Archives pour la catégorie HÁT THEN TÀY NÙNG THÁI

QUANG HÒA – MINH HOÀNG : Hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam”

Thứ bẩy, ngày 26-09-2015, 15:37

TQĐT – Ngày 26-9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam”.  Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ của Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái toàn quốc lần thứ V do tỉnh ta đăng cai tổ chức.
 
 

Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang
cùng các đại biểu tham dự Hội thảo. Ảnh: Quang Hòa

Tham dự hội thảo có các đồng chí: Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trưởng Ban Chỉ đạo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái lần thứ V; Nguyễn Hải Anh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái lần thứ V, Trưởng Ban Tổ chức Lễ hội Thành Tuyên năm 2015; lãnh đạo các cục, vụ, viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam; Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Ủy ban UNSCO Việt Nam; các nhà khoa học trong nước và quốc tế; lãnh đạo một số sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Giang, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Quảng Ninh; một số nghệ nhân Then trong và ngoài tỉnh cùng đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái đã ghi nhận và đánh giá cao công tác tổ chức và sự chuẩn bị chu đáo của các đoàn cho Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái toàn quốc lần thứ V; khẳng định ý nghĩa, giá trị to lớn của di sản Then đối với cộng đồng. Đồng chí nhấn mạnh, Hội thảo nhằm giúp các địa phương tìm ra phương hướng bảo tồn và phát huy một cách có hiệu quả giá trị di sản Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái trong giai đoạn hiện nay. Đây là cơ hội để các địa phương trao đổi và mở rộng thông tin về kinh nghiệm bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể tương đồng của các nước khác trong khu vực và trên thế giới, so sánh đối chiếu với di sản Then của Việt Nam. Ban Tổ chức mong muốn các đại biểu tập trung trao đổi về vấn đề nhận diện lại diện mạo và những giá trị của di sản Then Tày, Nùng,Thái; hiện trạng tồn tại của di sản Then Tày, Nùng, Thái tại các địa phương để từ đó đề xuất phương hướng và biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trong cuộc sống hiện nay một cách có hiệu quả mà không làm mất đi những giá trị vốn có của nó.


Lễ Cầu Khoăn (giải hạn) do ông Hà Ngọc Cao, thôn Trung Quang,
xã Xuân Quang (Chiêm Hóa) thực hiện.   Ảnh: Minh Hoàng

Tại Hội thảo khoa học, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hải Anh nêu rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Then, trong đó có hiện trạng và công tác bảo tồn Then ở Tuyên Quang. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định, qua hội thảo để các nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa, các tỉnh có hát Then đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ khoa học di sản Then để trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Hội thảo đã có nhiều ý kiến tham luận của các nhà quản lý văn hóa, nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá về Then. Theo đó, tập trung chủ yếu về việc nhận diện Then cổ, vai trò của các thầy Then, tính nhân văn của Then là nền tảng tinh thần của người Tày, Nùng, Thái, âm nhạc trong nghi lễ Then đầy tháng của người Tày… Các tham luận đã làm sáng rõ giá trị của Then nhằm giúp các địa phương bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản Then trong cuộc sống cộng đồng.

Trước đó, chiều 25-9, Viện Âm nhạc, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức biểu diễn Nghi lễ Then Cầu Khoăn (giải hạn) tại xã Xuân Quang (Chiêm Hóa). Hoạt động này giúp các nhà khoa học trong nước và quốc tế thấy được giá trị to lớn của Then tại cộng đồng.

HUY HOÀNG : Khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015

TQĐT – Tối nay (25-9), tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015.

Các đồng chí lãnh đạo trung ương và lãnh đạo tỉnh tham dự khai mạc Liên hoan nghệ thuật
hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015.   Ảnh: Duy Hùng

Đến dự có các đồng chí: Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Hoàng Bình Quân, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; Chẩu Văn Lâm, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Phạm Minh Huấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Hồng Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo và đại diện một số cơ quan, ban, ngành Trung ương và Ban Chỉ đạo Tây Bắc; các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quốc tế, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hoá phi vật thể của UNESCO; đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng (Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào), châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); đại diện lãnh đạo các tỉnh bạn; đại diện các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; các đồng chí nguyên là lãnh đạo tỉnh; lãnh đạo các huyện, thành phố, trưởng đoàn và hơn 500 nghệ nhân, diễn viên của 13 tỉnh có di sản văn hoá Then trong cả nước cùng đông đảo du khách thập phương và nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí Phạm Minh Huấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chào mừng các đại biểu, các vị khách quý và du khách thập phương, nhân dân về dự khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015. Đồng chí giới thiệu về mảnh đất Tuyên Quang “Thủ đô Khu giải phóng – Thủ đô Kháng chiến” với gần 500 di tích lịch sử khắc ghi những mốc son chói lọi, những trang sử hào hùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh rất quan tâm đến công tác giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống. Nhiều di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc trong tỉnh đã vinh dự được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, trong đó có “Nghi lễ Then” của người Tày ở Tuyên Quang. Đồng chí cũng khẳng định, Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V được tổ chức tại Tuyên Quang là minh chứng sinh động thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Các hoạt động tại liên hoan đã góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá Then đặc sắc của dân tộc, đồng thời tạo kho tư liệu quý, cung cấp cứ liệu khoa học quan trọng để xây dựng bộ hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Then là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.


Ban Tổ chức Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái
lần thứ V trao Cờ lưu niệm cho các đoàn tham gia.  Ảnh: Vũ Tuấn

Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái, Trưởng Ban Chỉ đạo Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V đã công bố khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015.

Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam có 13 tỉnh tham gia gồm: Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đắc Lắc, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Nguyên. Các đoàn đã mang đến liên hoan các tiết mục hát Then đặc sắc được dàn dựng công phu, hấp dẫn. Trong khuôn khổ liên hoan, đã diễn ra nhiều hoạt động như Triễn lãm di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam; Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Then, đàn Tính di sản văn hoá các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” với sự tham gia của các nhà khoa học quốc tế và trong nước có nhiều năm nghiên cứu về giá trị loại hình nghệ thuật hát Then; trình diễn, giới thiệu nghi lễ Then cổ tại thôn Trung Quang, xã Xuân Quang (Chiêm Hoá)…

Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 có nhiều mô hình đèn Trung thu khổng lồ đã lập kỷ lục Guiness Việt Nam. Lễ hội năm nay có 92 mô hình tham gia diễn diễu. Các hoạt động của Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái lần thứ V và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 diễn ra đến hết ngày 26-9. Chương trình khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V và khai mạc Lễ hội Thành Tuyên năm 2015 được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV2 và VTV5 Đài Truyền hình Việt Nam và một số đài địa phương.

