Archives pour la catégorie Articles Trần Văn Khê

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

bat quai

Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trên mặt chiếc trống đồng có những hình ảnh mô tả sinh hoạt của người dân sống vào thời kỳ xa xưa ấy, đồng thời có chạm khắc hình các con thú, đặc biệt là hươu và cá. Con hươu tượng trưng cho núi, cá tượng trưng cho nước, vốn là hai yếu tố vô cùng quan trọng đối với người Việt.

tvk am duong 2

Chúng ta vẫn dùng hai chữ giang sơn để chỉ đất nước, điều này cho thấy núi với nước tuy hai mà một. Liên hệ đến lịch sử của dân tộc, chúng ta thấy có huyền thoại con Rồng cháu Tiên, tượng trưng cho hai yếu tố nước và núi. Hoặc truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh đề cập đến việc người xưa bảo vệ đất nước chống thiên tai, trong đó núi và nước giúp chúng ta xác định rõ tư duy và quan niệm sống của dân tộc cho rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau. Lưỡng phân mà lưỡng hợp: đó chính là một trong những tư tưởng triết lý của Việt Nam – như cố giáo sư Trần Quốc Vượng thường nói.

tvk 3tvk 4.jpg

Quan điểm âm dương bàng bạc trong mọi sinh hoạt của đời sống người Việt, từ cách ăn uống hàng ngày cho đến cách chữa bịnh trong y học. Ở đây chỉ xin nêu ra một số nhận xét trong lãnh vực âm nhạc để làm sáng tỏ tư tưởng lưỡng phân, lưỡng hợp đó.

Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhạc khí

tvk 5

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù. Một nhóm Ca trù thường có ba người, người ngồi giữa là đào nương vừa hát vừa nhịp phách. Phách là một thanh tre hay một miếng gỗ được gõ bằng hai cái dùi, một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai, tượng trưng cho dương và âm. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là phách cái và phách con. Quan điểm cái với con cho thấy nữ với nam là hai giới khác nhau mà bổ sung cho nhau. Gõ phách là một nghệ thuật rất cao, âm thanh phát ra một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là tiếng dương và tiếng âm. Trên thế giới, chưa có loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

tvk 6

Phách ca trù – tiếng phách độc nhứt vô nhị trên thế giới

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là trống đực và trống cái tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm.

tvk 7.jpg

Dàn nhạc lễ Gò Vấp

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như tang, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tong, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng và tiếng trống đó gọi là tiếng dương.

tvk 8

Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Đây là cách đánh tối và tiếng trống này là tiếng âm. Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi.

Bài bản

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.
Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương, thông thường luôn có một vế trống và một vế mái, có khi gọi là câu xô và câu kể. (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò mái hai, mái ba, có nghĩa là một câu có một câu trống và hai hoặc ba câu mái – hoặc hai hay ba đoạn kể – chứ chữ mái ở đây không có nghĩa là mái chèo). Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

Nhớ nàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông

Hình dáng của bút và nghiên ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như thuyền là dương mà sông là âm.

Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là lớp trống hay lớp mái cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như lưu thủy trường và lưu thủy đoản, những bản trước và sau mang tên ngũ đối thượng, ngũ đối hạ (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới), hoặc một bản mau, một bản chậm như phú lục và phú lục chậm.

Cách biểu diễn

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là đào nương, ả đào, người đờn phải là nam gọi là kép, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

tvk 9

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải là khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là Lên non hay Lên rừng thì bài hát họa phải là Xuống sông hay Xuống bể và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, liền anh luôn luôn cầm cây dù còn liền chị thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương.

TVK 10

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc – phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

 

Trân-van-Khê : Nghệ Thuật Nấu Bếp và Ăn Uống của Người Việt …

Trân-van-Khê :
 
