Archives pour la catégorie HÁT CHẦU VĂN

Theo THANH HIỆP /NLĐ:Hoài Linh trần tình với GS Trần Quang Hải về Chầu Văn

Tin tức » Super star » Sao Việt

Đọc thêm tại: http://www.vietgiaitri.com/super-star/sao-viet/2016/01/hoai-linh-tran-tinh-voi-gs-tran-quang-hai-ve-chau-van/#ixzz3wo70zmc

Hoài Linh trần tình với GS Trần Quang Hải về Chầu Văn

Sau khi đọc bài báo “GS Trần Quang Hải cảnh báo Hoài Linh, Xuân Hinh về chầu văn” trên Người Lao Động online, nghệ sĩ Hoài Linh lên tiếng trần tình vấn đề này.

“Trước hết. tôi vô cùng cảm ơn sự cảnh báo của GS Trần Quang Hải về những vấn đề giáo sư đã nêu liên quan đến tôi với vai trò cung văn của bộ môn nghệ thuật chầu văn – một trong những tín ngưỡng dân gian của người Việt mà Hội thảo khoa học quốc về vấn đề này vừa được tổ chức thành công tại TP Nam Định. Kính thưa GS, tôi xin báo đến GS sự yên tâm về tôi, bởi từ năm 13 tuổi tôi đã theo học và hát với vai trò cung văn. Hơn 30 năm qua chưa bao giờ tôi đưa lên sàn diễn bộ môn chầu văn này với tính cách bán vé kinh doanh » – Nghệ sĩ Hoài Linh nhắn gửi GS Trần Quang Hải.

hoai-linh-tran-tinh-voi-gs-tran-quang-hai-ve-chau-van-ac0d6b

NS Hoài Linh hát Chầu Văn trong vở kịch Gió hoàng cung của đạo diễn Công Triển.

Anh tâm sự thêm rằng có rất nhiều nơi mời, thậm chí mời biểu diễn tại các hội thảo về nghệ thuật và tín ngưỡng với bộ môn chầu văn nhưng đều từ chối. Nếu có chăng chỉ một lần duy nhất anh nhận lời hát khai từ cho vở diễn tốt nghiệp của đạo diễn trẻ Công Triển với kịch bản Gió hoàng cung, tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TP HCM trong khuôn khổ của một suất diễn báo cáo tốt nghiệp.

« Sở dĩ, tôi nhận lời tham gia đưa chầu văn lên sân khấu trong suất diễn đó bởi tác phẩm ca ngợi công đức của những anh hùng lịch sử, mà nghệ thuật hát chầu văn đều có chung nguyên tắc: ca ngợi công lao bao đời của các tiền nhân. Từ đó đến nay, tôi chưa hề đưa chầu văn lên sân khấu và không thể có những vũ đoàn yểm trợ, làm mất đi tính tôn nghiêm vốn có của bộ môn nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian mà ông cha ta đã để lại. Kính thưa GS Trần Quang Hải, xin ghi nhận lời cảnh báo của giáo sư và nhấn mạnh một chân lý bất di, bất dịch của Hoài Linh: rằng Giáo sư hãy yên tâm! » – Hoài Linh tâm sự.

hoai-linh-tran-tinh-voi-gs-tran-quang-hai-ve-chau-van-31bbaa

NS Hoài Linh trong lễ Truyền thống Sân khấu.

Nam nghệ sĩ này cho biết anh đang xây dựng Nhà thờ Tổ với không gian tín ngưỡng văn hóa dân tộc cũng nhằm để góp phần bảo vệ đúng bộ môn nghệ thuật độc đáo này. Anh mong Nhà thờ Tổ sau khi đi vào hoạt động sẽ là điểm giao lưu, gặp gỡ của các nghệ nhân nhiều bộ môn nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật chầu văn

“Tôi tin rằng với nỗ lực của bản thân, cộng với ý hướng tích cực góp phần bảo tồn dù sự phát triển của đời sống xã hội đã làm mai một những giá trị nghệ thuật đích thực của chầu văn cổ. Song, trong khi các nghệ nhân hát chầu văn không còn nhiều và hầu hết đều đã tuổi cao, sức yếu, tôi tin điểm hẹn giao lưu văn hóa mà tôi cố gắng kiến tạo, sẽ là nơi các nghệ nhân, các cung văn hội tụ, từ đó góp phần với các nghệ nhân ở các tỉnh thành, tiếp tục gầy dựng một thế hệ trẻ tiếp nối.

hoai-linh-tran-tinh-voi-gs-tran-quang-hai-ve-chau-van-431c76

NS Hoài Linh và ca sĩ Phương Thanh trong vở Trâm Hoa Mai.

Hạnh phúc lớn hơn của bản thân tôi và của các nghệ nhân, cung văn gắn bó cả đời với Chầu Văn, là sau khi chầu văn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cách đây hai năm, thì hồ sơ mà Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch sẽ trình UNESCO công nhận nghệ thuật chầu văn là Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc đại diện của nhân loại, sẽ đạt thành tựu, để bên cạnh bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ mà tôi vốn yêu thích, sẽ có thêm di sản văn hóa chầu văn được thế giới tôn vinh, như những di sản văn hóa mà Việt Nam đã có” – Hoài Linh tâm huyết nói.

Theo T.Hiệp/ Người Lao Động

Đọc thêm tại: http://www.vietgiaitri.com/super-star/sao-viet/2016/01/hoai-linh-tran-tinh-voi-gs-tran-quang-hai-ve-chau-van/#ixzz3wo6SVqDz

Theo Báo VĂN HÓA : Khẳng định sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng thờ Mẫu

Thứ bảy, 09 Tháng 1 2016 09:03

Ngày 6.1, Bộ VHTTDL phối hợp với UBND tỉnh Nam Định tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu).

Một buổi hầu đồng tại Phủ Dầy, Nam Định Ảnh: Tr.Huấn

 

 Tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên khẳng định: “Trong những năm qua, Bộ VHTTDL luôn quan tâm đến công tác bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử và nhân văn của các di sản văn hóa, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Các thực hành nghi lễ thờ Mẫu cũng là một chủ đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học ở VN và trên thế giới quan tâm”.

Trong khi Hồ sơ Quốc gia Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN đang trên đường đệ trình UNESCO xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Hội thảo quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) là một hoạt động quan trọng nhằm nhận thức về giá trị, ý nghĩa của Tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, về Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói riêng. Hội thảo đã thu hút sự góp mặt của 47 nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa trong và ngoài nước, trong đó có 11 học giả quốc tế đến từ các nước và vùng lãnh thổ: Bulgari, Đài Loan, Hà Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hungari, Nga, Pháp, Trung Quốc.

