Tous les articles par tranquanghai130544

Ethnomusicologist, Musician, Composer Former Researcher of the National Center for Scientific Research, FRANCE Traditional Musician , Expert of Overtone Sìnging, Jew's Harp, Spoons

Jason Gibbs Bài Tây, bài ta: Khúc dạo đầu và chuyển thể của ca khúc phổ thông Tây phương ở Việt Nam trước 1940 Nguyễn Trương Quý dịch 1

© www.talawas.org     |     về trang chính

tìm 
(dùng Unicode hoặc không dấu)tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z

Nghệ thuậtÂm nhạc29.3.2006 Jason Gibbs Bài Tây, bài ta: Khúc dạo đầu và chuyển thể của ca khúc phổ thông Tây phương ở Việt Nam trước 1940 Nguyễn Trương Quý dịch  12Bài ta theo điệu Tây

Mặc dù bài hát Tây tiếp tục được các nghệ sĩ cải lương hát một cách chuyên nghiệp, khuynh hướng đặt lời Việt cho chúng đạt được sức mạnh trong hướng đi mới nảy sinh khi những người không phải nhạc sĩ hay dân tài tử bắt đầu viết lấy lời. Khuynh hướng mới ra đời này xuất hiện từ sự quan tâm đến việc diễn đạt thơ ca khi những người viết dùng những bài hát nước ngoài mà họ yêu thích như một phương thức chính thống để thể hiện năng khiếu văn chương của mình. Từ cuối năm 1934 đến đầu năm 1936, những hoạt động như thế xuất hiện đều đặn trên các báo Hà Nội được bạn đọc trên khắp các tỉnh miền Bắc Việt Nam và Lào gửi đến. Trào lưu này được gọi là “bài ta theo điệu Tây.” Lời ca cũng được xuất bản thành những tuyển tập trong các cuốn sách bỏ túi mỏng và đưa vào bìa của những cuốn tiểu thuyết 10 xu (Tô Vũ và nhiều tác giả. 1977: 88).

Dù chắc chắn là một hành động đua tranh với thành công của những bài hát trên sân khấu cải lương, những hoạt động như thế còn phản ánh những thực tế khác. Thông qua việc giáo dục của mình ở các trường dòng cùng các trường bảo hộ khác và hoạt động hướng đạo, thiếu niên Việt Nam học hát tập thể theo kiểu Tây phương. [1] Có một sự quan tâm tăng lên từ phía những người thanh niên Tây học khi tiếp cận các nhạc cụ Tây phương như guitar, Hawaiian guitar, mandolin và banjo. Vì ít người Việt có lợi nhuận từ việc hướng dẫn bài bản những nhạc cụ này, họ thay vì dạy cho nhau cách chơi nhiều giai điệu thì bắt đầu đi đến thưởng thức qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Những người thanh niên Việt Nam giàu lòng hâm mộ này đi xem những bộ phim ca nhạc Pháp và nghe những đĩa nhạc, nhiều khi đứng ngoài cửa hàng bán đĩa hàng giờ đồng hồ để nghe một buổi phát công cộng. Họ học thuộc lòng những bài hát phổ thông Pháp mới nhất sau khi chỉ nghe chúng một vài lần, chép lại vào sổ tay và chia sẻ với bạn bè (Tú Ngọc và nhiều tác giả. 2001: 44-45; Nguyễn Đình Hòa 1999: 97-99; Doãn Mẫn 1984: 8).

Nhân vật tạo nên ấn tượng riêng lớn nhất trong giới sinh viên Việt Nam cuối những năm 1930 là ca sĩ tenor Tino Rossi người Pháp gốc đảo Corse. Rossi là một gương mặt có tính ngoại lai đối với người Pháp, vốn là một thần tượng tuổi mới lớn chủ yếu của các nước nói tiếng Pháp vào thời đó, anh có một giọng hát chứa đầy vẻ lãng mạn Địa Trung Hải ấm nóng (Rioux 1966: 62-63). Giống như người Pháp, thanh niên Việt Nam thần tượng hoá Rossi và thậm chí đã thành lập hội ái Ti-nô. [2] Một ca khúc của Tino Rossi đã làm mưa làm gió ở Việt Nam là Marinella, ra đời trong bộ phim năm 1936 cùng tên. Vào cuối năm 1936, bộ phim được chiếu tại một rạp ở Hà Nội với quảng cáo “sẽ hiến bạn những điệu hát mê hồn du dương mà trước đây các bạn chỉ được nghe trong những đĩa hát” (quảng cáo đăng trong Đông Pháp 5 décembre 1936: 5). Lời của bài hát nói về một đêm khiêu vũ khoái lạc say sưa trong “điệu rumba yêu đương” (Ví dụ 6).