 Nghệ Thuật Nấu Bếp và Ăn Uống của Người Việt …
images
Cách đây hơn 30 năm, tại Paris, người bạn của tôi mở một hiệu ăn Việt Nam, nhưng có cả bếp Trung Quốc và bếp Việt Nam để phục vụ cho khách “cơm Tàu và cơm ta”. Hôm lễ khai trương, có mời đại diện báo chí, phát thanh, truyền hình Pháp đến dự cuộc họp báo. Có nhiều PV đặt câu hỏi : “Hiệu ăn này có thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Cách nấu ăn và thức ăn có chi khác nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam hay chăng?”. Anh bạn tôi mời hai đầu bếp Trung Quốc và Việt Nam ra hỏi thì hai người đều nói : “Khác lắm chớ! Cứ vào bếp coi chúng tôi nấu thì biết!”. Mà ký giả quá đông, không vào bếp được. Anh bạn tôi nói nhỏ với tôi : “Anh trả lời giùm tôi với mấy ông nhà báo câu hỏi của họ để còn khai tiệc lớn sau tiệc khai vị”.
Tôi họp các PV lại và nói :
“Các bạn muốn biết giữa Trung Quốc và Việt Nam có gì khác nhau trong nghệ thuật nấu ăn. Tôi xin đơn cử ra 3 điểm :
1/ Người Trung Quốc thường dùng bột mỳ
Người Việt Nam thường dùng bột gạo.
http://i2.wp.com/us.123rf.com/400wm/400/400/ifong/ifong1210/ifong121000010/15794755-wheat-ears-triticum-and-rice-plants-oryza-isolated-on-white.jpg
Do đó, khi người Trung Quốc nấu mỳ thì người Việt Nam nấu phở và hủ tíu. Người Trung Quốc ăn bánh bao thì người Việt ăn bánh đùm, bánh xếp, bánh bèo, bánh cuốn. Loại chả giò của người Trung Quốc làm bằng bánh tráng bột mỳ cuốn thịt, giá chiên dòn; chả giò của người Việt cuốn bằng bánh tráng bột gạo.
2/ Nước chấm của người Trung Quốc là nước xì dầu làm bằng đậu nành. Nước chấm của người Việt lànước mắm làm bằng cá.
http://i2.wp.com/www.citypassguide.com/sites/default/files/styles/slideshow/public/gallery-attractions/PT-Attr-FishSauceFactory3.jpg?resize=603%2C332
3/ Khi trộn các gia vị, người Trung Quốc thường ưa trộn “chua – ngọt”, người Việt trộn “mặn – ngọt”.
http://i2.wp.com/www.epicurious.com/images/articlesguides/diningtravel/goingglobal/vietnamese.jpg
Còn nhiều điểm khác nữa, nhưng tôi nghĩ 3 điểm đó tạm đủ để các bạn thấy qua cái khác nhau trong nghệ thuật ẩm thực giữa người Trung Quốc và người Việt”.
Các nhà báo đều thích thú và đăng lên các báo câu trả lời của tôi.
Mấy ngày sau, một PV trở lại hiệu ăn tìm tôi và nói : “Ông Tổng biên tập của tôi bảo tôi tìm ông hỏi thêm vài câu, vì hôm trước, ông có nói còn những điểm khác nhau mà ông mới chỉ đưa ra 3 điểm. Vậy ông có thể cho chúng tôi biết còn điểm nào khác nhau nữa chăng?”.
“Hôm nay, tôi có thể nói thêm về 3 điểm khác. Trong cách nấu ăn thì có 3 món chính, ngoài các thứ gia vị. Đó là thịt, cá và rau.
1/ Thịt thì người Trung Quốc và Việt Nam đều có thịt quay, thịt nướng, thịt kho, thịt hầm, thịt chà bông, thịt dồn lạp xưởng
Nhưng người Việt Nam còn dùng thịt sống, ướp muối, tỏi, thính, gói bằng lá vông để làm nem chua mà người Trung Quốc không có.
2/ Cá thì người Trung Quốc và người Việt Nam đều có các loại : cá chiên, cá hấp, cá kho, cá chưng, cá nấu canh, cá nướng trui, cá phơi khô v.v… nhưng cá làm mắm như người Việt Nam thì người Trung Quốc không có.
http://i2.wp.com/a9.vietbao.vn/images/vi955/2013/1/55518637-1359170715-mam-ca-Chau-Doc.jpg
Mắm là một thức ăn đặc biệt của vùng Đông Nam Á. Người Thái, người Khmer, người Phi Luật Tân đều có mắm. Nhưng mắm làm với đủ loại cá như cá lóc, cá sặc, cá cơm và các loại tép, tôm thì Việt Nam mới có. Các loại mắm : mắm Thái, mắm ruốc, mắm nêm, mắm hếch v.v… Người Việt có thể được coi là có nhiều sáng tạo trong cách chế biến các thứ cá thành mắm. Khi ra nước ngoài cũng có cách chế biến với các loại cá khác. Vợ một người bạn của tôi đã có cách “bỏ mắm” bằng cá mulet bên Pháp, ăn giống như mắm cá lóc Việt Nam.
3/ Rau thì người Trung Quốc và Việt Nam đều ăn rau luộc, rau xào, rau làm dưa. Người Việt thích ăn rau sống.
http://i0.wp.com/files.myopera.com/Anh-Em/albums/522085/rau%20song%201.jpg
Có rất nhiều loại rau sống, rau răm, húng cây, húng lủi, rau dấp cá, tía tô, các loại ngò, hành lá, rau om v.v… Các thứ rau đó cũng là những vị thuốc.
Đó là 3 điểm khác nhau giữa cách dùng thịt, cá, rau để làm bếp giữa người Trung Quốc và người Việt Nam.
Ngoài ra, người Trung Quốc khi nấu dùng lửa lớn, người Việt Nam thường nấu lửa riu riu.
* Người Việt Nam có cách ăn chi đặc biệt không?
Người Việt có 3 cách ăn :
 Ăn toàn diện :Tức là ăn bằng ngũ quan. Trước hết, ăn bằng con mắt : thức ăn được trình bày cho đẹp mắt, có nhiều màu sắc, hình thức hấp dẫn. Rồi đến ăn bằng mũi : có mùi thơm bốc lên từ thức ăn, từ nước chấm là nước mắm, từ những loại rau thơm, rau mùi hoặc nước cà cuống. Sau đó, răng chạm vào thức ăn mềm như bún, dai như thịt luộc, giòn như giá, như sứa, như cải. Có khi nhai những món giòn như đậu phộng, tai nghe tiếng lốc cốc. Không nghe từ bên trong như khi nhai đậu phộng hay bánh phồng tôm, mà còn nghe được âm thanh từ việc bẻ bánh tráng nướng “rôm rốp”. Sau khi thấy, ngửi, nhai, nghe, mới bắt đầu nếm và thưởng thức bằng lưỡi mùi vị của món ăn, như thế là ăn toàn diện.
 Ăn khoa học :Theo sự nghiên cứu của nhiều vị trong Đông y và đặc biệt của các chuyên gia Nhật Bản, có thể nói một cách tổng quát, món ăn mặn thuộc về dương, món ăn ngọt và chua thuộc về âm. Vì vậy, khi pha nước mắm (mặn = dương) thì có giấm (chua = âm) và đường (ngọt = âm). Như vậy là âm – dương cân bằng. Khi kho thịt kho cá có nước mắm, lại có thêm chút đường. Khi ăn món chi ngọt thì pha chút muối (dưa hấu ngọt thì thoa chút muối, xoài tượng chua thì chấm nước mắm v.v… ).
Ngoài âm – dương còn hàn nhiệt. Cá trê, cua đinh hay thịt vịt luộc thuộc về hàn nên ăn với nước chấm có pha gừng (nhiệt). Ăn mà nghĩ đến việc tìm quân bình giữa âm và dương, hàn và nhiệt là ăn khoa học.
 Ăn dân chủ :Các thức ăn dọn cả thảy lên bàn, thích món nào ăn món nấy, ăn ít – nhiều tùy khẩu vị và sức ăn của mình, không bị ép ăn những món mình không thích. Như vậy là ăn dân chủ. Đó là 3 nét chính. Ngoài ra còn có cách ăn bì cuốn, nem cuốn, ngày xưa chấm chung một chén nước mắm.
Cách ăn lễ phép, ăn coi nồi, ngồi coi hướng. Không ăn nhiều khi nồi cơm chủ nhà đã lưng”.
* Còn nghệ thuật nấu bếp của Việt Nam có theo nguyên tắc nào không?
Không có nguyên tắc nêu rõ. Thầy dạy nấu bếp chỉ dạy cho học trò nấu cho ngon, trình bày cho khéo. Nhưng xét kỹ thì có 3 nguyên tắc chính :
Thứ nhất, người ăn thích “ăn toàn diện” thì nghệ thuật nấu bếp là làm vừa lòng người ăn. Vì vậy cũng phải nấu ăn cho vừa năm giác quan. Món ăn được trình bày cho đẹp mắt, tô canh, dĩa cá, dĩa rau đều có nhiều sắc màu cho vui mắt, cơm trắng, hột gà vàng, rau xanh, ớt đỏ, tiêu đen, kho thịt, kho cá, nước thịt, nước cá có màu chuỗi hổ. Nước canh phải trong chớ không đục. Món ăn phải có mùi thơm của thức ăn được xào nấu chớ không phải mùi tự nhiên. Vì vậy, kho thịt bò, thịt heo, kho cá cần hớt bọt cẩn thận cho nước trong mà không có mùi bò, mùi heo, mùi cá. Canh chua phải có mùi rau om, thịt bò kho hay nước phở có mùi hồi, bún thang có mùi cà cuống v.v…
Món ăn đặc biệt thường có trộn những món mềm, món dai, món giòn.
Nhiều món phải ăn với bánh phồng tôm, bánh tráng nướng, rắc đậu phộng rang, để chẳng những nhai thấy giòn, mà lỗ tai còn nghe tiếng rôm rốp, thích thú cho thính giác. Và lẽ tất nhiên, vị món ăn phải được nêm nếm cho vừa ăn, không quá mặn, quá ngọt, quá chua. Dầu cho là nấu canh chua, chớ chất chua phải vừa với vị mặn, vị ngọt, quá chua là mất ngon.
Nguyên tắc thứ nhì là nấu ăn không đơn vị, mà là đa vị. Không có món ăn nào đơn thuần một vị. Chấtmặn pha với chất ngọt, chất chua, pha trộn nhuần nhuyễn. Những món cuốn bánh tráng như nem nướng, cá nướng, thịt bò, ngoài giá giòn, rau xà lách, rau thơm còn có ớt cay, chuối chát, khế chua, chấm nước mắm pha giấm, đường, tỏi, ớt hay mắm nêm cũng pha chút đường hay tương ngọt trộn với nếp xay hay hột điều xay. Như vậy, một cuốn nem nướng, cá nướng hay thịt nướng đem đến cho người ăn 5, 6 vị khác nhau, mà tất cả đều hài hòa, không vị nào lấn vị nào.
Nguyên tắc thứ ba là nấu ăn theo luật âm – dương cân bằng, hàn – nhiệt điều hòa. Không bao giờ để cho dương thiếu âm, âm thiếu dương. Khi mặn thì thêm ngọt, thêm chua cho vừa miệng, mà cũng tạo nên một sự quân bình giữa âm – dương, mà quân bình giữa âm – dương thường gặp trong Đông y, trong châm cứu, trong khí công, trong âm nhạc…
* Thưa giáo sư, ông có học trường nấu bếp nào chăng? Và học ở đâu?
– Ở Việt Nam có nhiều nơi dạy nấu bếp nhưng không có dạy theo những nguyên tắc nói trên. Tôi cũng không phải là một người đầu bếp chuyên nghiệp.
Tôi chỉ là một nhạc sĩ truyền thống, một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học. Nhưng vì “méo mó nghề nghiệp”, nhìn mỗi vật, mỗi sự kiện thường hay phân tích, đối chiếu, tổng hợp rút ra những nguyên tắc, nguyên lý hay định luật sau khi nhận xét và suy tư. Nhưng tôi đã trình bày cách nhận xét ấy cho những người chuyên về nghệ thuật nấu bếp thì được các vị ấy cho là đúng.
Câu chuyện giữa nhà báo bên phương Tây với tôi như thế. Bạn đọc quen biết tôi có lẽ ngạc nhiên khi thấy tôi không nói về chuyện nghiên cứu hay diễn tấu nhạc, mà lại nói về chuyện ăn. Thưa các bạn, người Trung Quốc thường nói : “Dĩ thực vi thiên” (có người nói Dĩ thực vi tiên), coi chuyện ăn uống cao qúy như trời. Chúng ta có câu : “Có thực mới vực được đạo”, mà người Pháp cũng có câu : “Ventre affamé n’a pas d’oreilles”, ý nói : Bụng đói thì lỗ tai không còn biết nghe nữa.
Thế là việc ăn uống trở nên quan trọng.
http://i1.wp.com/www.mekongtraveltours.com/wp-content/uploads/2012/09/CanTho-floating-market-Mekong-delta-Vietnam.jpg?resize=680%2C453
Đứa trẻ mới lớn lên phải học “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, rồi đến “Ăn phải coi nồi, ngồi phải coi hướng”. Người Việt Nam thường thường để chữ “ăn” trước nhiều động từ khác như ăn mặc, ăn nói, ăn nhậu, ăn chơi, ăn thua, ăn quà, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, ăn mày, ăn xin, ăn gian, ăn hại, ăn chịu, ăn vạ… Dạy chuyện đời cũng có nghĩ đến việc ăn uống như :
– Liệu cơm gắp mắm/ Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm
– Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
– Uống nước nhớ người đào giếng
– Ăn chưa no, lo chưa tới
– No mất ngon, giận mất khôn
– Ăn thua đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau…
Trong lĩnh vực âm nhạc cũng thường cho cảm giác “nghe” thành cảm giác nếm như khen tiếng đờn của một danh cầm rất “ngọt”, chê giọng ca của một ca sĩ rất “chua”, rất “chát”. Cảm giác “thấy” cũng như cảm giác về việc đối xử cũng thành cảm giác “nếm” như nước da của một cô gái rất “mặn mòi”, cách đối xử tiếp khách của một người quá “lạt lẽo”, và mấy ai tránh khỏi cái “cay đắng” mùi đời.
Nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau có nhiều thức ăn, có nhiều cách nấu, mỗi vùng Bắc – Trung – Nam đều có những món ăn đặc biệt. Ngày trước, tôi vẫn nhớ có chả cá Lã Vọng, những loại nước chấm miền Trung, nem chua Thủ Đức và ngày nay, đất nước thống nhất, việc đi lại dễ dàng, người Việt gặp nhiều dân tộc khác nhau, nhưng cách ăn uống, nấu nướng vẫn còn giữ sắc thái dân tộc và nhiều du khách đến Việt Nam trong thời gian ngắn cũng như những người nước ngoài có dịp gần người Việt, sống tại nước Việt lâu năm cũng nhìn nhận rằng người Việt Nam có cách nấu ăn độc đáo, dễ làm vừa khẩu vị những người khó tính trong việc ăn uống.
Trần Văn Khê

KỸ THUẬT GÕ MUỖNG CỦA TRẦN QUANG HẢI / Spoons Techniques by Trân Quang Hai

KỸ THUẬT GÕ MUỖNG CỦA TRẦN QUANG HẢI / Spoons Techniques by Trân Quang Hai

Mise en ligne le 26 févr. 2009

Trần Quang Hải explained his own techniques of how to play the spoons in Vietnamese for Vietnamese musicians.

GS TRẦN VĂN KHÊ : CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

FILE TVK 4

Năm 1976, khi chiến tranh vừa chấm dứt, Việt Nam sắp được thống nhứt, UNESCO đã giao cho tôi về nước tìm xem những bộ môn nghệ thuật nào có giá trị rất cao mà đã bị chìm trong quên lãng từ 30 năm nay vì chiến tranh. Trung tâm nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm nghiên cứu Âm nhạc theo phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Tây Berlin) do cố Giáo sư Alain Deniélou làm giám đốc giúp cho tôi những phương tiện để thực hiện cuộc điền dã. Đồng thời, Đỗ Nhuận – Tổng thơ ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam gởi thơ mời tôi về để tiếp xúc với các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu âm nhạc trong nước nhưng chỉ đài thọ tiền ăn ở tại khách sạn trong 3 tuần lễ. Tôi không ngờ chuyến trở về nước lần đầu tiên để làm một công tác điền dã lại được nhiều cơ quan ủng hộ về tinh thần và vật chất như thế. Riêng UNESCO cho biết, nếu những băng từ ghi âm những bộ môn ca vũ nhạc kịch mà tôi cho là có giá trị thì UNESCO có thể phát hành những dĩa hát đặc biệt dưới nhãn hiệu của UNESCO và sẽ góp phần phổ biến trên những cơ quan nghiên cứu của thế giới. Chuyến đi đó tôi có nhắc lại những khó khăn đã gặp và những kết quả cụ thể đã thâu thập được trong nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí (tiêu biểu như “Thanh Khí tương tầm” – Cuộc gặp gỡ giữa nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, nhạc sư Đinh Khắc Ban, nhà thơ Trúc Hiền và tôi trong tháng 04/1976 đăng trên các báo Kiến Thức Ngày Nay, Bách Khoa…; “Vài nhận xét về quá trình nghiên cứu Dân ca Quan Họ Bắc Ninh” viết năm 1977 đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội của Hội người Việt tại Pháp và trong quyển “Trần Văn Khê & Âm nhạc dân tộc” năm 2000 do NXB Trẻ ấn hành…). Tôi chỉ nhắc lại dĩa hát dưới nhãn hiệu của UNESCO sau đây do Hãng dĩa EMI ODEON phát hành 1978, và sau này được tái bản dưới dạng CD:

1978: “Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ” hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

Và CD tái bản của dĩa hát 33 vòng năm 1978:

1991: “Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho”, hãng AUVIDIS Đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này cũng được xuất bản cùng một lúc.