Một số hình ảnh tại Lễ Khai mạc Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015:


Đông đảo người dân và du khách tham dự đêm khai mạc Liên hoan nghệ thuật
hát Then – đàn Tính và Lễ hội Thành Tuyên năm 2015.

http://www.baotuyenquang.com.vn/chinh-tri/trong-tinh/khai-mac-lien-hoan-nghe-thuat-hat-then-dan-tinh-va-le-hoi-thanh-tuyen-nam-2015!-57350.html

KIỀU KHẢI : Quảng bá vẻ đẹp hát then

Quảng bá vẻ đẹp hát then

Cập nhật: 07:40, Thứ 4, 16/09/2015

Then xuất phát từ chữ “thiên” – tức là trời. Bởi vậy, điệu hát then vẫn được coi là điệu hát thần tiên và thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc…

CLB hát then ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang

CLB hát then ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang

Liên hoan “Bảo tồn, phát huy nghệ thuật Hát then – Đàn tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V, năm 2015 trong thời kỳ xây dựng và phát triển bền vững đất nước” với sự tham dự của 14 tỉnh thành sẽ được tổ chức tại tỉnh Tuyên Quang từ ngày 23-26/9.

Đây là thông tin được Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Tuyên Quang chia sẻ trong cuộc họp báo được tổ chức sáng 15/9 tại Hà Nội.

Món ăn tinh thần

Hát then – Đàn tính của 12 tỉnh miền núi phía Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp.

Trong đó, Việt Nam đăng ký với UNESCO hai loại hình là Nghi lễ lễ hội (nghi lễ cổ truyền) và Nghệ thuật trình diễn (hiện đại). Vì vậy, Liên hoan lần thứ V này là cơ hội để di sản Hát then – Đàn tính một lần nữa bước chân ra tiếp cận với các nhà khoa học thế giới.

Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Then xuất phát từ chữ “thiên” – tức là trời. Bởi vậy, điệu hát then vẫn được coi là điệu hát thần tiên và thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc…

Nguồn gốc của hát then hiện chưa có sự thống nhất. Có tỉnh cho rằng then xuất hiện từ thời nhà Mạc. Nơi khác lại lý giải then xuất hiện từ thời Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII)…

Dẫu chưa có sự thống nhất về nguồn gốc, nhưng trong nhiều thế kỷ qua, hát then là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở miền núi phía Bắc nước ta. Then có sức sống mãnh liệt và vững bền. Nói như ông Hoàng Đức Hậu, Vụ trưởng Vụ Văn hóa Dân tộc – Bộ VH-TT&DL: “Người Tày, người Nùng, người Thái đi đến đâu là then đi đến đấy”.

Ngôn ngữ – lời then, mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường. Đó là ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Nội dung các khúc hát then đều toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên (cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mong muốn nhân an vật thịnh, con người mạnh khỏe…), tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước… Giai điệu then mượt mà, sâu lắng. Âm hưởng then mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

Trước đây, hát then chỉ dùng trong nghi lễ, giao tiếp với thần linh trong như: Lễ khẩu mẩu (lễ cốm), lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa…

Trong lễ hát then, người ta có thể hát cả giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm. Ngày nay, ngoài những làn điệu then cổ còn giữ lại thì các bài then mới cũng được ra đời dựa trên nền nhạc cổ truyền và đặt lời mới. Nội dung chủ yếu của then hiện đại là bài hát ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động…

Phát huy giá trị di sản

Trong 4 ngày tổ chức Liên hoan, ông Nguyễn Hải Anh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, cho biết sẽ có nhiều hoạt động văn hóa diễn ra. Đó là, khai mạc Hội chợ Nông nghiệp và Thương mại vùng Tây Bắc năm 2015 (ngày 23/9); Triển lãm ảnh “Di sản văn hóa then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” (24/9); Lễ hội thành Tuyên (25/9); Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” (26/9)…

Ngoài hoạt động biểu diễn, giới thiệu các thể loại di sản hát, múa then, đàn tính, trong đó du khách sẽ được trực tiếp thưởng thức tại thôn Trung Quang, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang – một trong những cái nôi của nghi lễ hát then cổ truyền – thì Hội thảo quốc tế thu hút hơn 60 nhà khoa học thế giới đến từ các quốc gia: Anh, Pháp, Malaysia, Thái Lan và các chuyên gia UNESCO chuyên nghiên cứu tín ngưỡng Văn hóa dân gian ở Đông Nam Á cũng là điểm nhấn quan trọng.

Then là một kho tàng quý báu tàng trữ những giá trị văn học nghệ thuật song cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với 12 tỉnh miền núi phía Bắc, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Tày, Nùng, Thái trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật di sản văn hóa dân gian độc đáo này.

Kiều Khải

http://m.nongnghiep.vn/quang-ba-ve-dep-hat-then-post149503.html

 

HOÀNG NAM : Đàn Tính – nhạc cụ độc đáo của người Tày

Đàn Tính – nhạc cụ độc đáo của người Tày
07:48, 17/05/2015

Cây đàn Tính (còn gọi là Tính tẩu) là loại nhạc cụ tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tày.

Đàn Tính là loại đàn dây, gồm ba bộ phận chính: bầu đàn, cần đàn và dây đàn. Để có được cây đàn Tính hay, quan trọng nhất phải tìm được bầu đàn tốt. Bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô.

Hướng dẫn sử dụng đàn Tính cho thế hệ trẻ

Cần chọn quả bầu già, tròn đều, vỏ không bị nám hoặc lồi lõm thì đàn mới có âm vang chuẩn. Cần đàn được làm bằng gỗ, thẳng và nhẹ, một đầu xuyên qua bầu đàn, đầu còn lại uốn cong hình lưỡi liềm.

Tỉnh Lạng Sơn đã đưa hát Then – đàn Tính vào giảng dạy ở các trường học

Cần đàn càng dài thì độ vang càng lớn. Đàn Tính thường có 3 dây được làm bằng tơ se, tượng trưng cho cha, mẹ và đất nước. Ngày nay, hầu hết các hoạt động văn hóa của người Tày như: cưới xin, mừng thọ, liên hoan văn nghệ và đặc biệt là hát Then… đều có sự xuất hiện của cây đàn Tính.

Sử dụng thành thạo đàn Tính là niềm tự hào của phụ nữ dân tộc Tày

Âm thanh đàn Tính mượt mà, rạo rực, tạo nên hồn dân ca, dân vũ đặc sắc.