Tín ngưỡng thờ nữ thần tồn tại ở nhiều tộc người, ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là một trong những tín ngưỡng lâu đời và phổ biến bậc nhất. Bên cạnh hình thức thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt, Tín ngưỡng thờ Mẫu còn thờ cúng các nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân. Đánh giá về sức sống của Tín ngưỡng thờ Mẫu, PGS.TS Từ Thị Loan, Q. Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN khẳng định: “Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ Mẫu có một chỗ đứng đặt biệt, có sức lan tỏa lớn và ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội đương đại”.

Toàn cảnh Hội thảo

 

Tại Hội thảo, ngoài phiên họp toàn thể, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa và các học giả quốc tế đi sâu thảo luận qua bốn tiểu ban: Một số vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; Các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và các hình thức tương đồng khác; Những vấn đề chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; Bảo vệ và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại. Điều đáng mừng là hầu hết các ý kiến đều nhìn nhận giá trị cũng như sức sống mãnh liệt của Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN.

Theo thống kê, riêng quần thể Phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định cũng đã tập trung tới 20 di tích gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu. TS Trần Hữu Sơn, Hội Văn nghệ dân gian VN nói: “Hoạt động theo cơ chế dân gian rất linh hoạt nên Tín ngưỡng thờ Mẫu có thể đáp ứng được nhu cầu tâm linh của xã hội ngày nay, vì thế tín ngưỡng này ngày càng phát triển”.

Hội tụ nhiều giá trị độc đáo

Thực tế, sau một thời gian dài bị dị nghị, cấm đoán… việc nhận thức, đánh giá lại những giá trị văn hóa, bản sắc của Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN thực sự cần thiết. Trước hết, cần phải khẳng định Tín ngưỡng thờ Mẫu là một thực hành nghi lễ kết hợp nhiều yếu tố văn hóa như trang phục, âm nhạc, múa thiêng… Thậm chí có thể coi thực hành lễ hội, nghi lễ này như một “bảo tàng sống” lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và bản sắc văn hóa của người Việt. GS.TS Trương Quốc Bình, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN nhìn nhận: “Nghi lễ phổ biến nhất trong tín ngưỡng Thánh Mẫu là hầu đồng. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, và nghe những lời cầu nguyện của người dự lễ. Các điệu múa linh thiêng (giá đồng) là một phần quan trọng của nghi lễ”.

Nét nổi bật trong thực hành diễn xướng di sản này chính là âm nhạc. Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học, GS.TS Trần Quang Hải, Trung tâm Nghiên cứu âm nhạc dân tộc, CNRS, Pháp khẳng định: “Muốn biết rõ nguồn gốc của nghi lễ hầu văn, điều quan trọng là phải xác định sự quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ, cũng như vai trò của hầu văn”. Từng đi nghiên cứu, điền dã nhiều lần về Tín ngưỡng thờ Mẫu, nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, Viện Nghiên cứu âm nhạc cho rằng nếu không có giọng hát, không có tiếng đàn, tiếng mõ (phách), không có lời văn và tài năng biểu diễn của người nghệ sĩ cung văn ắt không thành lễ Hầu bóng thờ Mẫu. Ông Loan nhấn mạnh; “Bộ gõ đóng vai trò quan trọng, giúp người hầu đồng có thể thăng hoa, nhập đồng”…

 Một buổi hầu đồng tại Phủ Dầy, Nam Định Ảnh: Tr.Huấn

 

Còn nhiều vấn đề tranh cãi

Một trong những đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể nói chung là những giá trị văn hóa cũng như các phương thức diễn xướng của di sản không phải nhất nhất bất biến mà luôn vận động, biến đổi trong các môi trường, xã hội khác nhau. Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng đã trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình tồn tại và phát triển. Trong xã hội đương đại, công tác bảo tồn và phát huy giá trị Tín ngưỡng thờ Mẫu này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ, nghiên cứu…

TS Trần Hữu Sơn cho rằng: “Đạo Mẫu có sức hút mạnh mẽ các con nhang đệ tử và người dân tham gia. Vì vậy, cần ứng xử đạo Mẫu như ứng xử với một tôn giáo và có chính sách như một tôn giáo (đạo Phật, đạo Cao Đài, Thiên Chúa giáo).” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN lại quan niệm, nếu cố ép tín ngưỡng Tứ phủ thành tôn giáo, đồng bóng thành đạo, không lẽ bên cạnh các tôn giáo đã có, giờ đây VN sẽ có thêm… Mẫu giáo nữa hay sao?

Tính thiêng trong hoạt động diễn xướng di sản này cũng đặt ra nhiều quan điểm khác nhau trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam nhìn nhận: “Nghệ thuật hoá lên đồng là xu hướng tất yếu diễn ra cùng với quá trình sân khấu hoá. Đó là quá trình giảm nhẹ dần yếu tố tín ngưỡng và tăng cường hơn yếu tố nghệ thuật. Điều này đang có những tìm tòi để làm sao biến lên đồng thành một tiết mục nghệ thuật trên sân khấu để phục vụ rộng rãi khán giả xã hội đương đại”. Tuy nhiên, trước hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu như Bùi Trọng Hiền, Trần Hữu Sơn hay TS Barley Mark Peter Norton, ĐH Lon don lại cho rằng xu hướng “sân khấu hóa” thực hành tín ngưỡng này là biến đổi đáng lo ngại trong xã hội đương đại.

 

Theo: Báo Văn Hóa

http://www.info.vn/giai-tri/273-van-hoa/525107-Khang-dinh-suc-song-manh-liet-cua-tin-nguong-tho-Mau-.html

ĐẶNG NGỌC OANH :Hội thảo quốc tế về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại


Hội thảo quốc tế về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại

Thứ Tư, 06/01/2016, 14:10:13

NDĐT- Trong hai ngày 5 và 6-1, Hội thảo khoa học quốc tế “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại – Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu” diễn ra tại thành phố Nam Định do Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định phối hợp tổ chức.

Hội thảo thu hút gần 100 nhà khoa học trong nước và quốc tế đến từ chín nước và vùng lãnh thổ (Bun-ga-ri, Đài Loan, Hà Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hung-ga-ri, Nga, Pháp, Trung Quốc) cùng các nhà quản lý về văn hóa ở Trung ương và địa phương, đại diện những người trực tiếp tham gia thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tham dự.