Dĩa hát đầu tiên này của hãng Emi Odeon đã được UNESCO mua gần 400 bản để gởi đi cho các trường Đại học lớn bên Mỹ và những nhà văn hóa lớn bên Châu Âu.

Trong những năm sau đó, tôi tiếp tục phổ biến nghệ thuật Ca Trù và Quan Họ ở nhiều nơi, đem Ca Trù và Quan Họ làm đề tài giảng dạy ở Đại học Sorbonne (Pháp) nhiều năm. Tại Đại học Hawai at Manoa (Honolulu – Mỹ) năm 1988, Ca Trù và Quan Họ là một trong những đề tài mà tôi giảng dạy nhiều nhứt để giúp cho sinh viên nắm được những nét chính trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Trong số những sinh viên học âm nhạc truyền thống với tôi tại Đại học Hawai, tôi còn nhớ có một cậu sinh viên tên là Michael, người Mỹ, nói được tiếng Việt, qua những tiết dạy của tôi đã trở nên mê thích Ca Trù và sau này khi trở thành người đại diện cho Quỹ Ford đã hết sức giúp đỡ cho nghệ thuật Ca Trù. Năm 2002 quỹ Ford do Michael làm người đại diện đã tài trợ chương trình “Đào tạo diễn viên Ca Trù trẻ”, và năm 2005 lại tiếp tục tài trợ cho Liên hoan Ca Trù toàn quốc. Tôi rất cảm kích Michael sau 18 năm vẫn còn nhớ Thầy, và hơn hết nữa là không ngờ nhờ bài giảng rất sơ lược của mình về Ca Trù lại khiến một người trẻ nước ngoài say mê đến vậy và muốn quay lại giúp đỡ bộ môn nghệ thuật truyền thống này.

Đến khi kết thúc khóa học tại Đại học Hawai (Honolulu), có 5 – 6 sinh viên Mỹ cùng với các nữ sinh Việt Nam hát Quan Họ đối thoại với nhau rất vui. Tôi vô cùng thú vị. Nhắc lại những kỷ niệm đó để thấy rằng ở xứ người, nghệ thuật truyền thống của Việt Nam mà ở đây là Ca Trù và Quan Họ cũng gặp được rất nhiều sự quan tâm yêu mến của nhiều người.

Tại Đại học Sorbonne, tôi đã làm công việc tuyển chọn những đề tài cho sinh viên Pháp làm luận văn cử nhơn. Trong lúc chấm bài thi, tôi lựa những bài hay đem photocopy và khi về Việt Nam có đưa cho bạn tôi là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước xem. Xem xong, Phước chảy nước mắt khóc và nói: “Không ngờ rằng ở nước ngoài mà có những thanh niên biết về nhạc truyền thống Việt Nam còn nhiều hơn các học sinh, sinh viên trung học, Đại học ở nước mình”.

Bỗng nhiên có sự tình cờ là hai bộ môn Ca Trù và Quan Họ tôi đã chọn lựa ghi âm để làm dĩa hát được phát hành dưới nhãn hiệu UNESCO từ năm 1976 thì năm 2009 cả hai bộ môn này đều được UNESCO tôn vinh là Di sản phi vật thể đại diện cho nhân loại (Quan Họ) và Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (Ca Trù).

Đặc biệt hơn nữa, sau khi tôi về nước để tìm hiểu Ca Trù năm 1976, ghi âm giọng hát của Bà Quách Thị Hồ vào dĩa hát, nhờ đó mà Bà Quách Thị Hồ được UNESCO trao tặng bằng khen để cảm ơn Bà đã tham gia trong việc phổ biến nghệ thuật Ca Trù – là di sản độc đáo của Việt Nam và vốn quý của toàn nhân loại ra thế giới. Thời đó không ai có thể ngờ rằng Hội đồng Quốc tế Âm Nhạc lại có những đánh giá như thế, và trên thế giới đều nhìn nhận rằng Ca Trù có một giá trị nghệ thuật cao xứng đáng được nhân loại giữ gìn và bảo vệ.

Năm 2004, khi còn ở bên Pháp, tôi đã được Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa Việt Nam, Ủy ban người Việt nước ngoài mời về nước thành lập hồ sơ Ca Trù đệ trình lên UNESCO. Tôi bằng lòng nhận trách nhiệm thảo hồ sơ nếu người cộng sự có thể thay mặt tôi làm công việc đúng theo tiêu chuẩn của quốc tế. Người mà tôi tin tưởng chính là Đặng Hoành Loan – người đã dựng lại được và thực hiện một cuộn phim tài liệu về Câu Hò Sông Mã rất khoa học và đầy đủ, đúng với cách thức làm việc mà tôi mong muốn. Vì lý do tôi không ở thường trực tại Hà Nội mà công việc thảo hồ sơ cần phải được liên tục nên tôi đã đề nghị với chánh quyền giao lại việc hoàn tất hồ sơ Ca Trù cho Đặng Hoành Loan – lúc đó là Viện phó của Viện Âm Nhạc. Còn tôi đứng ở ngoài theo dõi sát việc làm qua thư từ và giữ cương vị Cố vấn đặc biệt của hồ sơ. Tôi đã thành lập một ban biên tập hồ sơ về Ca Trù do Đặng Hoành Loan chủ biên và gồm những chuyên gia như GS Vũ Nhựt Thăng, Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, chuyên gia về Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện. Về việc điền dã, Đặng Hoành Loan chịu trách nhiệm tìm kiếm những người cộng sự như các chuyên gia về điện ảnh, nhiếp ảnh, kỹ sư thâu thanh, ghi hình… Tôi có nhiệm vụ đọc các văn bản, hồ sơ bằng tiếng Việt và bản dịch ra tiếng Anh, hiệu đính và bổ sung bản gốc, bản dịch, đồng thời nhận định, góp ý việc dựng phim, in dĩa hát, tuyển lựa hình chụp và lời giới thiệu cho các tư liệu nghe nhìn đó.

Mỗi khi có bộ môn nào được tôn vinh thì có lẽ tôi là người vui nhứt. Mặc dầu không tham gia các buổi Lễ Tôn vinh hay Chúc mừng vì lý do sức khỏe nhưng tôi vẫn đứng đằng xa hoan nghênh và chung vui cùng với tất cả mọi người, những nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ… đã góp phần đưa nghệ thuật truyền thống dân tộc rộng khắp năm châu.

Khi nghe tin Ca Trù và Quan Họ được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, tôi vô cùng hạnh phúc vì những ước mong của mình từ bao nhiêu năm nay giờ đã trở thành sự thật. Tuy vậy, trong niềm vui tôi vẫn trĩu nặng trong lòng những ưu tư lo lắng. Chuyên gia của UNESCO tôn vinh Quan Họ vì đọc hồ sơ thấy được những phong cách đặc thù không đâu có như tục lệ ngủ bọn, kết bạn, cách hát đối chữ, đối giọng, có tinh thần sáng tác… của Quan Họ ngày xưa thì tôi lo rằng nếu thế giới đến Việt Nam để nghe những canh hát Quan Họ bây giờ, liệu có còn thấy được những nét đặc thù tế nhị của Quan Họ cổ hay không?

Về Ca Trù thì UNESCO tôn vinh như một Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Tôi chỉ lo rằng việc bảo vệ sẽ theo đường lối nào để còn giữ được giá trị đích thực của Ca Trù ngày xưa. Cơ quan nào sẽ nhận ngân quỹ giúp đỡ và có đủ sáng suốt “chọn mặt gởi vàng” để cho nghệ thuật Ca Trù được phát triển, được phổ biến và truyền lại cho những thế hệ mai sau. Và trong công việc làm đó, chẳng biết cơ quan hữu trách có nghĩ đến số lượng mà không quan tâm nhiều đến chất lượng hay không?

Việc UNESCO tôn vinh Ca Trù và Quan Họ như luồng ánh sáng rực rỡ chiếu rọi khắp bầu trời, xua tan đám mây mù đang che lấp những giá trị chân mỹ của nghệ thuật dân tộc. Điều đó cũng chứng tỏ cho người trong nước biết rằng: Việt Nam cũng có những bộ môn nghệ thuật tế nhị, tinh vi mà người nước ngoài cũng nhìn nhận thấy, thán phục và ca ngợi. Việc tôn vinh cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với toàn dân tộc đang bị hấp dẫn bởi sự hào nhoáng, hiện đại, sinh động của văn hóa nước ngoài, kéo những người lạc lối quay trở về, bỏ đi lòng tự ti mặc cảm cho rằng nghệ thuật dân tộc của chúng ta là cổ hủ, lạc hậu và chỉ có nghệ thuật nước ngoài là khoa học, đáng để noi theo mà có được chút tự hào về giá trị nghệ thuật của âm nhạc truyền thống. Nhờ đó mà mong muốn tìm hiểu thêm các bộ môn nghệ thuật, có hiểu mới thương, có thương mới chịu khó học tập, có khi đi tới biểu diễn… thì lúc ấy nghệ thuật dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức hồi sinh.