Ví dụ 6:Marinella, nhạc của Vincent Scotto, lời của René Pujol, E. Audiffred và George Koger (Scotto và các tác giả. 1936)

Marinella! Ôi, hãy ở trong tay anh lần nữa.
Anh muốn ở bên em, cho đến khi trời sáng, để nhảy điệu rumba yêu đương.
Nhịp điệu ngọt ngào đưa ta đi xa, xa khỏi mọi thứ,
Đến một miền đất lạ, miền đất đẹp trong những giấc mơ xanh.
Hãy nép mình vào vai anh,
Trong khi tay ta nắm nhẹ, anh nhìn vào đôi mắt quyến rũ của em
Một ánh nhìn tràn đầy vị ngọt ngào, và khi trái tim ta hoà quyện
Anh chẳng còn biết gì hơn trên thế gian này.

Marinella! Ah… reste encore dans mes bras.
Avec toi je veux, jusqu’au jour, danser cette rumba d’amour
Son rythme doux nous emporte bien loin de tout,
Vers un pays mystérieux, le beau pays de rêves bleus.
Blottie contre mon épaule,
Tandis que nos mains se frôlent, je vois tes yeux qui m’enjôlent
D’un regard plein de douceur et quand nos coeurs se confondent
Je ne connais rien au monde de meilleur.

Một bản lời Việt năm 1938 cho giai điệu của Marinella có tên Sao nỡ chia phôi, tạo ra một chủ đề mới hơi khác so với nguyên bản (Ví dụ 7).

Ví dụ 7: Sao nỡ chia phôi: Lời Việt của Đức Sê-Lô (1938: 5-6).

Đàn chim tung cánh cùng nhau say đắm bay trên khoảng xanh
Và ca ríu rít trong mây thanh mà vui với gió mát tươi trời xuân
Nhìn chim thêm nhớ tình yêu em thắm khi xưa ngây thơ
Cùng anh em sống xướng vui tháng năm
Lòng thơ vương vấn mối dây ái ân

Mà ngày nay, than ôi! trong đêm năm canh
Con tim kêu tan thương nhớ ai?
Hàng châu tuôn rơi, em đau khóc anh nỡ xa em
Xa nơi ái ân đắm say
Còn đâu khi chúng ta kề vai nỉ non thiết tha
Mà anh đã phương trời xa khuất

Mồ anh hương khói vờn bay quanh chôn lan nơi xa xôi
Hồn linh anh thư thái cuốn non mây
Người thương anh… nước mắt anh đương xa… rơi

Ở đây Marinella đã đi từ một đam mê của đêm thâu thành chuyện một nỗi đau của một người phụ nữ khóc than cho người tình đã mất, có ảnh hưởng Phật giáo trong hình ảnh làn khói hương trầm bay cuộn trong không trung. Một lời khác của Marinella có tên Tiếng lòng, do một nhà soạn lời từng viết rất nhiều thời cuối những năm 1930, Nguyễn Gia Thắng (Ví dụ 8).

Ví dụ 8:Tiếng lòng: lời Việt của Nguyễn Gia Thắng (1938a: 12-13.)

Tình nương Mai Hương! Nào em đâu biết những khi đêm trường,
Mình anh tê tái cô nên? Con tim, hồn mơ như muốn tới bên mình em.
Lại đây Mai Hương! Lại đây xao [động] những vết thương trong lòng;
Vì em – em hỡi – dưới ánh trăng thâu, buồn đau, anh nghĩ xót xa, âu sầu.

Mà người yêu anh đâu hay, than ôi!
Em đâu hay bao đêm mưa xuân rơi, khi em đang say sưa yên trong mơ
Anh đi lang thang như bơ vơ ngắm nhìn mây theo hơi xuân vi vu
Nghe xa xăm cao đưa bi ai bài đàn sầu du.