Phát biểu Đề dẫn Hội thảo, PGS-TS Từ Thị Loan – Quyền Viện trưởng Văn hóa nghệ thuật quốc gia (VHNTQG) cho biết, Thờ Mẫu là một tín ngưỡng lâu đời và phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều dân tộc khác trên thế giới. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu có một chỗ đứng đặc biệt, có sức lan tỏa mạnh và ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội đương đại. Hiện nay, trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thay đổi lớn lao trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội là những chuyển biến phức tạp trong đời sống tâm linh, sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng.

Vì vậy, ban tổ chức hội thảo đề nghị các nhà khoa học và các đại biểu tập trung thảo luận vào những vấn đề: Phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; Các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và các hình thức tương đồng khác; Chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; Bảo vệ và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại.

Hơn 70 báo cáo khoa học, tham luận trình bày tại Hội thảo đều khẳng định ở Việt Nam tín ngưỡng thờ Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh) có cội nguồn trong tâm thức của người Việt về thế giới tâm linh; thể hiện ý thức nhân sinh, cội nguồn dân tộc; đồng thời hướng tới lòng từ bi, bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện.

Tín ngưỡng thờ Mẫu còn là sự tích hợp nhiều hình thức văn hóa dân gian đặc sắc, tiêu biểu là Nghi lễ chầu văn – một hình thức sân khấu tâm linh huyền ảo, mang đầy tính thiêng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần đề cao giá trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội.

Trong khuôn khổ Hội thảo các đại biểu còn đi tham quan Phủ Vân Cát, Nguyệt Du Cung và tìm hiểu diện xướng Chầu văn ở Phủ Tiên Hương thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (Nam Định) và đều có chung nhận xét: Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được phát triển mạnh mẽ trong xã hội đương đại; xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tin, ảnh: ĐẶNG NGỌC OANH

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/28454102-ho%CC%A3i-tha%CC%89o-quo%CC%81c-te%CC%81-ve%CC%80-thu%CC%A3c-ha%CC%80nh-ti%CC%81n-nguo%CC%83ng-tho%CC%80-ma%CC%83u-trong-xa%CC%83-ho%CC%A3i-duong-da%CC%A3i.html

TRẦN DUY HƯNG : Cần có sự đồng thuận trong quản lý, thực hành tín ngưỡng

Thứ Ba, 05/01/2016 20:46:00 GMT+7

Đó là nhìn nhận của GS.TS Nguyễn Chí Bền (Viện Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam) tại cuộc họp báo nhân Hội thảo quốc tế “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) tại Nam Định », do Bộ VH-TT-DL, UBND tỉnh Nam Định phối hợp tổ chức vào ngày mai, 6/1.

Nhập đồng.

Tại Cuộc họp báo, PGS.TS Từ Thị Loan, Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, cho biết trong một ngày, các nhà khoa học trong và ngoài nước sẽ tập trung thảo luận 4 chủ đề, gồm: Một số vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ mẫu và các hình thức tương đồng khác; những vấn đề về chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; cuối cùng là chủ đề bảo vệ, phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại…

Đại diện các đơn vị tổ chức cũng cho biết, một trong những mục đích của Hội thảo là nhằm giới thiệu, tuyên truyền quảng bá, giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị của tín ngưỡng thờ mẫu, phục vụ việc đề nghị UNESCO sớm công nhận tín ngưỡng này của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Từ thực tế bất cập, lộn xộn trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Quần thể di tích Phủ Dầy (Vụ Bản-Nam Định)-một trong những địa chỉ tín ngưỡng thờ Mẫu lớn ở miền Bắc-lâu nay, nhất là sự lúng túng của chính quyền trong việc tìm ra một mô hình quản lý phù hợp; xung đột kéo dài giữa cộng đồng thực hành tín ngưỡng và chính quyền địa phương; giữa những người cùng thực hành tín ngưỡng chưa được giải quyết, PV Đại Đoàn Kết đặt câu hỏi Hội thảo có tập trung thảo luận, phân tích, đề xuất giải pháp cho vấn đề này không?

Trả lời câu hỏi này, GS.TS Nguyễn Chí Bền nhìn nhận: Tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm trong các thành tố của văn hóa dân gian.

Trong bối cảnh xã hội đầy biến động hiện nay, vấn đề nhìn nhận, xem xét, tiếp cận tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu như thế nào cần được đặt ra.

Ông Nguyễn Chí Bền cũng thừa nhận những thực tế, tồn tại PV phản ánh và cho rằng đây không chỉ là câu chuyện của riêng ở Phủ Dầy mà là câu chuyện chung ở nhiều địa chỉ tín ngưỡng tâm linh khác.

Tuy nhiên, về những mâu thuẫn, xung đột này, ông Nguyễn Chí Bền cho rằng, nên nhìn nhận đây là điều bình thường.

Bởi thực tế cuộc sống luôn phát sinh những mâu thuẫn, xung đột, tìm được tiếng nói đồng thuận là việc không đơn giản, việc quản lý, thực hành tín ngưỡng cũng không là ngoại lệ.

Theo ông Nguyễn Chí Bền, đời sống tín ngưỡng có 3 nhân tố tham gia ở các góc độ khác nhau, gồm: Cộng đồng thực hành tín ngưỡng; nhà quản lý và các nhà nghiên cứu.

“Thông thường các nhà nghiên cứu thì cứ nghiên cứu, đánh giá còn nhà quản lý tiếp nhận đến đâu lại là câu chuyện khác. Và từ nhà quản lý đến cộng đồng lại là một câu chuyện khác nữa”, ông dẫn giải.

Trên thực tế, không phải lúc nào giữa 3 nhân tố này cũng có sự đồng thuận mà thường có những vướng mắc, xung đột.

Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Bền cho rằng đã đến lúc cần phải sớm tìm được tiếng nói đồng thuận giữa cộng đồng thực hành tín ngưỡng và chính quyền; giữa những người thực hành tín ngưỡng.

Bởi nếu không đồng thuận, kéo dài mâu thuẫn, xung đột thì khó có thể giải quyết được vấn đề gì, nhất là trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng.

Một góc Phủ Tiên Hương trong quần thể di tích Phủ Dầy.

Liên quan đến việc này, PGS.TS Từ Thị Loan nhìn nhận ở nước ta pháp luật, chính sách về tôn giáo đã khá đầy đủ và sẽ còn được bổ sung. Tuy nhiên, pháp luật, chính sách về tín ngưỡng-lĩnh vực được cho là nhạy cảm-thì chưa được như vậy.