TRẦN VĂN KHÊ

Bình Thạnh 07.10.2009

GS TRẦN VĂN KHÊ : CĂN BỊNH MÃN TÍNH CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

CĂN BỊNH MÃN TÍNH CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

tran van khe can binh mãn tính

Trong bàn tròn âm nhạc của Giai điệu xanh, em Hữu Trịnh đã lên tiếng «báo động», Giáo sư Ca Lê Thuần đã hưởng ứng và nêu lên sự kiện kinh tế thị trường, làm «nẩy nở chủ nghĩa thực dụng», nhiều nơi đã coi «nghệ thuật là một phương tiện kinh doanh», và đã đưa ra những đề nghị rất xác thực, hợp thời, hữu hiệu như «giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật», «tạo môi trường âm nhạc lành mạnh», «soạn lại chương trình giảng dạy âm nhạc», «đào tạo đội ngũ kế thừa», xem lại «chế độ, chánh sách ưu đãi học sinh học nhạc dận tộc, và nghệ nhân đang gìn gìn giữ vốn âm nhạc dân tộc». Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan đã ưu tư vì «những em học nhạc dân tộc ra trường không thể sống bằng nghề, đôi khi mệt mỏi vì tổ chức những buổi biểu diễn là muốn xây những chiếc «cầu nối» để dẫn công chúng đến với âm nhạc dân tộc», hao công tốn của mà vẫn phải «tự lực cánh sinh», chưa có ai tiếp tay trong công việc đó. Còn nhiều ý kiến rầt hay của những bạn khác, kể ra không xiết.

Để góp ý với các bạn trên diễn đàn nầy, tôi xin đưa ra vài nhận xét về những nguyên nhân nào đã tạo ra một tình trạng đáng buồn của âm nhạc dân tộc trong xã hội Việt Nam ngày nay, và nếu biết rõ được con vi trùng hay siêu trùng nào gây ra căn bịnh, hoặc vì đâu âm dương trong cơ thể ta mất quân bình, thì chúng ta sẽ tìm những phương thuốc để trị bịnh đó.

Có lẽ, như các bạn vừa thấy, tôi vì «méo mó nghề nghiệp», vừa là nhà dân tộc âm nhạc học mà có lúc học Y tại Hà Nội, nên thấy tình trạng khó khăn của âm nhạc dân tộc như một «căn bịnh». Bản chất của truyền thống âm nhạc Việt Nam rất vững chắc, sinh lực truyền thống rất dồi dào, giá trị nghệ thuật rất cao. Tại sao lại bị chìm vào quên lãng? Như người đang khoẻ mạnh bỗng kiệt sức, thì chỉ vì lâm bịnh.

Chẩn mạch xong, tôi thấy rất nhiều nguyên nhân: lịch sử, chánh trị, tâm lý, kinh tế, xã hội… từ rất lâu đã làm cho dân tộc ta, nhứt là giới thanh niên lần lần đi xa âm nhạc dân tộc.

Nguyên nhân từ hơn một thế kỷ

Trong lịch sử từ hơn một trăm năm, nước Việt Nam mất chủ quyền. Chánh sách thuộc địa tuy không cấm đoán chúng ta học tập hay biểu diễn âm nhạc dân tộc, nhưng người thống trị thường phổ biến và đề cao văn hoá của họ, và tất nhiên đẩy lùi văn hoá người bị trị vào trong bóng tối.

Tình trạng dân bị trị dẫn đến tâm trạng tự ti: thấy người thống trị có lực lượng quân sự hùng hậu, nếp sống vật chất cao với nhiều tiện nghi, bị choá mắt vì cái hào nhoáng bên ngoài, nhạc cụ lộng lẫy, dàn nhạc đông đảo, người dân Việt sanh ra tự ti, thấy cái gì mình cũng thua kém, thì văn hoá mình cũng không bằng văn hoá người thống trị. Thấy cây đàn piano bóng bẩy, cả mấy chục dây, nhìn lại cây đàn bầu, thùng tre thùng gỗ trông nó nghèo nàn làm sao, và nó lại nằm trong tay những người ăn mày, mà quên đi cái giá trị của nó trong chỗ chỉ một dây mà tạo ra bao nhiêu âm thanh, có âm vực trên ba quãng tám, phối hợp hai nguyên tắc vật lý là tạo bồi âm bằng cách khảy dây đàn đúng chỗ nút giao động để tạo ra bồi âm, rồi thay đổi độ căng của sợi dây để làm cho bồi âm có độ cao thấp khác nhau, không thấy rằng « một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm thanh » (Thơ của Văn Tiến Lê). Chỉ thấy hình dáng thô sơ mà quên rằng trong sự cấu tạo nhạc khí, cha ông chúng ta đã dùng «một dây căng giữa đất trời, cần nghiêng nghiêng tựa dáng người vươn cao» (Thơ Nguyễn Hải Phương), có cả thiên, địa, nhân trong vóc dáng, mà « tiếng ngân, ngân tận cõi nào, dư âm rơi ngẩn ngơ vào tim ai » (Thơ Nguyễn Hải Phương). Đi học đàn cò, thì xấu hổ, giấu kín cây đàn cò trong bị. Đi học đàn violon, thì hãnh diện xách cây đàn trong hộp gỗ cho mọi người thấy. Lòng tự ti đó dẫn tới chỗ nhiều người nghĩ rằng: «đàn dân tộc là lạc hậu, đàn Tây là tiến bộ!», đi đến chỗ bỏ đàn Việt, học đàn Tây.

Rồi những nguyên nhân kinh tế lại càng làm cho thanh niên xa lần âm nhạc truyền thống. Trong những buổi hoà nhạc, trên các Đài phát thanh, sau nầy trên Đài truyền hình, trong các hãng làm dĩa hát, tiền thù lao cho nhạc công truyền thống thua xa tiền thù lao của những nhạc công đàn Tây và từ năm sáu chục năm nay, thua cả diễn viên tân nhạc. Bỏ công luyện tập đàn dân tộc để không sống được với nghề nghiệp của mình. Cùng một thời gian luyện tập, đi vào nhạc mới, nhạc Tây sẽ làm ra tiền nhiều hơn. Tính thực dụng đã làm cho thanh niên quay lưng với âm nhạc truyền thống.

Tiếp theo là nạn chiến tranh. Trong hơn 30 năm, nước Việt bị chìm trong khói lửa. Nông dân cấy lúa ban đêm, im lặng không hò không lý. Đối ca nam nữ, hát đúm, hát ghẹo, hát xoan, hát quan họ cũng im hơi vắng tiếng vì ngày đêm bom đạn có thể rơi trên đầu mình bất cứ lúc nào. Tất cả năng lực trong nước đều tập trung để chống ngoại xâm, phục vụ kháng chiến. Văn nghệ dân tộc vì thế không được phát triển.

Nếp sống trong xã hội thay đổi

Đàn bà không phải như ngày xưa chỉ là nội trợ, mà đi làm việc bên ngoài. Con ít bú sữa mẹ, và tiếng hát ru cũng đã tắt trên môi của bà, mẹ, chị, để nhường chỗ cho những chương trình của Đài phát thanh giới thiệu những ca sĩ tân nhạc, hay nhạc kích động của nước ngoài. Đứa trẻ đã mất đi bài giáo dục âm nhạc đầu tiên của mẹ gieo vào tiềm thức em.

Trẻ em không còn hát những bài đồng dao mà hát những bài do người lớn đặt ra cho em.

Thanh niên thiếu nữ gặp nhau, không còn thích đối đáp bằng những câu ca tình tứ, những bài hát huê tình, mà thích ôm nhau và khiêu vũ theo những điệu tango, bolero.

Tiến bộ kỹ thuật có giúp con người đỡ tay, và nâng cao mức sản xuất, nhưng cũng làm mất đi vài làn điệu dân ca. Trên đồng ruộng không còn những giàn hò, hò cái hò con, cất lên những câu kể câu xô. Đã có đài phát thanh cho nghe những bài hát tân nhạc rồi!Không còn những tiếng chày tiếng cối nhịp theo những câu hò giã gạo hay xay lúa, vì đã có những nhà máy thay người, chỉ cần đổ lúa đầu nầy, hốt gạo đầu kia.

Trên sông nước không còn những tiếng cất lên trong đêm vắng gọi «bớ chiếc thuyền loan khoan khoan gác mái, tôi có một đôi lời phải trái phân nhau». Vì bao nhiêu đò máy đã thay thế chiếc đò chèo. Tiếng máy xình xịch đã thay tiếng Hò khoan vang trên mặt nước.

Các rạp hát thưa lần và tụ điểm mọc lên như nấm.

Trên các đài phát thanh hay truyền hình, vắng tiếng đờn ca dân tộc, tân nhạc và  «nhạc ngoại» chiếm những giờ có thể đông người nghe. Lại có bao nhiêu bộ môn bị hiểu lầm, đôi khi chịu hàm oan, mang tiếng xấu. Những đào nương gốc nông dân, chịu khó luyện tập để hát được tròn vành rõ chữ, vững tay phách, lại phải có tánh hạnh tốt mới được tuyển đi hát thờ hay hát cửa đình. Người đào nương đến khi mang tiếng « cô đầu«  bị liệt vào « phường bán phấn buôn hương« , vì ít ai biết cô đầu hát và cô đầu rượu là hai hạng người khác nhau rất xa. Cô đầu rượu nhờ tài nghệ của cô đầu hát dẫn khách vào nhà để cô đầu rượu rót chén rượu nồng mời «quan viên» uống cho say, rồi rỉ tai bày chuyện gió trăng. Nghệ thuật ca trù vì vậy mà bị coi thường và chìm lần vào sự lãng quên.

Chầu Văn bị xem là mê tín nên có lúc bị bài trừ chớ nhông phải là một sinh hoạt văn hoá toàn diện, có hát có đàn, có trang phục, có múa.

Những nguyên nhân tôi nêu ra cho chúng ta thấy vì đâu âm nhạc truyền thống mất lần sinh lực, nên trước sự tấn công của các luồng văn hoá ngoại bang, đã bị đẩy lần vào trong bóng tối. Đa số thanh niên chạy theo cái hào nhoáng bên ngoài vì không hiểu cái chân giá trị đặc thù mà kín đáo của nghệ thuật dân tộc.

Ngày qua tháng lại,căn bịnh không ai trị đã thành mãn tính. Nay muốn lành bịnh phải trị căn chớ không thể trị chứng.

Từ trong gia đình ra tới xã hội, từ dân chúng đến nhà cầm quyền, mỗi người đều phải có ý thức nhúng tay vào việc trị bịnh. Nếu bắt đầu từ ngay bây giờ, có lẽ phải đợi 5, 10 năm hoạ may mới có kết quả. Nếu không, việc phải tới sẽ tới. Âm nhạc truyền thống sẽ thoi thóp, tàn lụn rồi đến khi sức tàn lực tận sẽ trút hơi thở cuối cùng. Đó là cái nhìn khách quan. Nhưng tôi bổn tánh lạc quan và rất tin tưởng vào ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam, nên tôi nghĩ rằng âm nhạc truyền thống, dầu lâm cơn bạo bịnh, cũng sẽ tìm lại được sức hồi sinh.