Những lời này được đặt ra không phải là về một Marinella, mà lại dành cho một cô gái tên Mai Hương. Thay vì gắn chặt với những đam mê của lời tiếng Pháp, lời Việt nói về một sự ngây thơ, sự khao khát đơn phương và “những vết thương xao [động]” trong tim người kể chuyện.

Những bài hát như Marinella có giai điệu không giống như bất kỳ bài nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Giai điệu truyền thống chủ yếu là ngũ cung và thiếu thang âm gam và những bộ chùm ba nốt thông dụng trong nhạc Tây. Nhạc sĩ Thẩm Oánh (1936: 3) viết một bài luận về một số điểm khác nhau giữa bài hát ta và bài hát Tây có tên Nói qua về về bài hát ta theo điệu Tây. Ông viết rằng khi viết lời Việt cho giai điệu nhạc Tây thì người viết phải chú ý đến “vần” của ca từ. Lời mang vần điệu là một vấn đề ngữ âm học đa dạng và thú vị. Ông còn cảnh báo thêm về việc dùng bài hát có nhịp điệu quá nhanh, như thế lời của chúng sẽ trở nên quá khó để nghe khi chuyển thể sang tiếng Việt.

Lời của Nguyễn Gia Thắng đặt cho Marinella minh hoạ chính xác cho những rào cản này. Khổ thơ bốn câu mở đầu bài được đặt lời khá tự nhiên vì giai điệu nguyên thuỷ có đường nét đổi chiều và pha trộn nhịp điệu giữa các trường độ dài và ngắn. Đoạn hai của khổ lời được viết cho một giọng nhanh liến thoắng với các nốt móc lặp lại trên những độ cao không thay đổi, khi hát bằng tiếng Việt vừa khó hát vừa khó nghe. Nguyễn Gia Thắng xoay xở một cách khôn ngoan khi dùng một chuỗi 29 từ liên tiếp cùng một thanh, một kết quả cho việc loại trừ những từ dùng năm thanh còn lại của tiếng Việt. Với việc dùng đơn thanh như thế, kết quả lời thơ không thể như ý và đưa đến ấn tượng quá đà về một trò chơi chữ.

Những bài hát Pháp cùng với việc giới thiệu phim đã mở ra một cửa sổ nhìn ra một thế giới bên ngoài sống động. Nhà nghiên cứu dân gian Toan Ánh (1970: 245) đã viết về thế hệ lớn lên trong những năm 1930 đã bị loại nhạc này lôi cuốn ra sao, “có thể vì âm nhạc mới lạ, nhưng cũng lại vì những lời ca nồng cháy của những mối tình đầy xác thịt.” Những bài hát này “khác hẳn những bài hát Việt Nam cũng ca ngợi tình ái, nhưng ở đây là mối tình êm đềm kín đào mà thắm thiết.” Cả hai lời đặt cho bài Marinella nói trên, mặc dù không giống với nguyên bản tiếng Pháp, nhưng đã phản ánh một thẩm mỹ hiện đại tân thời bắt rễ trong lối sống ở Việt Nam. Việt Nam như ta biết, từng là một xã hội Nho giáo có tính làng xã và bảo thủ. Trong những năm 1930, một trào lưu văn học mới nảy nở cổ vũ cải cách xã hội, để cho thanh niên thoát khỏi những tập tục cổ truyền cứng nhắc. Sự tự do phá vỡ truyền thống mới sinh ra này dù không thể tạo ra một lời ca lôi cuốn cuồng nhiệt như bản tiếng Pháp của Marinella nhưng cũng sản sinh được một lời ca của khát vọng cá nhân như Tiếng lòng.