Bầu của đàn Tính được làm bằng nửa quả bầu khô
Chế tác đàn Tính đòi hỏi người thợ phải kiên trì, có đôi bàn tay khéo và hiểu biết về đàn Tính

HOÀNG NHÂM : Những sự tích về cây đàn tính

Những sự tích về cây đàn tính
Cập nhật: Thứ hai, 29/7/2013 | 3:03:14 PM
YBĐT – Đàn tính là loại nhạc cụ truyền thống của đồng bào Thái, Tày, Nùng. Cấu trúc của cây đàn giống nhau nhưng sự tích về cây đàn này lại có điểm rất khác biệt. Trong đó, người Thái lại có tới hai sự tích về cùng một cây đàn.
Múa hát then đàn tính.

Sự tích thứ nhất kể rằng, ngày xưa có một chàng trai người Thái rất nghèo. Ngày ngày chàng phải xuống suối bắt cá, lên rừng đốn củi nuôi cha mẹ. Một hôm chàng đi ngược lên thượng nguồn một dòng suối trong vắt có nhiều thác nước đẹp. Bỗng dưng chàng thấy ở một thác nước thượng nguồn có bầy tiên nữ từ trời xuống lấy nước.

Chàng trai nép mình bên tảng đá để ngắm các tiên nữ, chợt chàng nghe thấy có âm thanh rất lạ và tuyệt hay phát ra từ một vật giống như quả bầu có căng một sợi dây mảnh để các tiên nữ vừa đàn vừa hát múa. Khi các tiên nữ bay về trời, chàng trai trở về nhà lấy vỏ quả bầu, gỗ và dây tơ tằm bắt chước làm theo cây đàn của các tiên nữ và lấy ngón tay bật vào dây đàn.

Quả nhiên, cây đàn bật lên âm thanh rất hay và người Thái từ đó gọi là đàn tính tẩu vì “tính” là cây đàn và “tẩu” là quả bầu. Cây đàn tính tẩu có âm thanh rất hấp dẫn, cho nên từ xưa nó không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Thái. Đồng thời, nó là vật bất ly thân của các chàng trai mỗi khi tỏ tình giao duyên.

Ở  một sự tích khác, người Thái kể rằng xưa kia ở mạn thượng nguồn sông Đà có một chàng trai nghèo độc thân và ngày ngày chàng sinh sống bằng nghề chài lưới. Một hôm nước sông lên to, chàng mang chài lưới ra sông đánh cá nhưng chẳng được gì ngoài một quả bầu nậm mắc vào lưới. Chàng trai cắt lấy nửa dưới quả bầu mang về làm gáo múc nước. Phần trên của quả bầu chàng ném xuống sông trôi về đồng bằng và người Kinh nhặt được đã chế tác thành bầu của cây đàn bầu. Với chiếc gáo múc nước bằng vỏ quả bầu, mỗi khi dùng xong chàng trai nghèo lại ngoắc chiếc gáo ấy lên cột nhà. Một hôm chàng mang chài ra sông đánh cá, khi về chàng ngoắc chiếc chài của mình lên chiếc móc đang ngoắc cái gáo múc nước.

Đến đêm khuya, trong nhà bỗng dưng phát ra âm thanh rất lạ. Chàng soi đèn thì phát hiện ra đó là tiếng của côn trùng bay qua bay lại động phải sợi dây chài kéo từ đầu cán gáo qua thân gáo. Thấy âm thanh vừa lạ vừa hay, chàng trai nghèo lấy sợi dây nhỏ kéo căng từ đầu cán qua thân gáo. Quả thực âm thanh phát ra nghe càng thích hơn. Chàng vui mừng khôn tả nên đợi đêm đến mang đàn tới nhà cô gái mình thầm yêu gẩy cho cô gái nghe. Tuy nhiên, khi lấy cần đàn gõ vào vách nhà đánh thức cô gái dậy rồi gẩy đàn mãi mà chẳng thấy cô gái mở cửa đi ra cầu thang để trò chuyện.

Chàng trai buồn bã mang câu chuyện này kể với các già làng và được người già bày cho cách chọn các loại chất liệu từ gỗ, sừng trâu, dây tơ tằm để làm đàn. Chàng trai nghe theo đã làm lại cây đàn và quả nhiên âm thanh của cây đàn tính trở nên trầm bổng, ngân nga thật tuyệt vời hơn. Từ đó trở đi, cây đàn tính trở thành vật không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Thái, nhất là khi đến tuổi trưởng thành, các chàng trai luôn mang theo bên mình mỗi khi đi chọc sàn tìm kiếm người yêu.

Còn đối với người Tày, sự tích kể về nguồn gốc ra đời cây đàn tính rằng, xưa kia có một chàng trai nghèo không lấy được vợ, thời gian trôi qua, bỗng một hôm ra suối chàng nhìn xuống nước thấy khuôn mặt mình đã trở nên già nua. Buồn phiền với thân phận của mình, chàng ao ước có được một cây đàn để tâm giao những lúc cô đơn. Sau đó, chàng lên trời xin ban cho hạt quả bầu, cho giống cây dâu để nuôi tằm. Khi đã có quả bầu nậm, có tơ tằm, chàng trai đã chế tác ra cây đàn tính. Cây đàn này có 12 dây nhưng mỗi khi chàng gẩy đàn thì những tâm sự u buồn của chàng đã hóa vào âm thanh của tiếng đàn.

Sự u buồn khiến cho người và vật nghe thấy mà nao lòng chẳng buồn ăn. Cỏ cây nghe tiếng đàn cũng buồn mà héo úa. Bụt thấy thế vô cùng lo lắng nếu như chàng trai cứ đàn như vậy thì vạn vật sẽ chết hết. Bởi thế, Bụt bắt người chế tác ra cây đàn này phải bỏ bớt đi 9 dây, chỉ còn 3 dây như cây đàn tính bây giờ nên những âm thanh sầu não cũng không còn nữa mà chỉ còn những âm rộn ràng, tươi vui, trầm bổng.

Qua những sự tích về cây đàn tính của người Thái, người Tày tuy có những nét khác nhau nhưng cùng chứa đựng sự huyền bí và đều cho thấy đây là một thứ nhạc cụ được sản sinh ra từ quá trình khổ công lao động, sáng tạo và đúc kết từ tình yêu thiên nhiên của người xưa. Nó là một đồ vật vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của bà con Tày, Thái sau mỗi ngày lao động và các sinh hoạt lễ hội. Đồng thời, đàn tính còn là thứ công cụ rất hữu hiệu trong giao duyên kết tình đôi lứa của cộng đồng người Thái.