“Hiện nay, giải quyết thế nào về mối quan hệ giữa cộng đồng và các cơ quan quản lý là một vấn đề cần đặt ra. Đây cũng là một trong những nội dung được hội thảo đề cập, thảo luận, tập trung trong chủ đề “Những vấn đề về chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng”.

Tại buổi họp báo, vấn đề quản lý việc thực hành tín ngưỡng được báo giới đặc biệt quan tâm, nêu nhiều thực tế tồn tại của công tác này ngay tại địa phương.

Tuy nhiên, có mặt, đồng chủ trì cuộc họp báo nhưng ông Khúc Mạnh Kiên-Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đã từ chối trả lời, giải đáp vấn đề này, với lý do: “Chúng tôi chỉ tập trung cho công tác tổ chức và các vấn đề liên quan đến hội thảo”.

Liên quan đến việc chuẩn bị hồ sơ cũng như khả năng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt có được UNSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại hay không? Với tư cách là Trưởng ban xây dựng hồ sơ, GS.TS Nguyễn Chí Bền cho biết: hồ sơ đã được Việt Nam đệ trình UNSCO từ tháng 3/2014. Tuy nhiên, do Việt Nam không nằm trong danh mục các quốc gia được ưu tiên nên việc xem xét sẽ phải lùi tới tháng 11/2016. Tuy nhiên, GS.TS Nguyễn Chí Bền tự tin nhìn nhận: Với những giá trị nội tại và với những gì hồ sơ đã chuẩn bị, đối chiếu với các tiêu chí của UNESCO thì tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt hoàn toàn có thể đáp ứng được và xứng đáng được vinh danh.

Theo ông Nguyễn Chí Bền, thời điểm này cần phải tập trung tuyên truyền, quảng bá để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị của tín ngưỡng này.

“Hát văn được rất nhiều người Việt mê. Nhiều ca khúc được sáng tác dựa trên âm hưởng của hát văn, rất hay. Nhưng mà cái hay này mới chỉ được người Việt mình biết đến còn người nước ngoài, cộng đồng quốc tế thì chưa hiểu hết. Chính vì vậy việc đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá rất quan trọng, cần thiết”, ông nhìn nhận.

“Nếu được UNESCO công nhận, tôn vinh thì sẽ có một Chương trình hành động quốc gia để bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu”, ông thông tin thêm.

Một số hình ảnh tại Quần thể di tích Phủ Dầy (Nam Định):

Trần Duy Hưng

http://m.daidoanket.vn/van-hoa-the-thao/can-co-su-dong-thuan-trong-quan-ly-thuc-hanh-tin-nguong/82777

ập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

Lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia  Vừa qua, tại Thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam (Hội Di sản văn hóa Việt Nam), Chi hội Folklore châu Á phối hợp với Sở VH, TT và DL tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và châu Á – Bản sắc và giá trị”. GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Folklore châu Á nêu rõ, hội thảo là sự kiện quan trọng nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 750 năm Thiên Trường – Nam Định, nhằm tôn vinh giá trị của Đạo Mẫu, lên đồng và chầu văn – di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Việt Nam và thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc lập hồ sơ trình UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời là cơ sở khoa học để tăng cường quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá quần thể kiến trúc Phủ Dầy cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu, bảo tồn nghi lễ chầu văn và hát chầu văn của người Việt ở Nam Định.

Cơ sở khoa học để Bộ VH, TT và DL đồng ý để tỉnh ta đại diện cho các địa phương trong cả nước lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trước hết, căn cứ vào lịch sử của tín ngưỡng Tứ phủ, thì hát văn là thể loại hình thành sớm hơn so với các thể loại dân ca khác; đồng thời Nam Định là vùng quê giàu truyền thống văn hiến, là cái nôi của nghệ thuật chầu văn. Xuất phát từ hình thức diễn xướng dân gian trong các lễ hội, nghệ thuật chầu văn ra đời gắn liền với nghi thức tụng ca công đức của Thánh Mẫu (Liễu Hạnh) và Đức Thánh Cha (Trần Hưng Đạo). Không gian của nghệ thuật chầu văn cổ truyền là ở các đền, phủ, miếu, thường có kết hợp với hầu bóng. Người xưa quan niệm, đó là phương thức hữu hiệu để mọi người có thể giao tiếp với Mẫu, với các chư vị linh thần nhằm bày tỏ lòng biết ơn và hướng thiện; đặc biệt, các Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Địa, Mẫu Nhạc, Mẫu Thoải) là biểu tượng của tín ngưỡng dân gian trong tâm thức cộng đồng dân tộc.

Hầu đồng tại Đền Mẫu Phủ Dầy.

Hầu đồng tại Đền Mẫu Phủ Dầy.

Qua kiểm kê của ngành VH, TT và DL, toàn tỉnh hiện có 287 di tích gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, thờ Đức Thánh Trần liên quan đến “Nghi lễ chầu văn”. Trong đó, quần thể di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái (Vụ Bản) vừa là trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh đồng thời cũng là nơi thường xuyên diễn ra hoạt động nghi lễ chầu văn. Tại huyện Ý Yên có 26 di tích liên quan đến Thánh Mẫu, nhưng tập trung nhiều nhất ở xã Yên Đồng như: Phủ Nấp, phủ Đồi, chùa Đồi, Từ đường họ Phạm… Đối với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần thì trung tâm của tín ngưỡng tập trung ở Thành phố Nam Định (đền Cố Trạch nằm trong cụm di tích Đền Trần, tại phường Lộc Vượng) và huyện Mỹ Lộc (đền Bảo Lộc, tại thôn Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc). Trong không gian di tích, nhân dân thường phối thờ theo kiểu “Tiền Phật, hậu Thánh”, có ban thờ Đức Thánh Trần và Tam tòa Thánh Mẫu. Về hình thức nghệ thuật, nét độc đáo của nghệ thuật chầu văn Nam Định là rất đa dạng hình thức biểu hiện như: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu đồng và hát thi. Hát thờ: thường được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh (ngày thánh đản sinh, ngày thánh hóa…) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng (còn gọi là hát văn công đồng). Ngoài ra, tại một số di tích từ đường dòng họ có hát thờ để ca ngợi công đức tổ tiên… Hát cửa đền thường diễn ra tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Hát hầu được sử dụng trong nghi lễ chầu văn hầu bóng theo tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ. Trong các hình thức trên thì hát hầu đồng là phổ biến nhất của nghệ thuật chầu văn Nam Định, bởi gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Các bài văn tùy thuộc vào từng giá hầu mà có nội dung phù hợp. Bài văn thường sử dụng thể thơ lục bát, song thất lục bát, hay biến thể 4-7 hoặc 5-8… Trong nghệ thuật chầu văn Nam Định, có hệ thống làn điệu phong phú, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm như: bỉ, miễu, phú bình, phú chênh, phú nói, phú rầu, đưa thơ, vãn, dọc, cờn, hãm và dồn. Xen kẽ những đoạn hát là nhạc, gọi là lưu không. Các điệu chầu văn như hát cờn, hát phú, hát dọc, hát xá…, mỗi điệu đòi hỏi một kỹ thuật riêng, trong đó hát phú là khó nhất, vừa lấy hơi sâu vừa phải giữ hơi dài, hát liên tục, nối nhanh các điệu với nhau để tránh rời rạc và phải kết hợp trống, phách, nhị.