Vào năm 1940 việc đặt lời Việt cho những điệu Tây về cơ bản đã hạ nhiệt. Có hai yếu tố dẫn đến sự đi xuống của trào lưu này. Thứ nhất là sự cách ly gián đoạn của Việt Nam với văn hoá đại chúng ở nước Pháp mẫu quốc do Đại chiến Thế giới II. Yếu tố còn lại là một trào lưu mạnh mẽ mới từ người Việt – sáng tác những bài hát gốc của chính mình. Việc dùng những giai điệu Tây phương đã bắc một nhịp cầu cho một hình thức ca khúc Việt Nam mới được gọi là nhạc cải cách (Gibbs 1998). Đầu năm 1936, Thẩm Oánh khi viết về việc đặt lời cho giai điệu bài hát Pháp đã hi vọng tìm ra được một “Tino Rossi của Việt Nam”15. Và cũng từ cuối năm đó, ông và một nhạc sĩ bạn bè đã băn khoăn về việc người Trung Quốc và Nhật Bản đã tự sáng tác được bài hát của riêng họ, tại sao Việt Nam lại không thể? (Dương Thiệu Tước 1963: 92). Sự thay đổi trong quan điểm này từ trong số những người Việt đã báo hiệu sự kết thúc của trào lưu “bài ta theo điệu Tây,” và đánh dấu một sự dấn thân tạo nên một truyền thống mới: người Việt Nam sáng tác những bài hát của chính mình.


Kết luận

Đến bây giờ, bất chấp sự phổ biến của mình, tình trạng “con nuôi” của những bài hát Tây trở thành vấn đề đối với những nhà phê bình văn hoá Việt Nam, khi nó thể hiện cả sự bùng nổ của những sắc màu âm nhạc mới lẫn sự đe doạ đối với âm nhạc truyền thống. Chính quyền Việt Nam hiện nay từ lâu đã nhìn nhận sự tràn ngập của âm nhạc Tây phương với sự lo ngại, đặc biệt những gì được đem vào trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Cùng lúc đó họ lại hoan nghênh việc vay mượn những nhịp hành khúc của La MarseillaiseL’Internationale diễn ra vào những năm 1920 và 1930. Họ tìm thấy trong loại nhạc này ý tưởng để thể hiện tinh thần tiến lên và cách mạng của chủ nghĩa cộng sản và truyền sức sống cho nhân dân trong cuộc đấu tranh chống thực dân. [3]

Kartomi (1981), khi nghiên cứu về kết quả của tiến trình giao thoa âm nhạc, giải thích sự có mặt của thể thức âm nhạc ngoại lai là kết quả của các mức độ chuyển hoá loại nhạc đó. Nhạc truyền thống và các thiết chế âm nhạc có thể được biến đổi theo các thành tố âm nhạc bên ngoài, nhưng cũng còn vì nguyên lý thẩm mỹ của thứ nhạc ngoại này. Nói cách khác, những loại hình âm nhạc không phải bản địa sẽ đem lại những ý nghĩa ngoài âm nhạc khi chúng được nền văn hoá mới này chấp nhận. Vì thế những bài hát Tây, khi được cấy ghép trên mảnh đất Việt Nam, không còn mang cùng ý nghĩa như khi chúng ở đất quê hương. Kartomi nhận xét tiến trình này giống như một cuộc chuyển giao văn hoá và chỉ ra hai yếu tố ngoài âm nhạc mà chúng dường như có liên quan đến việc chuyển thể lời Việt cho nhạc Tây – “ánh hào quang của thanh thế văn hoá thực dân trong bối cảnh thuộc địa” và “ưu thế vật chất và chính trị, hay là uy lực của kỹ nghệ thương mại” (244-245).

Người Việt Nam chấp nhận nhạc ngoại ở một số điểm vì địa vị cao của nó, và tính chất hiện đại gợi ý cho người dân thuộc địa cố gắng thoát khỏi tình trạng lạc hậu mà họ ý thức được. Uy thế thuộc về nhạc Tây, tạo nên sự thúc đẩy chuyển từ âm nhạc và sân khấu truyền thống nơi ngoài trời và trong phạm vi gia đình sang sân khấu nhà hát có phông màn. Đối với tầng lớp thượng lưu mới được học từ các trường nói tiếng Pháp, nhạc Tây cũng là một thứ phụ tùng trang sức cần thiết cho những tham vọng của họ. [4] Bài hát Tây cũng đem lại cho thanh niên Việt Nam cơ hội để thể hiện năng khiếu văn chương thông qua việc viết lời cho phù hợp với các bài hát mà họ học theo và yêu thích.

