung học cấp III ở vùng ngoại ô.

Trung tâm học nhạc Đông phương tổ chức nhiều buổi hoà nhạc cho Việt

kiều, trong dịp này hãng dĩa Ocora (thuộc Đài phát thanh Paris) mời NS Vĩnh

Bảo và tôi ghi âm một dĩa hát Đờn ca tài tử. Các chuyên gia Unesco sau khi

nghe dĩa hát Ocora rất thích và phái một chuyên gia ghi âm là Hubert de

Frayssex thực hiện một dĩa hát đặc biệt do Unesco tài trợ và được phát hành

dưới nhãn hiệu dĩa hát của Unesco, mục “Musical Sources” (Nguồn gốc âm

nhạc) đây là dĩa giới thiệu Đờn ca tài tử: NS Vĩnh Bảo đờn Tranh, tôi đờn Tỳ

Bà 2 bản Tây Thi, Cổ bản. NS Vĩnh Bảo độc tấu 3 bài Nam Xuân, Nam Ai,

Đảo ngũ cung và một phần bài Tứ đại oán, có đủ cả phần rao đầu.

+ 2010 : Cố vấn đặc biệt cho Uỷ Ban Thành lập Hồ sơ về Đờn ca tài tử để gửi

Unesco. Đã góp ý và sửa những sai lầm trong các cuộn phim về Đờn ca tài tử

của hồ sơ. Cung cấp những dĩa hát mang nhãn hiệu Unesco, trong đó có nhiều

tiết mục Đờn ca tài tử.

– Chương Mỹ Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Văn Hóa Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Giải thưởng UNESCO – CIM về Âm nhạc (1981)

– Huy chương Công dân ưu tú TP.HCM (1981)

– Fulbright Scholarship (1988) Bộ ngoại giao Mỹ sắp đặt cho dạy học trong một

năm tại Hololulu về Âm nhạc Dân tộc các nước truyền thống châu Á, đặc biệt

Âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

– Officier des Arts et des Lettres – Bộ VHTT Pháp (1991)

– Huy chương Vì Văn hoá quần chúng – Bộ VHTT Việt Nam (1991)

– Viện sĩ Thông tấn Hàn Lâm Viện Châu Âu Khoa học Văn chương Nghệ thuật

– Koizumi Fumio International Prize for Ethnomusicology (1994) Nhựt Bổn

– Huân chương Lao động hạng Nhất – Chủ tịch nước CHXHCNVN (1999)

– Chevalier de l’Ordre des Palmes Academiques – Bộ Giáo dục Pháp (1999)

– Giải thưởng Vinh danh nước Việt (2003)

– Giải thưởng Đào Tấn (2005)

– Giải thưởng Quốc tế do Thành phố San Francisco (Mỹ) về “Đã cống hiến trọn

đời cho việc nghiên cứu Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

– Giải thưởng Phan Châu Trinh (2011)

– Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh (2013)