Hoàng Nhâm

http://www.baoyenbai.com.vn/26/99220/Nhung_su_tich_ve_cay_dan_tinh.htm

MÂY TRẮNG : Đàn tính tẩu – vẻ đẹp thanh âm núi rừng

Đàn tính tẩu – vẻ đẹp thanh âm núi rừng

(BLC) – Đối với dân tộc Thái ở xã Mường So, huyện Phong Thổ, gìn giữ tiếng đàn tính tẩu gắn với bảo tồn các điệu múa nón, múa xòe truyền thống. Tiếng đàn ấy là tiếng lòng của dân tộc Thái, là âm thanh vọng vang non ngàn quê hương.

Chúng tôi có dịp gặp ông Nông Quốc Chấn, bản Phiêng Đanh, xã Mường So, huyện Phong Thổ trong Ngày hội văn hóa dân tộc Thái lần thứ I. Niềm tự hào về chiếc đàn tính tẩu thể hiện rõ trên nét mặt ông lão mái tóc đã hoa râm khi đẽo những khúc gỗ chân vịt làm đàn tính. Mỗi người khách muốn mua đàn tính tẩu làm kỷ niệm đều được nghe ông kể câu chuyện người dân xã Mường So lưu truyền. Chuyện rằng xưa kia có ngư dân bên nhánh suối Nậm Lùm tình cờ cắt quả bầu làm gáo múc nước. Một đêm, anh tình cờ nghe thấy chiếc gáo phát âm thanh kỳ lạ, liền dùng sợi dây chài luồn qua tay cầm và chiếc gáo, gẩy lên thấy rất hay. Chiếc đàn tính đầu tiên được hình thành từ đó và trở thành nhạc cụ để các chàng trai gẩy gọi bạn trong những đêm khuya thanh vắng. Sau này, chiếc đàn tính lại “góp công” để những bài hát then, hát đối thêm hấp dẫn. Ở quê ông Chấn, đàn tính tẩu là nhạc cụ không thể thiếu trong những ngày hội: Nàng Han, Kin Lẩu Khẩu Mẩu, Kin Pang Then. Tiếng tính tẩu hòa vào điệu xòe làm say đắm lòng bao du khách cùng trai bản trên, gái mường dưới.

Ông Nông Quốc Chấn làm thân đàn tính tẩu.

Ở Mường So – “cái nôi” in đậm nét văn hóa Thái của tỉnh ta đã sản sinh ra những người con hết lòng yêu, bảo tồn tinh hoa văn hóa dân tộc. Ông Chấn tâm sự rằng anh trai ông chính là “vua đàn tính tẩu” Lai Châu – Nông Văn Nhay – cái tên đã gắn bó với loại đàn này. Ông Nhay nổi tiếng bởi “ngón đàn” điêu luyện với nốt thanh vút như nhạc suối, nốt nhạc trầm dìu dặt như lời thủ thỉ tâm tình của màn đêm. Tôi đồ rằng chính tình yêu dân tộc đã khiến ông Nông Văn Nhay miệt mài tìm hiểu về đàn tính tẩu từ năm mới 13. Gần 60 năm gắn bó với đàn, ông cặm cụi so từng dây, từng phím. Đi thu mua từng quả bầu người dân hái trên nương về lụi hụi chọn quả bầu phù hợp, cưa đôi và chuốt xung quanh miệng bầu. Rồi cả những thân bầu được cẩn trọng ghép từng chút. Trong ngôi nhà ông Nhay, có những chiếc đàn tính tẩu đã cũ kỹ theo thời gian, nước đàn bóng lên, ông bảo đó là kỷ vật từ đời ông, truyền đến đời cha và được ông lưu giữ mãi.

Ở thời kỳ hội nhập, đàn tính tẩu có dịp theo các Đội văn nghệ huyện Than Uyên, Tân Uyên, Mường Tè… ngân lên ở các Hội thi. Đàn tính tẩu là món quà quý được khách thập phương ưa chuộng. Với giá bán dao động từ 500.000 – 700.000 đồng/chiếc, đàn tính tẩu đã trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc xứ núi.

Truyền thuyết cây đàn tính được giới thiệu với du khách tại Ngày hội văn hóa dân tộc Thái lần thứ I.

Tôi có dịp được xem các điệu múa Thái cổ do Đội văn nghệ người cao tuổi tổ 8 (phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu) tập luyện để biểu diễn trong dịp xuân sang. Các bà uyển chuyển, nhịp nhàng trong những dải khăn mềm mại, nón lá nhấp nhô, phối với tiếng đàn tính tẩu mộc mạc của ông Lò Văn Khoong. Sự say mê của người nghệ sỹ “không chuyên” khiến chúng tôi cũng bị lôi cuốn theo. Ông Khoong kể rằng tiếng tính tẩu đã cùng ông và đội múa Thái cổ phường Đoàn Kết biểu diễn ở nhiều nơi để “khoe” với bè bạn về đặc sắc văn hóa nhạc cụ dân tộc mình.

Nếu như sinh hoạt văn hóa Then được xem như 1 lễ hội tổng hợp những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái thì sự đóng góp của đàn tính tẩu là rất lớn. Sự đầu tư của Trung ương và địa phương vào các Liên hoan hát then đàn tính khu vực nhận được sự đón nhận của công chúng, là hành động thiết thực gìn giữ vẻ đẹp thanh âm núi rừng. Tiếng đàn tính tẩu và những vòng xòe bên bếp lửa trại thâu đêm sẽ mãi là tình yêu lớn trong lòng mỗi người con dân tộc.

Mây Trắng

SONG HÀ : Người « giữ hồn » tính tẩu và điệu Then

Người « giữ hồn » tính tẩu và điệu Then

Thứ Ba, 24/03/2015, 09:27 [GMT+7]

Từ nhiều đời nay, điệu Then Tày đất Bình Liêu là một món ăn tinh thần không thể thiếu của người Tày nói riêng, các dân tộc huyện Bình Liêu nói chung. Mà khi nhắc đến Then Tày, không thể nào bỏ qua cây đàn tính. Ở Bình Liêu bây giờ, cứ nói đến đàn tính là người ta nhắc đến ông Lương Thiêm Phú, một nghệ nhân vừa hát Then hay, vừa làm đàn tính giỏi nhất trong vùng.

Ông Lương Thiêm Phú căng dây, thử tiếng cho những cây tính tẩu ông vừa hoàn thành.
Ông Lương Thiêm Phú căng dây, thử tiếng cho những cây tính tẩu ông vừa hoàn thành.