Trong quá trình hình thành, phát triển, chầu văn được bổ sung, giao thoa các làn điệu của các thể loại âm nhạc truyền thống khác như hát chèo, ca trù, hát xẩm. Hiện tại ở tỉnh ta có 470 người trực tiếp tham gia thực hành “Nghi lễ chầu văn”, trong đó, hầu đồng là 246 người, chiếm 52,34%; hát văn (cung văn) là 245 người, chiếm 52,12%; sử dụng nhạc cụ là 162 người chiếm 34,46%. Đối với các cung văn phải có giọng hát trong trẻo, truyền cảm, trữ tình, mềm mại phù hợp với tính cách nữ tính của người Mẹ – Thánh Mẫu trong hệ thống thần điện Tứ phủ. Người cung văn khi hát lời cổ phải thể hiện được nội tâm, tính cách của các vị Thánh. Theo số liệu điều tra khảo sát, trong tổng số người hát văn (cung văn) của tỉnh, có trên 240 người hát được các bài văn cổ, tiêu biểu như cung văn: Đào Thị Phòng, 70 tuổi, Hoàng Thị Lương 84 tuổi ở huyện Ý Yên; cung văn Bùi Văn Đông ở huyện Xuân Trường… Đó là những cung văn giàu kinh nghiệm vừa hát vừa phối hợp sử dụng các nhạc cụ như: đánh đàn, gõ phách, trống.

Từ trong các đền, phủ, với vai trò là một phương tiện nghệ thuật phục vụ tín ngưỡng tâm linh, nghệ thuật chầu văn đã “chuyển mình” vào sân khấu, có sức sống lan tỏa trong đời sống, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân. Các bài hát văn được soạn lời mới có nội dung ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, cổ vũ khối đoàn kết toàn dân chung sức, đồng lòng đứng lên đánh giặc, chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Về cơ bản, các bài hát văn có chất liệu và giai điệu âm nhạc vui tươi, trong sáng, được chắt lọc từ nghệ thuật chầu văn cổ truyền mang hơi thở và nhịp sống đương đại. Năm 1962, tại hội diễn ca múa nhạc dân tộc khu vực phía Bắc, tiết mục “Nam Định quê tôi” do Đoàn văn công Nam Định biểu diễn đã tạo nên sức sống mới của nghệ thuật hát văn. Từ đó các tiết mục hát văn do diễn viên độc tấu, song tấu, tam ca, tốp ca, tốp múa xuất hiện ngày càng nhiều trên sân khấu, được công chúng đón nhận, trở thành phương tiện nghệ thuật phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Qua giọng hát của NSƯT Kim Liên, Thế Tuyền, Kim Ngân, nghệ thuật chầu văn và các tiết mục hát văn Nam Định ngày càng có sức lan tỏa như các tiết mục: “Gái đảm Nam Hà”, “Mùa sen dâng Bác”, “Trẩy hội quê hương”, “Hoa dũng sỹ”, “Mừng Việt Nam đại thắng”. Các đơn vị nghệ thuật của tỉnh và các tổ, đội văn nghệ quần chúng trên địa bàn toàn tỉnh tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, dàn dựng nhiều tiết mục hát văn và nghệ thuật chầu văn qua các giá đồng, tham dự các hội diễn, liên hoan khu vực và toàn quốc đoạt nhiều giải thưởng cao. Hiện nay, toàn tỉnh có 6 CLB Chầu văn hoạt động có hiệu quả như: CLB Hát văn Hành Thiện (Xuân Trường), Đoàn nghệ thuật dân ca Hương Quê Thị trấn Mỹ Lộc, CLB Thơ ca Mỹ Trung (Mỹ Lộc), CLB Chầu văn huyện Ý Yên, CLB Thơ ca – nghệ thuật truyền thống huyện Hải Hậu… Bên cạnh đó, ở huyện Vụ Bản, đã ra mắt CLB Bảo tồn nghệ thuật chầu văn Việt Nam chi hội tỉnh Nam Định, gồm 120 hội viên, là nghệ nhân, các nghệ sỹ hát văn, chơi đàn chuyên nghiệp; các nhà nghiên cứu; các nhà quản lý văn hoá; những người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và những người yêu thích nghệ thuật chầu văn. Việc ra đời của CLB Bảo tồn nghệ thuật chầu văn Việt Nam tại Nam Định được coi là một trong những « bước đệm” thúc đẩy công tác lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. CLB có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa nhằm tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện về nghệ thuật chầu văn; đào tạo và truyền dạy các bản văn cổ; quảng bá và giới thiệu nghệ thuật chầu văn tới công chúng trong và ngoài nước; xây dựng đạo đức nghề nghiệp; tìm kiếm tài trợ cho nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, học tập hát văn; tổ chức thực hành nghề và nâng cao năng lực cho hội viên.

Như vậy, việc nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị Nhà nước đưa “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là định hướng đúng đắn nhằm bảo tồn, phát huy một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc, góp phần gìn giữ tinh hoa truyền thống, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

http://mantico.hatvan.vn/fdgfdgfd/lap-ho-so-khoa-hoc-nghi-le-chau-van-cua-nguoi-viet-o-nam-dinh-dua-vao-danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia.html

KIM DUNG : NGHI LỄ CHẦU VĂN CỦA NGƯỜI VIỆT

Nghi lễ Chầu văn của người Việt

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực Tập quán xã hội và tín ngưỡng, ra đời và phát triển trước hết gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ, được thực hành ở nhiều vùng, miền của đất nước, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ.

 

Nam Định là một trong những trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ và thờ Đức Thánh Trần, là nơi Nghi lễ Chầu văn còn được bảo lưu và tiếp tục trình diễn khá phổ biến, với chủ thể là những cung văn, thanh đồng, thủ nhang (người trông coi di tích), người hầu dâng, con nhang, đệ tử…hiện phân bố trên khắp 10 huyện và thành phố thuộc tỉnh Nam Định.