Muốn sớm đem lại nguồn sinh lực cho nguời bịnh, tôi đề nghị những phương thuốc sau đây:

  1. Làm sống lại tiếng Hát ru để cho trẻ sơ sanh có được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên trong cuộc đời. Nếu mẹ phải đi làm việc bên ngoài hay phải gởi con vào nhà trẻ, thì đến giờ các em ngủ, để cho các em nghe qua máy phóng thanh, tiếng hát ru ghi vàodĩa hát hay băng từ.
  1. Đem âm nhạc truyền thống vào học đường là một phương thuốc hữu hiệu và cần thiết nhứt. « Dạy con dạy thuở còn thơ ». Trong các lớp mẫu giáo hay các trường tiểu học, trung học nên có chương trình dạy Giáo dục âm nhạc, trong đó âm nhạc truyền thống dân tộc là nòng cốt.

3.Các em nhỏ nên hát những bài đồng dao hay những bài hát sáng tác theo loại đồng dao, như những bài Ông Nỉnh Ông Ninh, Có con dế mèn của Lê Thương, phù hợp với tâm lý các em hơn những bài do ngưới lớn sáng tác theo phong cách phương Tây.

  1. Khuyến khích người nông dân hò, lý trong lúc làm việc. Có thể tổ chức những giàn hò trong mỗi vạn cấy gồm đôi ba cặp hò đối đáp. Những ngườii hò hay thì hò nhiều, làm việc ít, mà tiền công được trả đủ có khi còn được thưởng. Như cô bảy Phùng Há thuở lên 7, 8 tuổi đi làm thuê trong lò gạch. Nhờ có giọng ca hay, ai nấy đều dồng ý để cho cô ca, khỏi làm gạch, mỗi người cho một ít gạch, thành ra cô bé có giọng oanh vàng hôm nào cũng có nhiều viên gạch, mà khỏi phải lao công. Người làm nhờ nghe ca, thích thú, năng suất cao, chủ lò gạch rất thích.
  1. Khuyến khích những sinh hoạt đối ca nam nữ, những buổi hoà đàn dân tộc bằng cách mở những cuộc thi có cho giải thưởng cho những người đàn hay hát giỏi. Tổ chức những buổi giao lưu giữa những đội hát, nhóm đàn.
  1. Các Đài phát thanh và Truyền hình nên có những buổi giới thiệu, có chuyên gia giải thích, những bộ môn âm nhạc trong truyền thống dân gian hay bác học vào những giờ có nhiều người nghe hay xem, bày những trò chơi đố giải, có liên quan đến âm nhạc dân tộc. Đài nên mời những nghệ sĩ có tên tuổi đến dự những buổi liên hoan trên Đài về Hát ru, Hò, Lý, Đối ca Nam Nữ. Những nguời nghiệp dư được huy chương vàng, bạc hay đồng trong các liên hoan tại các huyện các tỉnh, được mời lên Đài biểu diễn, coi đó như là một phần thưởng mà các bạn không chuyên nghiệp rất thích.
  1. Báo chí nên có những trang đặc biệt về âm nhạc dân tộc.
  1. Những nhà xuất bản sách báo nên phát hành những bưu ảnh có hình nhạc khí được thông dụng do các nhạc sĩ trẻ biểu diễn, những sách tập vẽ hay tô màu hình nhạc khí truyền thống, những sách góp lại những truyền thuyết liên quan đến âm nhạc.
  1. Những nhà xuất bản dĩa hát nên cho ra những dĩa hát giới thiệu nhạc khí, nhạc phẩm dân tộc, do những nghệ sĩ trẻ biểu diễn, có lời giới thiệu của những giáo sư có tên tuổi do những kịch sĩ, ca sĩ được quần chúng hâm mộ đọc lên, từng ấy « siêu sao » sẽ thu hút nhiều người mua dĩa.

Rất cần có nhiều người do hiếu kỳ, đi tới âm nhạc truyền thống để tìm hiểu. Có hiểu mới thương, có thương mới thích, mới sẵn sàng để thì giờ học hỏi, luyện tập, biểu diễn, thưởng thức, rồi đi tới bảo tồn, phổ biến, phát huy âm nhạc dân tộc.

Trong xã hội hiện nay, muốn huy động tư nhân hay hiệp hội, cơ quan nhà nước hay thương hội tư, kêu gọi sự tài trợ của các Mạnh Thường quân hay các doanh nhân, chỉ có chánh quyền mới có thể phát động phong trào mạnh mẽ.

Hiện nay chánh quyền đã có vạch ra đường lối văn nghệ rất đúng, nhưng các cơ quan thi hành đường lối chưa được đúng. Thí dụ khẩu hiệu « Dân tộc, Khoa học, Đại chúng » rất hay. Tính dân tộc là ưu tiên, là trên hết. Nhưng dân tộc là gì? Mỗi người hiểu một cách. Không ít người cho rằng cây đàn piano nếu được nhiều người ưa thích, học hỏi và biểu diễn nó sẽ thành cây đàn dân tộc. Nói trọng dân tộc, kêu gọi dân chúng về nguồn, nhưng ta vẫn còn thấy cảnh dàn dựng một Giao hưởng khúc sáng tác theo phong cách Âu Tây, được tài trợ cả vài trăm triệu đồng. Tổ chức một liên hoan về đờn tranh có nhiều nước châu Á tham dự Nhựt Bổn, Đại Hàn, Singapore, v.v.. chỉ nhận được tài trợ không đến ba chục triệu đồng.

Trong tư nhân cũng vậy. Có nhan sắc, mặc áo dài đẹp nhứt được thưởng 15 triệu đồng. Có năng khiếu âm nhạc, dày công học tập năm nầy tháng nọ, phải thi qua ba bốn đợt, được huy chương vàng và số tiền 10 triệu. Nói chi đến đá bóng. Đưa một trái banh vào lưới được thưởng ba chục triệu đồng như chơi, nhấn một chữ đàn gân guốc làm não ruột người nghe, chỉ được tiếng xuýt xoa, hay một tràng pháo tay, rồi thôi! Người nghệ sĩ đã làm rung động lòng thính giả lại lủi thủi ra về sống cuộc đời hẩm hiu!

Tính thực dụng lại được đưa ra để giải thích những việc đó. Thì ra âm nhạc đã không còn một nghệ thuật mà chúng ta phụng sự và đã biến thành một món hàng chúng ta bán!!!

  1. Chánh quyền có thể giúp rất nhiều trong việc giữ gìn và chấn hưng âm nhạc dân tộc. Những điều cấp bách cần phải làm Giáo Sư Ca Lê Thuần đã nói rất rõ ràng, đầy đủ và chí lý. Tôi chỉ lập lại ba việc:

1/ Đem âm nhạc vào học đường và nhứt là ở cấp mẫu giáo và tiểu học

2/ Cải tổ chương trình dạy nhạc trong cấp Trung học và nhứt là trong các Nhạc Viện.

3/ Có chánh sách ưu đãi những nghệ nhân suốt đời tận tụy với âm nhạc truyền thống và với sinh viên học nhạc dân tộc .

Trong quần chúng còn nhiều nhận định về âm nhạc truyền thống cần nên xét lại:

  1. Có lắm ngưòi cho rằng âm nhạc truyền thống « lạc hậu« . Tôi chi xin hỏi lại các vị ấy có biết chi về âm nhạc truyền thống mà dám cho rằng nó lạc hậu?

Các vị có biết tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia của đàn đáy khác tiếng phi, tiếng chầy của đàn tỳ bà ra sao không?

Các vị có biết rằng cách nhấn đàn tranh chúng ta phong phú hơn cách nhấn của đàn Zheng Trung Quốc, vì chúng ta có nhấn nửa bực, một bực, một bực rưỡi, có nhấn rung, nhấn mổ, nhấn nhảy, nhấn vuốt?

Các vị có biết cách gõ phách trong truyền thống ca trù độc đáo có một không hai trên thế gìới? Thường thì khi gõ nhịp hay đánh trống thì dùng hai dùi giống nhau, không có nơi nào dùng hai dùi một thân tròn, một chẻ làm hai để cho có một tiếng nặng một tiếng nhẹ, một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng Dương một tiếng Âm. Khi đánh thì âm dương trộn nhau, hai tiếng phách cái, phách con chen nhau làm cho nhịp đều được bao trùm trong những tiếng phụ, phách không hiện rõ mà biến thành « lẫn phách », có phân nhịp mà như không có nhịp, thật mà như hư, có mà như không, .hiện mà như ẩn?

Các vị có biết hát Nam trong hát tuồng, hát bội, có luyến và láy? Luyến là gì mà láy là gì? Tại sao lại phải khi dùng láy lệ, lúc dùng láy rút, láy nhún, láy đắp bờ, láy âm, láy dương?

Bao nhiêu cái tế nhị trong thanh nhạc, trong khí nhạc, các vị có biét rõ không mà dám cho rằng âm nhạc truyền thống là lạc hậu?

  1. Nhiều người cho rằng âm nhạc truyền thóng rất « lề mề« , không theo kịp nhịp sống của thời đại. Trong xã hội công nghiệp, nhịp sống rất mau mà nhạc cổ truyền quá chậm. Tại sao nhịp âm nhạc lại phải mau theo nhip của xã hội công nghiệp? Âm nhạc là nghệ thuật, công nghiệp là kỹ thuật, tiết tấu của hai bên không liên quan gì với nhau cả. Nhịp của nghệ thuật là nhịp của trái tim. Trái tim của chúng ta không thể đập theo nhịp điệu cuồng loạn. Nếu trái tim phải đập theo nhịp của kỹ thuật, chắc ta phải vào bịnh viện. Ở những nước kỹ thuật tiên tiến bên Âu Mỹ, nhịp sống mau hơn nhịp sống ở nước ta nhiều. Thanh niên các nước Âu Mỹ đang quay về nhạc châu Á để tìm chút yên tĩnh, hầu chống lại nếp sống quay cuồng, lôi cuốn con người vào guồng máy của nó.
  1. Có người lại nói rằng nhạc truyền thống của ta phải theo đà tiến hoá, phải thế nầy thế nọ. Các bạn quên rằng âm nhạc truyền thống đang lâm vào cảnh nguy kịch, như căn nhà đang cháy hay bị lũ cuốn lôi. Phải chữa cháy trước đã rồi mới nghĩ phải trồng hoa ngoài sân, phải treo tranh trên tường, phải đặt điều hoà không khí. Âm  nhạc truyền thống đang lâm cơn bịnh mãn tính trầm kha. Phải chữa cho bịnh lành rồi mới nghĩ uống thuốc bổ cho khoẻ người, tập thể dục cho nở nang bắp thịt. Âm nhạc truyền thống không phải bất di bất dịch. Nhưng trước khi định cho nó phải tiến bộ như thế nào, nên cứu cho nó sống trước đã.