Đến thôn Chang Nà, xã Tình Húc, huyện Bình Liêu, hỏi ông Lương Thiêm Phú chuyên làm đàn tính thì ai ai cũng biết. Hỏi thăm mấy cô bác ở đầu đường mới hay các cô, các bác cũng đang sinh hoạt trong CLB hát Then và đàn tính xã Tình Húc do ông Phú là Chủ nhiệm. Vậy là tôi được dẫn vào tận nhà, nghe ông say sưa kể chuyện về hát Then và cây đàn tính. Dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng khi kể cho chúng tôi nghe chuyện đàn, chuyện hát, ông vẫn như đang sống ở tuổi trẻ trung với tất cả tâm huyết, tình cảm của mình. Ông Phú kể: “Đàn tính, thực ra tên gọi đúng phải là tính tẩu, tức là đàn làm từ quả bầu (tính là đàn, tẩu là quả bầu). Thân đàn được làm từ nửa quả bầu khô; cần đàn làm bằng những loại gỗ nhẹ và thẳng như sa mộc, cần đàn trơn không có phím. Khác với tính tẩu của đồng bào Tày, Nùng, Thái ở những vùng khác như Lạng Sơn, Cao Bằng, tính tẩu của người Tày đất Bình Liêu chỉ có 2 dây. Còn vì sao lại vậy thì có nhiều cách lý giải, nhiều truyền thuyết lắm. Dây tính tẩu ngày trước làm từ sợi tơ xe, sau này tiên tiến hiện đại hơn thì có dây nilon thay thế. Cây đàn tính cùng làn điệu hát Then từ lâu đã không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Bình Liêu”.

Nghe ông kể say sưa về cây tính tẩu mới biết ông yêu cây đàn và điệu hát truyền thống của dân tộc mình thế nào. “Ngày bé, tôi đã yêu tiếng tính tẩu và điệu Then từ những lời hát ru của bà, của mẹ. Lớn thêm một chút, tôi thường theo các cụ đi khắp các bản làng trong vùng để nghe hát. Lớn lên, tôi mê tính tẩu và Then lắm, bèn nhìn các cụ làm đàn rồi cũng tự mình mò mẫm làm theo. Tính tẩu có hay không quyết định nhất là ở quả bầu được chọn làm thân đàn, tức là hộp cộng hưởng âm. Quả bầu được chọn phải là quả bầu già, thân bầu tròn đều, độ dày đồng nhất. Tuỳ từng cỡ bầu to bé khác nhau mà âm thanh sẽ thanh, trầm khác nhau. Rồi cần đàn cũng rất quan trọng. Cần phải thật thẳng, độ dài phải vừa đủ thì gảy nốt mới chuẩn, giai điệu mới hay. Mặt đàn với dây đàn bây giờ không còn dùng được những nguyên liệu thời xưa như da trăn, da rắn hay tơ xe nữa rồi. Tôi thay bằng mặt đàn giấy và dây nilon cả. Tiếng tính tẩu dù sao vẫn hay. Mà chỉ có tính tẩu mới có thể đệm cho hát Then. Điệu Then truyền cảm, trữ tình, lời Then mộc mạc, cùng tiếng tính tẩu ngọt ngào, êm dịu cũng đã đi với tôi được hơn 70 năm rồi…”.

Đối với ông Lương Thiêm Phú, cây tính tẩu và điệu Then mượt mà của người Tày đất Bình Liêu đã như một phần máu thịt của ông. Ông chia sẻ: “Hát Then là một nét văn hoá độc đáo và rất riêng của người Tày. Họ hát Then để cầu chúc cho nhau sự an khang, mùa màng tốt tươi, để trao gửi tâm tình, để cầu chúc cho nhau mọi điều tốt lành trong cuộc sống. Ngày nay, Then cổ, Then nghi lễ vẫn còn nhưng số người biết và làm được cũng không nhiều. Then tân đang ngày một phát huy được tính đúng đắn, hợp thời nhưng rất may mắn là vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống của Then. Giờ lớp “tre già” như chúng tôi đây chỉ mong sao lứa “măng non” luôn hiểu và yêu nét văn hoá truyền thống của dân tộc, rồi chịu khó nghe ông bà, cha mẹ truyền dạy lại để Then Tày đất Bình Liêu không mai một…”.

Để góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào việc gìn giữ những làn điệu Then và văn hoá truyền thống của người Tày Bình Liêu, năm 2007 ông Phú đã đứng ra tổ chức và thành lập CLB hát Then, đàn tính xã Tình Húc và là Chủ nhiệm CLB từ đó đến nay. Hiện CLB có 18 thành viên, người trẻ nhất chưa đầy 20 tuổi. Cuối năm 2014 vừa qua, ông Lương Thiêm Phú đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian Việt Nam với thành tích bảo tồn, truyền dạy nghệ thuật hát Then, đàn tính. Đó có thể coi là một sự ghi nhận xứng đáng dành cho ông – người “giữ hồn” tính tẩu và điệu Then đất Bình Liêu.

Song Hà

http://baoquangninh.com.vn/van-hoa/201503/nguoi-giu-hon-tinh-tau-va-dieu-then-2263962/

YÊN LAN : Về Sông Hinh nghe tính tẩu, hát then

Về Sông Hinh nghe tính tẩu, hát then
Thứ Ba, 12/05/2015 14:00 CH
Các thành viên CLB Hát Then ở thôn Tân Lập luyện tập trên nhà sàn – Ảnh: Y.LAN

Những người Tày, Nùng di cư đến Sông Hinh lập nghiệp, mang theo hình ảnh bản làng, dư âm những điệu then ngọt ngào cùng tiếng tính tẩu thanh thoát. Và rồi CLB Hát Then ra đời trên vùng đất mới Sông Hinh, để những người con xa núi rừng Tây Bắc gửi vào tiếng đàn, lời hát bao niềm thương nỗi nhớ…

GÓP SỨC GIỮ ĐIỆU ĐÀN, CÂU HÁT

Tính tẩu theo tiếng Thái có nghĩa là đàn bầu. Để phân biệt với đàn bầu của người miền xuôi, người ta gọi tính tẩu nôm na là đàn tính. Tính tẩu thuộc bộ dây, âm vực có thể lên tới 3 quãng tám, âm sắc êm dịu. Tính tẩu có loại 2 dây dùng để đệm hát và múa, loại 3 dây (tính then) dùng trong nghi lễ then, có loại 4, 5 dây…

Khi tôi cùng ông Phan Thanh Quyền, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật huyện Sông Hinh, đến thôn Tân Lập (xã Ea Ly), các thành viên CLB Hát Then của thôn đang tập luyện trên nhà sàn. Tiếng tính tẩu reo vui, tiếng bộ xóc nhịp nhàng hòa với lời then tràn đầy tình yêu cuộc sống. Ông Nguyễn Đình Sao, người có rất nhiều đóng góp vào sự hình thành, phát triển của CLB Hát Then, cho biết: “Thường thì CLB luyện tập vào tối thứ bảy, chủ nhật. Song trước những đợt giao lưu, chúng tôi luyện tập nhiều hơn”.