Nghi lễ Chầu văn còn được gọi là Hát văn – hầu đồng, Hát văn – hầu Thánh, Bắc ghế hầu đồng, Ngự đồng, Loan giá ngự đồng…, là một nghi lễ quan trọng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Đức Thánh Trần.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt phát triển mạnh ở Nam Định từ thế kỷ  XVII cùng với quá trình hình thành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản), phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc), đền Cố Trạch (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định)…, sau đó phát triển ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày càng lan tỏa ra nhiều vùng trên cả nước.

Giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) là thời kỳ thịnh vượng nhất của Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng, có sự tham gia của các quan lại địa phương và triều đình. Từ năm 1954 – 1990, vì nhiều lý do, Nghi lễ này không được công khai thực hành và bị mai một nhiều. Từ năm 2000 đến nay, cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, với các chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, Nghi lễ này được khôi phục, phát triển trở lại và nay còn được sân khấu hoá, trình diễn để phục vụ đời sống đương đại.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là một hình thức biểu đạt văn hóa, tín ngưỡng phức hợp gồm nghi lễ hầu đồng gắn với hát văn hay hát chầu văn, do thủ nhang, thanh đồng (ông/bà đồng), cung văn và một số người hầu dâng (người giúp việc thanh đồng) tiến hành trước các ban thờ ở các đền, điện, phủ, miếu, … gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ.

Trong nghi lễ hầu đồng, trước mỗi vấn hầu, những người tham gia phải chuẩn bị lễ vật, trang phục, đạo cụ trong múa hầu đồng phù hợp với từng giá hầu, phản ánh tính cách của từng vị thánh được hầu.

Lễ vật trong mỗi vấn hầu trước kia thường đơn giản. Vật phẩm cơ bản gồm xôi, thịt, hoa quả, trầu, cau, rượu, thuốc, vàng mã,… Ngày nay, lễ vật ngày càng phong phú, gồm cả những sản phẩm hàng hóa công nghiệp, thực phẩm đương thời, đắt tiền, dùng trong cả lễ mặn và lễ chay.

Trang phục của người trình diễn trong nghi lễ hầu đồng rất phong phú, đa

dạng, thể hiện tính cách và thị hiếu thẩm mỹ của từng cá nhân thực hành cũng như của tộc người và vùng miền mà các vị thánh đại diện, cai quản.

Mỗi vấn hầu được thực hành qua 4 bước: Mời thánh nhập hay Thánh giáng (ca ngợi công đức), phán truyền, ban lộc và đưa tiễn (Thánh thăng, cung văn hát điệu xa giá hồi cung, âm nhạc sôi động, náo nhiệt). Cũng có khi một vấn hầu chỉ gồm 3 bước: Phụ đồng (còn gọi là kiều bóng), bắt đầu hát câu vỉa ở thể lục bát, sau miêu tả diện mạo ông hoàng, bà chúa; bước 2 là Thánh nhập (hay dùng trà, thuốc, rượu) và bước cuối là Đồng thăng.

Mở đầu mỗi vấn hầu, thủ nhang/pháp sư thường đăng đàn cúng Phật, Thánh, sau đó người hầu đồng vào xin phép loan giá ngự đồng. Ông/bà đồng ngồi vào giữa bốn người hầu dâng và được người hầu dâng trùm lên đầu một vấn khăn màu đỏ, gọi là khăn phủ diện, và bắt đầu vấn hầu. Thường là mở đầu bằng giá Tam tòa thánh Mẫu. Tiếp theo đó, người có căn Đức Thánh Trần thì hầu giá Đức Thánh Trần. Trong nghi lễ hầu đồng, có tất cả 36 giá đồng, mỗi giá thờ một vị Thánh, nhưng một buổi hầu không phải bao giờ cũng hầu đủ 36 giá, mà thường là từ 8 đến 15 giá, tùy thuộc vào tâm nguyện của ông/bà đồng.

Tuỳ theo sự tích, công trạng, tính cách của từng vị thánh, thần mà ông/bà đồng thực hiện các điệu múa khác nhau, người ta gọi đó là múa đồng (múa thiêng) như: múa tay không, gồm: múa bắt quyết, múa ra ấn, múa tung nước thánh, múa ban lộc; múa có đạo cụ, gồm: múa mở hay khai quang (dâng nhang, dâng đèn), múa quạt, múa kiếm, múa long đao, múa kích, múa cung, múa hèo, múa lân…

Cung văn phục vụ trong mỗi cuộc hầu đồng thường gồm từ 03 đến 05 nhạc công, sử dụng đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la, đồng thời là những người biết hát văn. Cung văn phải luôn nhạy bén, ứng tác kịp thời và phù hợp với các hành động của ông/bà đồng, góp phần tạo điều kiện cho sự thăng hoa của người hầu đồng. Hiện nay còn có nhiều nhạc cụ mới (nhị, kèn, sáo, đàn thập lục, trống cơm…) tham gia cung văn. Các nghệ nhân cao tuổi có kỹ năng hát và kỹ thuật vê đàn, rung trống, gõ thanh la điêu luyện, tạo âm thanh hòa quyện, rung động lòng người.

Hát chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả… và âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà,… cũng thể hiện rất rõ nét trong kết cấu giai điệu của âm nhạc trong hát chầu văn. Trên thực tế, hát văn hay hát chầu văn còn có thể tồn tại riêng biệt. Ở Nam Định, hát văn biểu hiện chủ yếu dưới hình thức hát hầu trong các giá đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu và hát cửa đền ở các di tích thờ Đức Thánh Trần, diễn ra trong cả năm, nhưng tập trung nhất vào tháng Ba và tháng Tám Âm lịch. Những năm gần đây, còn có hát thi trong lễ hội Phủ Dầy. Một số làn điệu cơ bản của hát văn gồm: Vỉa (thường ở giai đoạn bắt đầu, lời văn thể lục bát), Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Kiều dương, Dọc, Cờn, Xá, Hãm, hay các điệu Lưu thuỷ, Dồn, Bỏ bộ…, với lời văn thường ở thể thơ lục bát và song thất lục bát.