Kỹ nghệ thương mại cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phổ biến của bài hát Tây. Những năm 1920 và 1930 là lúc những phương tiện truyền thông như bản nhạc, đĩa thu thanh, phim ảnh và đài phát thanh vào Việt Nam. Các đoàn và diễn viên cải lương đưa nhạc Tây vào trong tiết mục của họ rõ ràng đã thu được thành công lớn nhất về mặt tài chính. Họ trở thành những “ngôi sao” thực thụ đầu tiên của Việt Nam, trong chừng mực nào đó ganh đua với các ngôi sao được giới thiệu thông qua khu vực truyền thông của khối các nước nói tiếng Pháp, nhờ vào sự ăn khách và việc lên bìa các tạp chí và báo của công nghiệp báo chí mới đâm chồi ở Việt Nam. Thành công tài chính này tuy nhiên là nhờ vào sự lôi cuốn của âm nhạc đối với công chúng. Mặc dù có cả một bè điệp khúc của những người chối bỏ viết chỉ trích đầy rẫy trên các báo, vẫn có nhiều người Việt Nam đã mua vé xem hát, tậu đĩa nhạc và sáng tác lời bài hát, những việc đã duy trì sự phổ biến và sinh sôi của bài hát Tây.

Sức hấp dẫn một cách tự nhiên của loại nhạc ngoại lai “hương xa” (exotic) này là gì? Mới mẻ và sống động hơn thứ nhạc mà người Việt đã biết, nó mở ra những khả năng biểu đạt chưa từng có trước đó. Chỉ đến khi những người sáng lập nên sân khấu cải lương nhận thấy những hạn chế của quy tắc sân khấu truyền thống và phát hiện ra sức cuốn hút trong tính hiện thực của nghệ thuật diễn xuất cũng như kịch bản của Tây phương, tương tự như thế họ cũng đón nhận phạm vi biểu đạt rộng rãi mà bài hát Tây mang lại. Giai điệu truyền thống được xem như quá buồn bã và yếu đuối, trong bối cảnh đó nhịp độ sôi nổi của những bản hành khúc và nhịp nhảy Tây phương mang lại một giải pháp. [5] Tuy nhiên, phần lớn sự hấp dẫn của bài hát phổ thông Tây phương vẫn đến từ chính chất lượng âm nhạc của bản thân loại nhạc này. Tôi đã trò chuyện với nhiều người Việt Nam hiện ở tuổi 70 và 80 nhưng vẫn kể một cách lôi cuốn về lần đầu tiếp xúc với giọng hát ấm áp của Tino Rossi cùng những bài hát dễ nhớ của Vincent Scotto.

Khi người Việt bắt đầu viết ca khúc của mình, những bản lời đặt cho các bài hát phổ thông Tây phương sớm được coi như nhạc Việt Nam và chúng cũng có tư cách như vậy (xem Gibbs 1997). Như Kartomi đã nhận xét, những quan hệ chuyển giao văn hoá “hợp nhất một cách sáng tạo và vượt ra khỏi sự đối chọi có tính cục bộ của các dòng nhạc gốc để tạo ra một kiểu hay thể loại mới độc lập với tư cách của riêng mình được cộng đồng người liên quan chấp nhận coi như một hình thái âm nhạc của chính họ” (1981: 245). Thập niên 1920 và 1930, một thời kỳ khám phá và tranh đua, đã sinh ra những cuốn hút đầu tiên của sự pha trộn này và là một thời kỳ mà những tư duy mới được đưa ra. Loại nhạc đã gây chấn động mạnh đến một thế hệ như thế đã được đón nhận, chiếm lĩnh và thích nghi nồng nhiệt bởi thế hệ tiếp theo.

Trào lưu đặt lời ta cho bài hát Tây đã chứng tỏ bước đầu tiên đến với những loại hình âm nhạc hiện đang chiếm ưu thế ở Việt Nam ngày nay, tạo ra một môi trường sống động và đa dạng của âm nhạc mang ảnh hưởng Tây phương mà bản thân người Việt đã lựa chọn để tạo ra và nghe nó. Dù đây là khúc dạo đầu cho một truyền thống mới của việc người Việt viết bài hát cho mình, nó không hẳn đã là đoạn kết của việc vay mượn và chuyển thể. Hơn 70 năm qua, những ảnh hưởng âm nhạc bên ngoài như nhạc cổ điển, nhạc nhảy latin, jazz, rock, nhạc gây ảo giác, disco và cuối cùng cả nhạc rap đã cập bến Việt Nam, và đã từng được đón nhận cũng như từ chối tuỳ trường hợp. Trong mỗi trường hợp, người Việt Nam đã tìm những con đường để làm cho những ảnh hưởng âm nhạc bên ngoài này đáp ứng những nhu cầu sáng tạo của chính họ.