Di cư đến huyện Sông Hinh sinh sống đã hàng chục năm, những người Tày, Nùng không thôi nhớ núi rừng Tây Bắc cùng điệu đàn, câu hát của dân tộc mình. Và họ mong muốn gìn giữ nét đẹp văn hóa đó. Nhưng bằng cách nào, khi bản làng đã hun hút xa? Họ mày mò tìm hiểu, người biết hướng dẫn người chưa biết, người biết ít học hỏi ở người biết nhiều. Ông Nguyễn Đình Sao nói: “Tính tẩu ra đời từ khi nào thì không ai rõ. Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có một chàng trai rất nghèo không lấy được vợ, muốn dùng tiếng đàn để vơi nỗi buồn. Chàng trai ấy lên trời, xin trời ban cho giống bầu gieo để lấy trái làm bầu đàn, xin giống dâu để trồng, lấy lá nuôi tằm, lấy sợi xe tơ làm dây đàn. Với người Tày, Nùng và cả người Thái ở Tây Bắc, tính tẩu là nhạc cụ vô cùng thân thuộc, không thể thiếu trong đời sống tinh thần”.

Ông Sao giảng giải: Tính tẩu gồm 3 bộ phận: bầu đàn, cần đàn và dây đàn. Bầu đàn được làm bằng trái bầu khô, phải chọn trái tròn đều, đầy đặn; mặt đàn được làm bằng gỗ cây ngô đồng. Cần đàn thì phải chọn loại cây rất nhẹ, thẳng, không cong vênh. Dây đàn ngày xưa là dây tơ tằm, bây giờ khó tìm tơ tằm nên người ta dùng dây cước. Để thoát âm, người thợ đàn khoan lỗ hình hoa thị ở đáy bầu đàn, có người khoan trên mặt bầu đàn, còn ông Sao khoan ở phần trên của bầu đàn.

Để mỗi thành viên CLB Hát Then đều có một cây tính tẩu, họ bàn nhau góp tiền, góp bầu đàn, góp cây…, còn ông Sao thì mày mò tìm hiểu cách chế tác tính tẩu. Làm cây đàn thứ nhất, thứ hai không thành công, đến cây thứ ba thì đạt. Đàn của các thành viên trong CLB Hát Then ở thôn Tân Lập đều do ông Sao làm nên.

NÂNG TẦM CLB HÁT THEN

Bao đời nay, tính tẩu đã trở thành “bạn tâm giao” của những làn điệu then. Đàn tính – hát then là nghệ thuật diễn xướng đặc sắc, một loại hình dân ca tín ngưỡng gắn với đời sống tâm linh của dân tộc Tày, Nùng. Người ta vừa hát then vừa chơi đàn tính. Lời hát, tiếng đàn, điệu dân vũ hòa quyện vào nhau cùng với những âm thanh nhịp nhàng của bộ xóc, đã tạo nên nét đẹp rất riêng trong đời sống văn hóa của các dân tộc Tày, Nùng.

Bà Hoàng Thị Thủy ở thôn Tân Lập, thành viên CLB Hát Then, thổ lộ: “Chơi đàn tính khó lắm chứ. Mình đâu có thời gian học tập trung như những người chuyên nghiệp, vừa làm việc vừa tranh thủ học nên cũng mất thời gian. Tôi học từ lúc thành lập CLB đến giờ, hát thì được rồi nhưng chơi đàn chỉ mới tạm được”.

Điều thú vị là trong số 17 thành viên CLB không chỉ có người Tày, Nùng mà còn có cả người Kinh. Đó là chị Nguyễn Thị Yến, quê ở Bắc Ninh. “Khi CLB được thành lập cách đây hơn một năm, tôi đến xem các chị học đàn. Tôi thích tiếng đàn mượt mà tình cảm, quyến rũ lòng người nên tham gia CLB”, chị Yến chia sẻ.

Dựa vào những làn điệu then cổ, ông Nguyễn Đình Sao sáng tác lời mới cho các thành viên CLB hát. Đó là những lời then bày tỏ tình yêu quê hương xứ sở, gửi gắm vào tiếng đàn câu hát nỗi nhớ bản làng xa xôi, giãi bày những buồn vui trong cuộc sống… Không chỉ đóng góp tích cực vào sự hình thành, phát triển của CLB Hát Then ở xã Ea Ly, ông Nguyễn Đình Sao còn gìn giữ điệu tính tẩu, câu hát then từ trong gia đình. Cháu ông – cô bé Trần Nguyễn Ngọc Mai – chưa đến tuổi vào lớp 1, chưa biết chữ nhưng đã biết hát then bằng hai thứ tiếng Tày, Kinh.

Theo ông Phan Thanh Quyền, Sông Hinh có 2 CLB Hát Then trực thuộc hội, một của thôn Tân Lập, một của Hội Người cao tuổi xã Ea Ly. Ngoài ra, ở thị trấn Hai Riêng và xã Sơn Giang cũng có những nhóm hát then rất hay. “Các CLB, nhóm hát then đã góp phần tạo nên sự đa dạng về sắc màu văn hóa ở huyện miền núi Sông Hinh”, ông Phan Thanh Quyền nhận xét.

YÊN LAN

http://baophuyen.com.vn/93/132015/ve-song-hinh-nghe-tinh-tau-hat-then.html

LAN PHƯƠNG : CÂY ĐÀN TÍNH TẨU CỦA NGƯỜI THÁI

Cây đàn tính tẩu của người Thái

09:53 | 15/03/2010

LAN PHƯƠNGKho tàng âm nhạc dân gian của dân tộc Thái vùng Tây Bắc rất phong phú và đa dạng. Bất cứ nơi đâu trong bản làng của người Thái đều có thể thấy có các làn điệu dân ca thể hiện rõ phong cách riêng của mỗi vùng mà nguyên nhân do sự truyền lại cho các thế hệ theo cách cảm thụ và rung động riêng của mỗi nghệ nhân. Trong đó không thể thiếu tiếng cây đàn tính tẩu.