Trong Nghi lễ Chầu văn của người Việt, các hình thức biểu đạt, động tác múa, âm nhạc và lời hát văn đều mang dấu ấn lịch sử, ghi lại sự tích và ca ngợi công đức của những nhân vật lịch sử có công với dân, với nước. Về giá trị văn hóa, Nghi lễ Chầu văn của người Việt là tín ngưỡng bản địa, tích hợp các hình thức văn hoá dân gian khác nhau như: âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức dân gian, ca hát, nhảy múa, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, ẩm thực… trong một thể thống nhất hữu cơ hoàn chỉnh, trong đó yếu tố “sân khấu” kết hợp chặt chẽ với yếu tố tâm linh, phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên, xã hội của cộng đồng. Tín ngưỡng này vừa bảo tồn các giá trị truyền thống như « uống nước nhớ nguồn », vừa được cộng đồng tái tạo, tích hợp các giá trị văn hoá mới, để thích ứng với điều kiện cuộc sống hiện đại, vì vậy nó có sức hấp dẫn cao đối với mọi người, nhất là những người theo tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và đang phục hồi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ vẫn đang truyền dạy, chỉ bảo tại chỗ theo phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác. Theo kết quả kiểm kê bước đầu (năm 2012), riêng tỉnh Nam Định có 12 hội, bản hội, 06 câu lạc bộ, trong đó có 245 cung văn, 246 ông/bà đồng, 162 nhạc công, 16 người hầu dâng thường xuyên thực hành, gìn giữ di sản này tại 287 di tích trên toàn tỉnh. Tuy vậy, những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ… phần lớn đã tuổi cao, sức yếu nhưng kinh nghiệm, vốn kiến thức của họ chưa được khai thác kịp thời, tình trạng thương mại hoá, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh”, hiện tượng « đồng đua », mua sắm nhiều lễ vật đắt tiền, đốt vàng mã nhiều gây tốn kém và ô nhiễm môi trường còn tồn tại khiến nghi lễ này có nguy cơ bị biến dạng…

Nghi lễ Chầu văn của người Việt được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho lập hồ sơ trình UNESCO đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong giai đoạn tới và đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1), loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng, tháng 12 năm 2012.

Kim Dung (Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Sự kiện qua ảnh

59

Tìm kiếm

Liên kết website

NGUYỄN HỮU TOÀN : Từ suy nghĩ về việc bảo vệ và phát huy giá trị Chầu văn

Từ suy nghĩ về việc bảo vệ và phát huy giá trị Chầu văn

Chầu văn, còn gọi là Hát văn, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của người Việt, có xuất xứ ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức Hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Trần Hưng Đạo).

Hầu đồng là nghi lễ chính của thờ Mẫu Tứ Phủ cũng như một số dạng thờ Mẫu khác. Đó là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác các ông Đồng, bà Đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh các vị Thánh, nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho các tín đồ đạo Mẫu.

Như thế, Chầu văn là một hình thức trình diễn dân gian gắn với nghi thức Hầu đồng và là một thành tố không thể thiếu trong nghi lễ Hầu đồng. Liên quan đến việc ứng xử với Chầu văn, Hầu đồng lâu nay còn nhiều vấn đề khá phức tạp. Trong phạm vi một bài viết nhỏ, chúng tôi không chủ trương tập trung vào việc giới thiệu nội dung, giá trị của Chầu văn, Hầu đồng mà chỉ muốn gợi ra mấy vấn đề để cùng nhau chia sẻ, hy vọng qua đó sẽ góp phần vạch tìm hướng đi cho hoạt động bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa này trong thời gian tới.

Chầu văn là hát chầu, trong đó phần “hát” bao gồm cả việc có nhạc đệm, có cả múa; “chầu” là “hầu”, là mục đích của việc trình diễn – dâng lên Mẫu, Thánh (“Chầu” có nhiều nghĩa, nhưng ở đây “Chầu” hẳn được dùng với nghĩa đó là hát/trình diễn để chầu/hầu Mẫu/Thánh, tương tự như “hầu/chầu vua”, “áo hầu/chầu”…). Và, dù với nghĩa nào, thì Chầu văn cũng chỉ là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, không phải là một nghi lễ.

Hầu đồng/Hầu bóng/Lên đồng, như trên đã đề cập, là nghi lễ chính của thờ Mẫu Tứ phủ, thờ Đức Thánh Trần.

Thực tế quá trình ra đời, phát triển trong quá khứ và hiện tại, Chầu văn có thể tồn tại/trình diễn riêng biệt. Mấy chục năm qua, hát văn vẫn còn được xem là một trong những loại dân ca và thường xuyên được giới thiệu trên đài phát thanh, đài truyền hình, hoặc trên sân khấu của các cuộc thi/liên hoan nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Tuy vậy, về ngọn nguồn và bản chất, Chầu văn luôn gắn với nghi lễ Hầu đồng, là một thành tố không thể thiếu trong nghi lễ Hầu đồng. Chẳng hạn, qua khảo sát, nghiên cứu Chầu văn ở Nam Định, người ta nhận thấy: “Trên thực tế, hát văn hay hát chầu văn còn có thể tồn tại riêng biệt. Ở Nam Định, hát văn biểu hiện chủ yếu dưới hình thức hát hầu trong các giá đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu và hát cửa đền ở các di tích thờ Đức Thánh Trần, diễn ra trong cả năm, nhưng tập trung nhất vào tháng Ba và tháng Tám âm lịch. Những năm gần đây, còn có hát thi trong lễ hội Phủ Dầy” (Nguyễn Kim Dung, Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định, Website Cục Di sản văn hóa). Nói cách khác, có thể “có” Chầu văn mà không có Hầu đồng, nhưng không thể có Hầu đồng mà không có Chầu văn.

Điều dễ nhận thấy là, trong thời gian qua và cho đến hôm nay, cả nhận thức và ứng xử của chúng ta đối với di sản văn hóa phi vật thể nghi lễ Hầu đồng còn chưa thống nhất.

Một mặt, nghi lễ Hầu đồng ngày càng nhận được sự quan tâm của nhà nước và cộng đồng, với một số biểu hiện:

– Nghi lễ Hầu đồng chính thức được nhà nước vinh danh (đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; triển khai lập hồ sơ trình UNESCO xem xét đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại…).

– Được “công khai” tổ chức ở nhiều di tích lịch sử – văn hóa, cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, thu hút đông đảo công chúng tham dự (hơn 20 năm trước, đây là việc “không thể”); một số cơ quan quản lý và nghiên cứu văn hóa đã trực tiếp tổ chức nghi lễ Hầu đồng, tổ chức hội thảo khoa học và giao lưu quốc tế về nghi lễ này…

– Nghi lễ Hầu đồng ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học vốn có của di sản.