Theo tôi vừa trình bày phía trên, muốn trị bịnh cho âm nhạc truyền thống, phải có chánh quyền nhúng tay vào. Nhưng chỉ có chánh quyền thì không đủ. Tất cả chúng ta, mỗi người trong phạm vi hoạt động của mình, phải ý thức đến việc mất còn của âm nhạc truyền thống và tùy theo khả năng của mình góp phần vào việc điều trị căn bịnh mãn tính, thì hoạ chăng trong mươi năm, hai mươi năm nữa chân trời âm nhạc truyền thống mới có thể tỏ rạng hơn ngày nay.

TRẦN VĂN KHÊ

 

11 CommentsChronological   Reverse   Threaded

delete reply

tranquanghai wrote on Apr 9, ’08

Bài nhân xet rât chinh xac noi lên thuc trang cua nhac cô truyên Viêt Nam.

delete reply

phuongoanh wrote on Apr 10, ’08

cám ơn Thầy đã viết lên những cảm nghĩ về vấn đề của âm nhạc truyền thống.
Cho em ‘quảng cáo’ trang nhà này đến bè bạn xa gần để được học hỏi thêm.

delete reply

lengochan wrote on Aug 15, ’08

Thưa GS,

Lần trình diễn của vở Chiếc Áo Thiên Nga, con tuy không trực tiếp đến xem nhưng qua những thông tin trên báo chí và những người đến xem cũng hiểu phần nào sự bát nháo của tình hình văn nghệ dân gian của Việt Nam. Hỡi ôi, đến những đạo diễn, diễn viên cốt cán mà vẫn không phân biệt được tạp nham và nghệ thuật chân chính thì sự suy giảm khả năng thưởng thức nghệ thuật của công chúng còn ở mức độ nào….

Lê Ngọc Hân

edit delete reply

trantruongca wrote on Aug 15, ’08, edited on Feb 18

Thầy không hòan tòan phủ nhận các cố gắng của những người đạo diễn hay diễn viên có thiện chí nhưng chưa thành công 100%. Nhưng tình hình chung của nền ca, nhạc, vũ kịch truyền thống chưa được khả quan.

Con đang làm nghề gì hay học môn gì mà thiết tha với văn hóa truyền thống vậy con?

GSTVK

delete reply

lengochan wrote on Aug 15, ’08

Dạ thưa GS,

Con là cựu sinh viên ngành Ngữ Văn Hán Nôm trường ĐH KHXH và NV. Từ nhỏ con đã mong muốn được làm gì đó để bảo tồn văn hóa dân tộc Việt Nam nhưng đến nay quả thực lực bất tòng tâm. Nhìn thấy cảnh sinh viên Hán Nôm tốt nghiệp, chỉ có 1,2 người theo nghề, còn lại thì bươn chải đủ nghề để kiếm sống. Con cũng vậy, hiện con cộng tác viết báo và phụ trách nội dung website cho một trường mẫu giáo. Giúp cô hiệu trưởng truyền bá kiến thức cho các bậc phụ huynh nuôi dạy trẻ tốt hơn.

Gia đình con hầu như ai cũng biết GS và thích xem những phát biểu của GS trên tivi.

Trước đây còn nhỏ, đọc hồi ký của GS con chưa thấm thía nhiều, nay đọc lại con hiểu hơn về tấm lòng của GS với văn hóa dân tộc. Sức học con có hạn, tài chính cũng không nhiều, nhưng dự định sang năm con sẽ cố thi cao học ngành Văn hóa Việt Nam để có thể tiếp sức cho văn hóa dân tộc.

Vài dòng tâm sự

Lê Ngọc Hân

edit delete reply

trantruongca wrote on Aug 15, ’08

Thầy chúc cho con thực hiện được ước mong của con
Thầy TVK

delete reply

phiadongtay wrote on Aug 17, ’08

Xin cam on!

delete reply

trananhkhoa96 wrote on Jan 29, ’09

đọc loạt bài về âm nhạc truyền thống mà chếnh choáng như thể dự một bữa đại tiệc, tuy đa dạng phong phú nhưng cũng tinh tế thâm trầm.
Cháu có vài lời quê mùa gọi là tỏ lòng kính đến những bài viết của GS.

Ừ thì vọng cổ đôi câu
Ngũ cung chao đảo như dâu bể đời
Quán khuya ngồi ngó mưa rơi
Nương câu tài tử hát lời quê hương
Tứ đại oán lưu thủy trường
Bàn tay giữ nhịp vô thường miên man

Nghe đi em giữa thở than
Điệu sầu sông nước chứa chan tình người…

edit delete reply

trantruongca wrote on Jan 30, ’09

Đọc bài Thầy con chếnh chóang
Nhưng sau đó lại ra thơ
Thâm trầm con không thấy ngán
Thầy sung sướng! Thật không ngờ!!!
Cám ơn con Trần Anh Khoa !

edit delete reply

trantruongca wrote on Jan 30, ’09

Đọc bài Thầy, con chếnh choáng
Nhưng sau đó lại ra thơ
Thâm trầm con không thấy ngán
Thầy vui sướng ! Thật bất ngờ!
Cám ơn con Trần Anh Khoa

delete reply

pmthu wrote on Mar 30, ’10

Con mới học đàn tranh được 2 tuần và rất thích môn nghệ thuật dân gian này. Con thấy yêu những câu nhạc dân ca Việt Nam và mong rằng mình có thể đến được với lĩnh vực này sâu hơn, hiểu hơn. Nay tình cờ tìm được blog của giáo sư thấy thật may mắn và rất vui.
Xin phép giáo sư để được đăng bài này trên trang riêng của con.
Chúc giáo sư luôn mạnh khỏe đem đến cho đời nhiều những kiến thức hơn về đàn tranh nói riêng và các nhạc cụ dân tộc khác nói chung.
Xin cảm ơn giáo sư.

 

GS TRẦN VĂN KHÊ : ĐI XEM MARIA KIRAN Một tài năng trẻ về vũ điệu Bharata-natyam đầy hứa hẹn

ĐI XEM MARIA KIRAN

Một tài năng trẻ về vũ điệu Bharata-natyam đầy hứa hẹn

« Trung Tâm Mandapa trân trọng mời Giáo sư Trần Văn Khê vui lòng đến dự buổi tổng duyệt của chương trình vũ điệu Ấn Độ, theo phong cách Bharata-Natyam,

Do Maria Kiran, với các Thầy và Nhạc sĩ của Cô trình diễn

Tại Nhà Hát Thành Phố ( Théâtre de la Ville) Vùng Les Abbesses

Ngày 20 tháng 2 dương lịch, năm 2003, vào lúc 20 giờ 30 phút »

maria kiran 1

Thiệp mời có in ảnh một nữ nghệ sĩ Ấn Độ, rất xinh, vào tuổi đôi mươi, nghiêng đầu về phía trái, miệng mỉm cười, mắt liếc về hướng cánh tay trái giang thẳng ra,   lòng bàn tay ngửa lên trời, các ngón tay xoè ra như cánh quạt, giống như tay một nữ nghệ sĩ chèo đang múa « đuổi ngón », cánh tay mặt hơi giang khỏi thân, các ngón tay chỉ địa, thân hơi nghiêng về phía trái, chân trái đứng vững, chân mặt tréo qua phía trái sau lưng chân trái, nhón chân, cả người trong tư thế bướm lượn, chim bay.

Tôi nhìn thiệp mời mà nhớ lại cách nay hơn mười năm, tôi có dịp gặp thoáng qua một cô bé Ấn Độ tại Trung Tâm Mandapa, Bà Milena Salvini Giám đốc Trung Tâm giới thiệu với tôi : « Cháu Maria là con nuôi của vợ chồng tôi. Cháu sanh ra bên Ấn độ vùng Allahabad. Cơ duyên khiến cho vợ chồng tôi, trong chuyến đi Ấn độ, gặp cháu trong cô nhi viện của Mẹ Thérésa trông nom. Biết cháu rất thích múa từ lúc lên 3 tuổi, vợ chồng tôi may mắn xin được cháu về làm dưỡng nữ trong gia đình tôi. Cháu rất sung sướng vì bản chất thích múa, sống với chúng tôi thì hằng ngày được xem các Thầy dạy múa theo các phong cách Bharatanatyam, miền Nam,   Katak miền Bắc Ấn độ, cháu rất thích. Trong các Thầy dạy, có bà Vidya, môn sinh của Thầy K.M.K Saroja ở Madras,   thương cháu nên nhận cháu làm học trò. Cháu học rất chăm và tiến bộ rất mau »

Tối nay, cô bé mà tôi đã gặp tại Trung tâm Mandapa, nay đã trở nên một nghệ sĩ lớn được mời biểu diễn tại Nhà Hát Thành Phố trong mùa 2002-2003. Hơn mười năm nay tôi không có dịp gặp lại Maria Kiran. Chẳng biết quá trình học tập của cháu ra sao ?

Tại Nhà hát Thành Phố chiều nay, không có khán giả mua vé. Toàn là những khách mời : nhà báo, cơ quan truyền hình, truyền thanh, đại diện các cơ quan văn hóa quốc gia và quốc tế, chuyên gia nghiên cứu về ca, vũ, nhạc Ấn Độ và các nước Châu Á, và bạn bè thân hữu của Bà Milena Salvini và Ông Roger phu quân của Bà.

Ban tổ chức phát cho khách mời chương trình nghệ thuật, và tiểu sử của nghệ sĩ. Nhờ vậy, tôi mới biết thêm rằng sau khi học vở lòng tại Pháp, từ 13 tuổi, Maria Kiran đã được Thầy cho biểu diễn tại vài nơi bên Pháp. Cha mẹ nuôi của cô cho cô về Ấn Độ học thêm. Rất may, cô được hai người Thầy tại New Delhi hết lòng truyền nghề cho cô : BàYamini Krishnamurti một vị đại sư từ hơn nủa thế kỷ không ai sánh kịp, và Bà Jamuna Krishnan chuyên dạy múa diễn xuất và có tiếng hát thần kỳ.