Em Nông Thị Nam với cây đàn tính tẩu do chính ông nội em làm ra – Ảnh: vietbao.vn

« Tính » tiếng Thái nghĩa là đàn, còn « Tẩu » nghĩa là quả bàu, Tính tẩu nghĩa la đàn bàu. Trong cộng đồng người Thái có lưu truyền một huyền thoại về cây tính tảu: Chắc nhiều người biết về sự tích quả bàu trong huyền thoại về sự sinh ra các dân tộc trên trần gian.

Sau một trận hồng thủy trần gian chẳng còn ai nên Nhà Trời đưa xuống một quả bàu có giống người và dùi một lỗ thủng bằng chiếc dùi nung đỏ cho giống người chui ra. Lỗ thủng ấy có vết đen người Xá chui ra trước nên đen nhẻm cho đến bây giờ, người Kinh chui ra sau nên đỡ đen hơn… và mọi giống người đều từ quả bàu (có hình cái nậm rượu) mà ra cả. Sau khi từng giống người chui ra khỏi quả bàu và trở thành các dân tộc, còn lại vỏ quả bàu ấy nằm một mình trên tận nơi thượng nguồn chẳng còn ai nhớ gì đến nữa. Nơi thượng nguồn có nguồn nước trong và mát nên các tiên nữ thường xuống lấy nước về trời.

Trong bản Thái nọ có một chàng trai ngày ngày đi câu cá ngược theo suối nhưng mãi chẳng được con cá nào. Đến nơi cảnh đẹp thượng nguồn, chàng trai nghe tiếng các thiếu nữ đang cười đùa vui vẻ. Chàng bèn tìm chỗ ẩn nấp theo dõi. Nhờ vậy mà chàng phát hiện thấy các tiên nữ đi lấy nước đang nô đùa xung quanh vỏ quả bầu. Thấy các tiên nữ làm sợi dây mảnh nối từ quả bàu ngang qua miễng lỗ dùi khi có gió thổi làm cho sợi dây rung lên những âm thanh êm ái mà chàng trai không thể bỏ đi được. Nghe nhiều ngày chàng trai càng mê không dứt ra được. Trời tối các tiên nữ rủ nhau bay về trời để lại chàng trai một mình nơi tiên cảnh. Chàng trai không chịu ngồi yên, chàng muốn nghe âm thanh từ quả bàu kia. Và thế là, chàng bắt chước chặt cành cây cắm xuống đất, lấy sợi dây rừng xe thành sợi mảnh cũng nối từ cành cây cắm cọc xuống đất kéo qua miệng lỗ dùi ở quả bàu và nằm chờ gió thổi. Nhưng chờ mãi chẳng được, chàng trai dùng tay bật thử sợi dây và thấy phát ra âm thanh. Âm thanh làm chàng trai say mê nghe hết ngày này sang ngày khác quên cả mọi việc đến nỗi chàng không nhận ra rằng cành cây chàng cắm xuống đất đã mọc rễ và trở thành một cây thực thụ. Lúc này chàng trai muốn về bản báo tin vui cho dân làng. Chàng cầm quả bàu đi theo nhưng thấy vướng quá chàng đã dùng dao cắt bỏ phần ngọn của quả bàu quăng xuống suối. Còn lại phần phình to chàng giữ lại và chặt theo cành cây mang về làm cần đàn, lấy vỏ cây làm sợi dây buộc qua miệng quả bàu vừa bị chặt phần ngọn vừa đi vừa gảy vừa hát. Tuy nhiên âm thanh ấy không còn hay như trước nữa. Vì chàng không biết rằng phần linh thiêng của quả bàu đã bị chàng vứt xuống suối trôi về xuôi người Kinh vớt được và làm ra cây đàn bầu của người Kinh. Vì thế mà cây đàn bàu của người Kinh ngày nay hay hơn cây đàn bàu của người Thái.

Đấy là chuyện cổ tích. Tuy âm thanh của cây tính tẩu không bằng cây đàn bầu của người Kinh như ngày nay chúng ta thấy. Nhưng sự tồn tại của cây tính tẩu trong đời sống tunh thần của người Thái có ý nghĩa quan trọng mọi lúc mọi nơi.

Ở vùng Tây Bắc, người có công khởi đầu cho việc đưa nghệ thuật sử dụng cây tính tẩu trong múa Thái là cố nghệ sĩ ưu tú Điêu Chính Ngâu(1). Đây là bước ngoặt quan trọng của cây đàn tính tẩu. Ngày nay nhiều người Thái có thể sử dụng cây đàn này trong sinh họat đời thường và có nhiều nghệ nhân đã mạnh dạn sử dụng nó trong các sinh họat văn nghệ cộng đồng nhưng chỉ ở mức phụ họa. Chuyển thành nghệ thuật biểu diễn độc tấu các làn điệu dân ca của dân tộc Thái thì chỉ có một người làm được mà chính con người ấy cũng ít chú ý đến điều này đó là Hoàng Thím(2).

Đến nay rất tiếc là chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung cho loại nhạc cụ này ngoài sự cố gắng của ông Tạ Thâm,nhưng kết quả còn nhiều ẩn số. Tác giả ước rằng: giá mà có được những tài liệu nghiên cứu đầy đủ tiến tới có được những trang giáo trình trong nhạc viện quốc gia về cây Tính tẩu thì tốt biết bao.

L.P
(132/02-2000)

——————————————————–
1). Điêu Chính Ngâu: Được phong NSUT sau khi ông đã mất. Có một người đã dành tình cảm cho ông qua bài giới thiệu công lao phát hiện tìm tòi sử dụng cây tính tau trong múa Thái là tác giả Đinh Văn Phùng – một học trò của ông.
2).
Hoàng Thím: Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội viêin Hội Văn nghệ Lai Châu, người đầu tiên được tặng huy chương vàng tiết mục độc tấu tính tẩu tại hội diễn nghệ thuật miền Bắc năm 1960. Hiện nay ông là người duy nhất có khả năng sử dụng cây tính tẩu độc tấu hàng chục làn điệu dân ca Thái.

http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p37/c51/n5100/Cay-dan-tinh-tau-cua-nguoi-Thai.html

Đàn tính – Hồn dân ca dân vũ của người Tày Yên Bái

Đàn tính – Hồn dân ca dân vũ của người Tày Yên Bái

 

Tạo hoá đã ban cho Yên Bái cái đặc quyền tự nhiên với những vùng đất trù phú, để rồi nơi đây là đất lành cho hơn 30 dân tộc anh em tụ hội, tạo nên một miền văn hoá đa sắc màu. Mỗi dịp xuân về, đất trời Yên Bái như khoác lên mình chiếc áo hoa thắm nhiều màu sắc, mỗi sắc màu là nét riêng của mỗi dân tộc còn lưu giữ được khá nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay.