Mặt khác, nghi lễ Hầu đồng vẫn còn bị nhìn nhận như một tệ nạn xã hội đi liền với những mê tín dị đoan, lừa đảo, trục lợi, với một số biểu hiện:

– Nhà nước vẫn coi việc tổ chức lên đồng/hầu đồng là một hoạt động “vi phạm hành chính”, tức là “hành vi cố ý hoặc vô ý của tổ chức, cá nhân vi phạm quy tắc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực văn hóa – thông tin mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, nên nếu vi phạm, sẽ “bị xử phạt hành chính”.

Trong thực tiễn đời sống, không ít người vẫn bày tỏ thái độ phê phán, xem thường những người tổ chức, thực hành và tham dự nghi lễ Hầu đồng. Những người này thường gọi các ông/bà đồng, các cung văn (những người thực hành Chầu văn), những con nhang, đệ tử theo hầu,… là “bọn đồng cốt” với ý miệt thị.

Tình trạng chưa thống nhất trong việc đánh giá giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và vai trò của nghi lễ Hầu đồng trong đời sống văn hóa, tinh thần, tâm linh của người Việt, nhất là trong việc ứng xử với nghi lễ Hầu đồng, xuất phát từ những lý do như:

– Bản thân chính sách và ứng xử thực tiễn, từ phía nhà nước, với nghi lễ Hầu đồng cũng chưa thống nhất (vừa coi đó là hành vi vi phạm hành chính, vừa có những hình thức tôn vinh di sản văn hóa này).

– Trong thực tiễn đời sống, nếu “tính từ bàn thờ trở ra”, việc tổ chức nghi lễ Hầu đồng đã và đang có quá nhiều biến tướng theo hướng tiêu cực, làm mất đi bản chất/giá trị tốt đẹp vốn có của di sản văn hóa này. Thực trạng đó đã đến mức báo động, khiến GS. Ngô Đức Thịnh, một nhà nghiên cứu khả kính, có nhiều đóng góp trong việc làm sáng tỏ giá trị của di sản và hành động thực tiễn nhằm phục hồi di sản, đã phải bộc bạch: “Tôi rất buồn phải nói rằng, 80% nghi lễ này hiện nay là biến tướng. Biến tướng nghiêm trọng. Hoàn toàn “vật chất hóa” từ đầu đến cuối. Cách đây khoảng hơn chục năm, khi nghi lễ này vẫn còn “sạch”, hầu đồng chỉ diễn ra đúng là “tùy tâm biện lễ”, không hoành tráng, đồ sộ từ lễ vật, vàng mã đến tiền phát lộc (vì trong nghi lễ hầu đồng có phần phát lộc)… Quần áo để hầu cũng đơn giản, không cầu kỳ, đắt tiền như hiện nay, cốt sao đủ một bộ khăn, áo, mũ… đúng màu sắc cho mỗi giá hầu… Nhưng hiện nay thì cái gì cũng phải to, phải lớn, ngay như ngựa, voi làm bằng mã cũng phải đúng kích cỡ như thật, tiền phát lộc không còn là “bạc lẻ” gọi là tượng trưng mà mệnh giá tiền phải lớn. Lễ vật phải nhiều… Tất cả chỉ vì họ nghĩ rằng “tốt lễ dễ kêu”. Đặc biệt là tầng lớp thương mại, còn làm biến tướng nghi lễ này khi không quan tâm tới Mẫu Địa mà chỉ quan tâm tới Mẫu Thượng ngàn và Mẫu Thoải vì quan niệm đây là những vị thần tài mang đến “tiền rừng bạc bể”. Quan niệm về hầu đồng còn bị họ biến tướng đến mức: “Thứ nhất ngồi đồng, thứ nhì lấy chồng quan”… (GS. Ngô Đức Thịnh, Sự biến tướng trong “Ngôi nhà Mẫu”, Báo Năng lượng mới, số 205, ngày 19-3-2013).

Vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị Chầu văn, bước đầu chúng tôi chỉ có thể tạm đưa ra mấy đề xuất sau đây với các cấp quản lý, các nhà khoa học, các cộng đồng là chủ thể di sản văn hóa này:

Một là, cần thống nhất nhận thức rằng, về bản chất, Chầu văn là một thành tố của nghi lễ Hầu đồng; tuy có thể tồn tại độc lập, nhưng để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa này một cách bền vững, Chầu văn luôn cần được gắn kết với nghi lễ Hầu đồng và cần được thực thi việc bảo vệ và phát huy giá trị trong tổng thể việc bảo vệ và phát huy giá trị nghi lễ Hầu đồng. Liên quan đến vấn đề này, trước hết cần gọi đúng tên của sự vật, hiện tượng: Nghi lễ Hầu đồng; cũng có thể gọi theo truyền thống, là Hầu đồng; nhưng không là nghi lễ Chầu văn.

Hai là, cần kịp thời tham mưu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung phần nội dung của các Nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa có liên quan đến Lên đồng (Hầu đồng) theo hướng: chỉ xử lý những hành vi “lợi dụng việc tổ chức lên đồng để trục lợi” (và làm hại người khác, gây mất an ninh, trật tự xã hội).

Ba là, cần tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời ngăn chặn và xử lý những tổ chức, cá nhân thực hành biến tướng nghi lễ Hầu đồng, làm sai lệch giá trị của di sản văn hóa này.

Bốn là, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và truyền thông để công chúng hiểu đúng chân giá trị của di sản văn hóa nghi lễ Hầu đồng, từ đó chung sức và đóng góp thực sự hiệu quả vào hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đặc biệt này.

Cuối cùng, vì nhận thức và ứng xử với nghi lễ Hầu đồng đã và đang là câu chuyện phức tạp, còn nhiều “nhạy cảm”, nên hành trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nghi lễ Hầu đồng cần phải được thực sự bắt đầu từ chính mỗi người trong chúng ta, trước hết là những cán bộ quản lý văn hóa, nhà khoa học, đặc biệt là việc “làm gương” của các cán bộ, công chức, cùng nhận thức và thực hành nghiêm túc, đúng đắn của những ông/bà đồng, con nhang, đệ tử của nghi lễ/tín ngưỡng này./.

NGUYỄN HỮU TOÀN

(Trích từ tài liệu của Hội thảo khoa học « Bảo tồn và phát huy Di sản văn hoá hát văn tỉnh Bắc Giang »)

http://www.tapchisongthuong.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1855:tu-suy-nghi-ve-viec-bao-ve-va-phat-huy-gia-tri-chau-van&catid=114:nghien-cuu-trao-doi&Itemid=511