Khi được Thầy cho phép làm lễ « aranghetram« , tức là được ăn mặc xiêm áo của nghệ sĩ chuyên nghiệp, chân đeo lục lạc và múa một chương trình ra mắt trong một đền thờ, trước khi múa cho công chúng xem. Được làm lễ đó học sinh như được Thầy nhìn nhận có đủ tài nghệ biểu diễn cho người xem mà không hổ mặt Thầy. Lễ đó giống như lễ « mở xiêm áo » trong truyền thống ca trù, và đào nương cũng phải « hát cửa đình » trước khi « hát cửa quyền ». Lễ aranghetram của cô được cử hành tại đền Chindambaran, nơi thờ Thần Shiva và Vishnu tại Ấn độ miền Nam, lúc cô vừa 15 tuổi. Cô lại được Thầy K.M.K Saroja, Thầy của Thầy Vidya của cô đỡ đầu, làm chủ lễ và biên đạo bài múa cho cô.

maria kiran 2

Thành nghề tại Ấn Độ, cô đã đi biểu diễn nhiều nơi như Trung tâm quốc tế tại New Delhi, Tivandrum, Bombay và trên Đài Truyền hình Ấn độ.

Năm 18 tuổi, cô trở lại Pháp và bắt đầu biểu diễn tại Bảo tàng Viện Guimet Paris, Bảo tàng Viện Nghệ thuật châu Á tại Nice, Nhạc hội Ris Orangis. Cũng trong năm đó cô được tặng Giải đặc biệt của Ban Giám khảo (toàn thể thành viên nhứt trí bỏ thăm) trong Cuộc Thi quốc tế về nghệ thuật khiêu vũ tại Perugia (Ý).

Từ năm 2000 đến nay, cô đi trình diễn khắp nơi, Ý, Pháp, Ấn Độ, được mời tham dự những nhạc hội lớn tại Tây Ban Nha, Unesco (Pháp)

maria kiran 3

Năm nay, trong ba ngày 20, 21, 22 tháng 2, tại Nhà Hát Thành Phố Paris, cô giới thiệu hai chương trình đặc biệt để tạ ơn và tôn vinh 4 người Thầy của cô và ra mắt tao nhân mặc khách, văn nhân nghệ sĩ, báo chí truyền hình, những người mộ điệu và sành điệu múa Ấn độ.

Đúng 20 giờ 30 phút. Đèn trong phòng dịu lần trong khi trên sân khấu đèn sáng choang. Bên mặt từ dưới nhìn lên có đặt tượng của Thần Shiva trong tư thế múa, cạnh bên chiếc bàn nhỏ trên đó có để lò đốt trầm. Bên trái, một tấm thảm đỏ dành cho nhạc sĩ ngồi. Từ trong ra ngoài, có Bà Vidya, choàng áo sari trắng. Bà là Thầy đầu tiên dẫn cô bé Maria Kiran vào thế giới Bharatanatyam. Thầy Jamuna Krishnan hôm nay cũng có mặt và sẽ là người hát chánh trong dàn nhạc phụ hoạ. Cô Ragini Chander Shekar ca sĩ, tiếp hơi Thầy Jamuna Krishnan. ông M.V. Chander Shekar đánh trống mridangam, loại trống cơm miền Nam Ấn Độ, ông Viju Sivanand đàn violon (tại Miền Nam Ấn Độ đàn violon thay thế đàn sarangi từ gần 200 năm nay, và được xem như một nhạc khí truyền thống Ấn Độ), và đặc biệt người thổi sáo murali là một nhạc sĩ Pháp Henri Tournier, Giáo sư dạy thổi sáo tại các nhạc viện vùng Paris, đã học thổi sáo Ấn Độ từ lâu, và được người Ấn Độ trọng như một nhạc sĩ thổi sáo chuyên nghiệp Ấn Độ.

Tiếng sáo mở đầu « nỉ non lời gió giọng chim » (nói theo Hải Phương) Tiếng violon thoát ra từ bàn tay trái của nhạc sĩ Sivanand đang « vuốt ve nên lời dịu ngọt »(lại nói theo Hải Phương) Rồi giọng ca của Bà Jamuna Krishnan cất lên, khoan thai, trang trọng.

Để bắt đầu một chương trình múa, nghệ sĩ phải dâng hoa và múa trên lời ca ngợi một vị Thần. Kìa ! Karyan bước ra sân khấu, đứng ngay chính giữa, sát phía màn treo làm phong. Thầy Jamuna Krishnan cất   tiếng ca ngợi Thần Subrahmanyam, con của Thần Shiva, Maria Kiran trụ bộ rồi múa.

maria kiran 4

Subrahmanyam !

Người cưỡi chim công oai vệ

Tay người cầm giáo

Đâm xuyên thân Thủy Tinh

Đang ẩn mình dưới đáy biển

Người lên trên núi

Giệt quỉ Krauncha,

Sơn tinh ác nghiệt

Để độ thế cứu nhân.

Kyrian múa theo bài do Thầy Kalanmamani M.K Saroja dàn dựng, để tạ ơn và tôn vinh Thầy.

Dứt bài, cô đến quì trước tượng của Shiva, dâng hoa, và đảnh lễ.

Cô lui lại trên sân khấu trở về vị trí lúc đầu.

Chương trình chuyển sang tiết mục thứ hai : Jatisvaram. Bài múa nầy do Thầy Yamini Krishnamurti dàn dựng, và Kyrian biểu diễn để tạ ơn và tôn vinh Thầy.

Mở đầu cô đứng trụ bộ Ardhamandah, hai chân rùng xuống, hai gót chân đâu lại, hai bàn chân quay ra hai bên tả hữu thành hình chữ V, hai cánh tay giang thẳng, song song với mặt đất, bàn tay ngửa lên trời các ngón tay cong lại. Rồi nhẹ nhàng đưa hai tay xuống đặt trên đùi. Rất vững mà rất mềm. (Lúc tôi sang Ấn Độ, hôm viếng Sangeet Natak Akademi, Hàn lâm viện Ca,Vũ, Nhạc tại New Delhi, khi thấy một sinh viên học múa đứng trụ bộ rất đẹp, tôi nói nhỏ với bà Thầy : « Cô này đứng trụ bộ rất đẹp ». Bà Thầy cười và trả lời : « Cô ấy phải học và luyện tập, sau 3 năm mới được dáng đứng đúng lề lối và đẹp như vậy. »)

Kyrian đã đẹp lại trụ bộ rất đẹp. Chân cô bắt đầu nhịp bằng cách dậm chân xuống sàn múa theo nhịp của tiếng trống mridangam. Một cuộc đối thoại xen lẫn hoà nhịp giữa người múa và người đánh trống. Bà Janua Krishnan hát một bài mà dùng toàn chữ nhạc Sa, Ri Ga Ma Pa Dha Ni Sa (như Hò xự Xang xê cống của Nhạc chúng ta hay Do rê mi fa sol la si của phương Tây) với nhiều quận tiết tấu khác nhau   (quận là một đoạn tiết tấu từ nhịp « Sam« , nhịp chánh đầu đến nhịp « Sam » kế tiếp). Karian chân đập theo nhịp, tay xoay bàn, hay đuổi ngón, uyển chuyển, mềm dẻo, thân hình uốn khúc, khi nghiêng, khi ngửa, êm ái, dịu dàng, khi nhảy sang bên mặt, lúc nhảy qua bên trái, như chim bay, như bướm lượn, khi đi tới, lúc bước lui, mỗi nhón chân nhẹ nhàng, làm cho ta thấy như những đoá hoa sen đang nở dưới gót chân nghệ sĩ.

Hết đoạn múa, nghệ sĩ trở lại vị trí ban đầu như võ sĩ trong truyền thống Bình Định, sau khi đi hết bài quyền trở lại đúng vị trí ban đầu, trước khi « bái tổ »

Tiết tấu dồn dập. Tiếng trống mridangam nhỏ to (sollu) tiếng chân đập xuống sàn múa theo sát tiếng trống. Rồi đến phần solkattu, tiếng ca không lời chỉ dùng chữ nhạc trổi lên, điệu múa hoà theo.

Bạn xem kìa ! Đầu, mắt, vai, hông, tay, chân của Maria Karan, cử động theo giọng trầm bỗng của tiếng ca, nhịp điệu nhặt khoan của tiếng trống, khi uyển chuỵển khoan thai, khi say sưa dồn dập, sự hoà hợp của ba yếu tố nét nhạc, nhịp phách, động tác múa, thu hút người xem vào trong một không gian huyền diệu .

Tiếng vỗ tay từng chập của khán giả sau mỗi khúc mỗi đoạn và nhứt là sau khi tiết mục chấm dứt, vang dội rất to, rất dài để tán thưởng nồng hậu người nghệ sĩ tuổi nhỏ mà tài cao.

Bước sang phần Varnam trong đó kỹ thuật múa thuần túy nritta chen lẫn với cách múa diễn xuất nrittya. Bài múa này cũng do Thầy Krishnamurti dàn dựng.

Lời thơ là một bài ca ngợi Thần Shiva được Thầy Jamuna Krishnan biểu diễn, trong tiếng phụ hoạ của cả dàn nhạc :

maria kiran 5

Khi em nhìn Người, Shiva ơi !

Tim em nhảy liên hồi.

Em đã làm gì, Người ơi !

Để Người phải nổi trận lôi đình ?

Người có một nhản quang thứ ba

Người từ đâu đến đây ?

Người xoá tan nỗi khổ trên thế gian này.

Tại sao Người không như những Vị Thần khác ?

Thân của Người vừa là Nam vừa là Nữ

Những con rắn thần tô điểm thân Người

Người đẹp hơn Thần Ái Tình

Nhưng trong cơn nổi trận lôi đình

Người làm em phách tán hồn phi.

Mà tình em yêu Người vẫn sâu đậm vô biên

Shiva ơi ! Người đừng ngoảnh mặt chẳng nhìn em.

Shiva ơi ! Người lộng lẫy trong điệu múa của Người

Điệu múa ngàn Thu bất diệt !

Người sành điệu, qua những « mudra« , (dịch ra tiếng Hán là chữ Ấn) của hai bàn tay, những uốn mình, dậm chân, của nghệ sĩ, những liếc mắt chau mày, cũng hiểu được những lời tỏ tình với Thần Shiva. Ban tổ chức có sáng kiến cho rọi lời thơ dịch ra tiếng Pháp, trên màn ảnh nhỏ trước sân khấu, gần trần nhà, để cho khán giả không biết tiếng Ấn Độ cũng có thể theo dõi nội dung bài múa. Tôi rất may ngồi gần ông Roger, dưỡng phụ của cô Maria Kyran, có cả bản dịch của mấy bài thơ, nên tôi mới tạm phỏng dịch ra tiếng Việt để cho các bạn đi vào nội dung của những bài múa tuyệt vời trong truyền thống Bharatanatyam.