Mùa xuân với người Mông là những hội Gầu tào dắt réo tiếng khèn bè, thì với người Thái sẽ là những đêm Hạn khuống dập dìu bất tận. Còn với người Tày tô điểm vào mùa xuân, vào chiếc áo hoa thắm của đất trời vùng cao Yên Bái bằng những âm thanh êm dịu, thánh thoát của cây đàn tính.

Đàn tính có mặt trong tất cả các ngày vui, ngày trọng đại của bản người Tày như hội xuân đón năm mới, mừng nhà mới, ngày cưới, lễ mừng thượng thọ, mừng thăng quan, tiến chức… Nó là phần quan trọng trong nghệ thuật dân ca, dân vũ của người Tày.

Những vật liệu làm nên chiếc đàn tính đều đơn giản, dễ kiếm bởi đó là những thứ quanh năm gắn bó với cuộc sống của đồng bào. Bầu đàn còn gọi là bầu vang làm bằng nửa quả bầu khô; Cần đàn thường làm bằng gỗ dâu; dây đàn thì làm bằng tơ xe. Chỉ bao nhiêu ấy thôi mà có thể tạo nên một thứ âm thanh đặc biệt cho câu hát, điệu múa, cho những lễ hội ngày xuân, cho lòng người không rời, cho trai gái gần nhau.

Để làm ra một cây đàn tính khi đã có đầy đủ nguyên liệu người giỏi cũng phải mất 2-3 ngày. Làm đàn tính khó nhất là tìm quả bầu. Phải chọn được quả bầu không quá to, cũng không quá nhỏ, phải già, hình dáng bên ngoài phải tròn đẹp, vỏ dày, gõ vào phải kêu thật đanh. Như thế đàn mới có âm sắc chuẩn. Cần đàn phải nhẹ và thẳng, chiều dài phải bằng 9 nắm tay của người chơi, theo kinh nghiệm dân gian, số đo cỡ nào thì hợp với giọng hát của người có số đo ấy. Cần đàn trơn, không có phím bấm, người chơi tính phải có khả năng diễn tấu linh hoạt.

Nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng chưa đủ cho một cây tính hay bởi đó còn là niềm đam mê cho tiếng đàn tính bay cao bay xa, là lòng tự hào dân tộc và thêm một chút tài hoa đặc biệt của người nghệ nhân. Họ như gửi vào đó cả tâm hồn, cả tình yêu bản làng, cả núi và cả rừng quê mình. Tích xưa kể lại: Cây đàn tính bị Bụt trên trời cắt mất 9 dây tơ, vùng thì để lại 2, vùng thì 3 dây. Bởi lẽ, vì quá nhiều dây sẽ quá nhiều âm, khiến con người ngây ngất mà quên ăn quên ngủ, quên cả ruộng đồng.

Múa đàn tính trong hội xuân của người Tày Văn Chấn.

Ngày xuân, những thiếu nữ vận trang phục truyền thống mềm mại mang theo cây tính lòng phơi phới đi hội xuân. Trong nắng xuân nồng nàn ủ lẫn tứ thơ và men rượu, ủ lẫn cả điệu tính tẩu và lời hát then ngây ngất:“Bản làng em nở trắng hoa mơ hoa mận. Long lanh nước trong xanh suối reo. Ném trái còn vui đón xuân sang. Tua ngũ sắc bay qua tay anh, tay nàng…”. Chỉ có đàn tính mới có thể đệm cho hát then. Làn điệu then truyền cảm, trữ tình, lời hát then mộc mạc, cùng tiếng đàn tính ngọt ngào, để rồi “Con gái nghe phải sẽ lần bậc thang xuống với bạn tình. Trai bản nghe được sẽ lấy cần đàn, đầu gậy chọc lên sàn nơi cô gái ngủ. Người già nghe đàn lần đến hũ rượu. Ngọn gió nghe phải sẽ làm roong reng quả nhạc”.

Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc. Chỉ với một cây tính, cùng với nhạc chuông tay có thể tạo nên một âm thanh rộn ràng, rạo rực cho những điệu xoè. Trong những lễ hội, trong các ngày trọng đại của làng, của bản đều có những điệu xoè then. Xoè then như một biểu trưng gắn kết cộng đồng, tạo lên sức mạnh tập thể. Xoè then của người Tày không giống với xoè của người Thái. Bởi đặc điểm của âm thanh đàn tính, giai điệu dứt khoát, mạnh mẽ mà các động tác múa xoè của người Tày theo đó cũng mạnh mẽ. Âm thanh lúc liên tục dồn dập, lúc trầm lúc bổng làm nhộn nhịp trái tim bao chàng trai cô gái, để cùng xoè, cùng cầu cho mùa màng tươi tốt, cho bản làng yên bình, cho lứa đôi hạnh phúc.

Đàn tính có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày. Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày. Cùng với xoè then, là những điệu múa dân gian, mà nổi bật là điệu múa lăn đàn tính đầy tinh thần thượng võ. Các chàng trai căng tràn sức trẻ vừa gẩy đàn, vừa di chuyển với những động tác dứt khoát mà uyển chuyển, lăn người theo điệu tính. Khi múa tay chơi tính, chân bước theo nhịp tính, rồi xoay rồi bước. Ở bất kỳ một tư thế nào thì người múa vẫn ung dung tự tại, tay gẩy tính. Khi lăn người thì đầu và tính không được chạm đất, tất cả sức bật được dồn vào hai chân và cơ bụng rắn chắc, khiến cho điệu múa vừa mềm mại lại vừa khoẻ khoắn.

Mỗi dịp xuân về các chàng trai lại cùng nhau đua tài trong điệu múa lăn, các cô gái khoe sắc với làn điệu then mượt mà và để rồi tất cả cùng tay trong tay trong điệu xoè cầu phúc cho bản làng, thắt chặt tình đoàn kết dân tộc.

Âm thanh của cây tính, của điệu hát then, của những đêm xoè rạo rực ấy như dòng suối chảy mãi từ mùa xuân này tới mùa xuân khác, từ mùa lúa này tới mùa lúa khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó trường tồn cùng thời gian và như một biểu tượng của hồn dân ca dân vũ của người Tày. /.

http://www.yenbai.gov.vn/vi/Pages/chitietdantinh.aspx