Sau tràng pháo tay kéo dài trong đôi ba phút, Kyrian đã phải trở ra sân khấu tiếp tục múa khúc Padam.

Padam thường là một bài thơ hay một đoạn của Trường Ca Ramayana. Nghệ sĩ phải vừa múa vừa diễn xuất theo lời thơ hay cốt chuyện, trong tiết tấu hoãn điệu (chậm) hay bình điệu (không quá chậm, mà cũng không mau).

Hôm nay, bài múa do Thầy Jamuna Krishnan dàn dựng. Cô Maria Kyran múa đoạn Rama và em trai Lakhsmana đi ngang hoa viên của đền Vua nước Mithila. Rama gặp công chúa Sita lần đầu. Chàng như choá mắt vì khuôn mặt đẹp của Nàng đôi khi bị mái tóc phủ che như vừng trăng tròn thỉnh thoảng núp sau mây.

Nàng là ai ? Nàng tên chi ?

Có phải Lakshmi hay không ?

Không! Nàng đẹp hơn Lakshmi.

Ta và Nàng có lẽ gặp nhau từ kiếp trước.

Và kiếp nầy biết đâu lại có được cơ duyên ?

Lahksmana gọi :

« Rama đại huynh ơi !

Sao anh chần chừ nấn ná vậy ?

Ta đi anh nhé !

Nếu diễn kịch không lời, chỉ cần ra bộ để diễn tả tâm tình. Nhưng múa Bharatanatyam, phải tạo động tác diễn tả đúng nội dung,còn phải đẹp trong hình thức. Bàn tay bắt ấn theo các  » mudras « , chân nhịp đúng với tiếng trống mridangam. Vì thế múa « natya  » tổng hợp những yếu tố đó, khó hơn múa thuần túy nritta. Qua sự diễn xuất của Maria Karan, khán giả thấy rõ khuôn mặt si tình ngơ ngác của Rama, ngây thơ và ngạc nhiên của Sita.

Và quá tuyệt vời khi cô múa theo lời thơ do Mẹ Teresa sáng tác (bài múa do Bà Vidya dàn dựng theo lời thơ), Kyrian múa để tạ ơn và tôn vinh Thầy Vidya và cũng như chuyển một thông điệp của Mẹ Teresa, người tu sĩ đức độ như một vị Thánh đến với tất cả mọi người .

Bài kinh ấy được Nhà văn Dominique Lapierre dịch ra tiếng Pháp và rọi lên trên màn ảnh nhỏ :

Đời là vận may, hãy chụp lấy nó

Đời là vẻ đẹp, hãy chiêm ngưởng nó

Đời là cực lạc, hãy thưởng thức nó

Đời là giấc mộng, hãy biến nó thành sự thật

Đời là một cuộc thử thách, hãy đương đầu với nó

Đời là một bổn phận hãy làm tròn nó

Đời là một trò chơi, hãy cùng chơi với nó

Đời rất quí giá, hãy chăm sóc nó

Đời là của cải hãy giữ gìn nó

Đời là tình yêu hãy tận hưởng nó

Đời là một bí mật, hãy khám phá nó

Đời là một lời hứa, hãy thực hiện nó

Đời là một nỗi buồn, hãy vượt qua khỏi nó

Đời là một thánh ca, hãy hát nó

Đời là một cuộc đấu tranh, hãy chấp nhận nó

Đời là một bi kịch hãy ôm ngang lưng nó

Đời là một cuộc phiêu lưu hãy dấn thân vào nó

Đời là hạnh phúc, hãy làm sao cho xứng đáng với nó

Đời là cuộc sống hãy bảo vệ nó.

Maria Kiran múa theo từng câu, không rộn ràng sôi nổi, mà chững chạc trầm tư. Tiết tấu đều đăn khoan thai theo bình điệu.

Một khoảnh khắc mơ màng, ta như rời khỏi cõi trần bay lần đến không trung.

Sau tràng pháo tay, nhạc trổi lên, dồn dập, Maria Kyran vừa vào hậu trường đã phải trở ra sân khấu. Cô dã liên tục múa từ 8 giờ rưỡi tối đến giờ, tôi băn khoăn không biết sức đâu chịu nổi.

Tươi cười, bước chân thoăn thoắt trên sàn múa, Kyrian như bay, toàn thân theo nhịp điệu của tiếng trống mridangam thúc dục trong đoạn Tillana, một vũ điệu rộn rã, như phách dồn sau đoạn phách khoan trong truyền thống ca trù, như bài Tẩu mã kết thúc 10 bài ngự trong Nhã nhạc cung đình Việt Nam.

Trong tiết mục Tillana, nghệ sĩ múa lần lượt chấp tay cúi đầu chào mỗi nhạc công ca sĩ để tạ ơn, và hai bên có một phút đối thoại bằng tiềt tấu, chân đập sàn, tay vổ trống, miệng mỉm cười.

Rồi tất cả nghệ sĩ trên sân khấu chào khán giả qua khúc Mangalam.

Khán giả đứng dậy, vỗ tay, trong phòng vang dậy tiếng Bravo !

Tôi như tỉnh giấc mơ, từ thiên đình trở về hạ giới, trong lòng vô vùng xúc động khi nhớ tới một nghệ thuật múa tinh vi, bắt nguồn từ ngàn năm trước, đời này truyền sang đời nọ, mà nay còn sống mãi, sống mạnh, trong đôi tay đôi chân, thân hình, và trái tim của một cô gái tuổi vừa quá đôi mươi.

Trần Văn Khê 2003

Chú thích

Để diễn tả tình cảm, nhạc sĩ dùng âm thanh, hoạ sĩ dùng màu sắc, thi sĩ dùng ngôn từ, thì nghệ sĩ múa dùng động tác của tay chân và cả thân hình của mình.

Truyền thống múa Ấn Độ rất phong phú : Katak miền Bắc, Manipuri miền Đông, BharatanatyamOdessi miền Nam. Ngày nay nghệ sĩ đi biểu diễn trên thế giới múa KatakBharatanatyam thường nhứt.

Mỗi điệu múa có ba loại :

  1. nritta (múa thuần túy) : Chú trọng tạo những động tác thật đẹp bằng tay, chân và thân hình, ăn nhịp với âm nhạc. Để ý đến cách trụ bộ, đứng, đi, nhảy.
  2. nritya (múa diễn xuất tình cảm ) : Ngoài tay chân còn phải để ý đến cặp mắt và lông mày. Người múa phải diễn tả được nội tâm : thương yêu, gợi tình, lòng trắc ẩn, hóm hỉnh, ngạc nhiên, buồn, sợ, gớm, bình tỉnh, thanh thản . Như chúng ta thường nói phải đủ hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục .
  3. natya : diễn xuất theo lời thơ hay một câu chuyện, thường thì diễn một đoạn trong trường ca Ramayana hoặc Mahabharata.

Dàn nhạc phụ hoạ gồm có :

– Một   người ca, quan trọng nhứt. hoặc xướng âm bằng những chữ nhạc Sa, Ri, Ga, Ma, Pa, Dha, Ni, Sa thành câu nhạc có tiết tấu đơn giản hoặc phức tạp, hoặc thuật những câu chuyện bằng những bài ca có đối thoại, theo những điệu thức và những tiết tấu thông dụng trong truyền thống nhạc « Carnatic » miền Nam. Tối thiểu có một người ca, nhưng thường hai người thay phiên nhau ca.

– Một người thổi sáo murali,

– Một ngưởi đàn violon theo phong cách Ấn độ miền Nam,

– Và một người đánh trống mridangam, loại trống cơm miền Nam Ấn Độ.

Khi tôi đến New Delhi để tìm hiểu ca, vũ nhạc truyền thống Ấn Độ năm 1968, bạn tôi, Tấn sĩ Narayana Menon có nhờ bà Kapila Vatsayan , một Giáo sư chuyên dạy các điệu múa Ấn Độ, về lý thuyết và thực hành, giảng cho tôi những điểm căn bản cần biết về nghệ thuật múa trong truyền thống Ấn Độ. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe bà nói rằng trong quyển sách Natya-sastra về kịch nghệ trong đó có các vũ điệu, tác giả Abhinava Gupta, từ thế kỷ thứ 10, có ghi 67 động tác cho bàn tay, 32 động tác cho chân, và tay, chân và thân hình trộn lại có đến 108 động tác. (108 như số hột bồ đề trong tràng hạt của các nhà sư)

Trong nghệ thuật múa, phải chú trọng đến việc chia sân khấu ra thành nhiều không gian múa, phải có đồng thế trong sự di chuyển, phải biết chọn lựa màu sắc áo, phải tập luyện công phu để có những thế trụ bộ, tướng đi, dáng đứng, tay múa, chân bước, biểu diễn nhuần nhuyễn tất cả « mudra » (tay ấn), biết rành các điệu thức, biết chia nhịp, chẻ nhịp, thuộc lòng tuồng tích.

Một chương trình múa Bharanatyam thường có 5 phần :

Alarippu : Dâng hoa cho một vị Thần. Trụ bộ, và múa thuần túy

Jatisvaram : đối thoại bằng tiết tấu giữa người múa và người đánh trống, hay giữa người múa và người ca. Từ đơn giản đến phức tạp.

Varnam : Có phần múa thuần túy xen kẻ với múa diễn xuất. Người dàn dựng và biểu diễn bài múa, phải phân tách nội dung lời bài ca hay bài thơ không chỉ ở cấu trúc của câu văn, mà cả nội dung của bài về mặt triết lý hay siêu hình.

Padam : Không sử dụng múa thuần túy mà chỉ có múa diễn xuất, theo một bài thơ, hay một câu chuyện rút trong thần thoại, hay có thể là một câu chuyện tình. Thuờng thì múa chậm rãi.

Tillana : Múa sôi động để kết thúc và người múa chào từng nhạc sĩ để cám ơn và đối thoại với mỗi nhạc sĩ bằng tiết tấu.

Mangalam : Tất cả nghệ sĩ trên sân khấu chào khán giả.

Các bạn có thấy chăng ? « Nghề chơi cũng lắm công phu. »

maria kiran 6