Tài liệu tham khảo

Allen, Warren Dwight. 1943. Our Marching Civilization. n.p.: Stanford University Press.

Arana, Miranda. 1999. “Neotraditional music in Vietnam” (Nhạc truyền thống mới ở Việt Nam), Nhạc Việt, 1-152.

Bousquet, L. and Robert, C.

  • 1917. Quand Madelon. Paris: L. Bousquet.
  • 1918. La Madelon, A. Bryan lời tiếng Anh. New York: Jerome K. Remick.

Claeys, J. Y. 1941. “Théatres indigènes,” Indochine: hebdomidaire illustrée 2/18, I-VII.

Coulonges, Georges. 1969. La chanson en son temps: De Béranger au juke-box. Paris: Les Éditeur Francais réunis.

Côn Sinh. 1933. “Lời ca bài ta theo điệu âm nhạc Tây,” Ngọ Báo (11 tháng 5), 1.

Dĩa Béka và máy Paillard. Saigon: Imp. J. Việt, 1940.

Dillaz, Serge. 1991. La chanson sous la troisième république 1870-1940. Paris: Tallandier.

Doãn Mẫn. 1984. Góp phần tìm hiểu sự hình thành nền âm nhạc cải cách Việt Nam. Hà Nội: Viện Âm nhạc.

Dương Thiệu Tước. 1963. “Bách Khoa phỏng vấn giới nhạc sĩ: Dương Thiệu Tước,” Bách Khoa 156 (15 tháng 8), 90-94.

Đào Lệ Hồng. 1933. “Kép Năm Châu,” Rạng Đông (2 tháng 9), 5.

Đắc Nhẫn. 1987. Tìm hiểu âm nhạc cải lương. Ho Chi Minh City: Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh.

Đặng Trọng Duyệt. 1933. “Điệu hát Tây trong lời hát cải lương,” Rạng Đông (29 tháng 7), 6.

Đông Pháp (17 tháng 1936), 3.

Đông Pháp (5 tháng 12 1936), 5.

Đức Sê-Lô. 1938. “Sao nỡ chia phôi,” trong Tiếng hát tuyệt vời: một tập hát Tây rất mới. Hanoi: Imprimerie Thái Bình Dương: 5-6.

Le FigaroElle est à vous aux Nouveautées” (22 tháng 1 1922), 8.

Gibbs, Jason.

Guerard, M. 1823. Thư ngày 12 và 13 tháng Giêng. Trong tập Nouvelle lettres édifiantes des missions de la Chine et des Indes Orientales. số 8. Paris: Ches Ad. Le Clerc, Imprimeur de S. Em. Mgr. Le Cardinal Archevêque de Paris.

H.C. 1933. “Critique théâtrale,” La Tribune Indochinois (31 tháng 3), 1.

Hoàng Đạo Thúy. 1943. Đời của tôi. Hanoi: Liên hội Hướng đạo Việt Nam.

Hoàng Tâm. 1935. “Chấn hưng môn diễn kịch và ý kiến của tài tử Năm Châu,” Đuốc Nhà Nam 21-22 tháng 5, 3.

Hocquard, C. E. 1892. Une campagne au Tonkin (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ). Paris: Librarie Hachette et Cie.

Hồng Chương 1981. Tổng luận về Văn học cách mạng (1925-1945), tập 31. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Huỳnh Thư Trung.

  • 1933. Bài ca theo bản Tây. Cholon, Vietnam: Phạm Đình Khương.
  • 1938. Ai là bạn chung tình. Saigon: Nhà xuất bản Phạm Văn Thỉnh.

Kartomi, Margaret J. 1981. “The Processes and Results of Musical Culture Contact: A Discussion of Terminology and Concepts,” (Tiến trình và kết quả của tiếp xúc văn hoá bằng âm nhạc: thảo luận về thuật ngữ và khái niệm) Ethnomusicology vol. 25, no. 2 (tháng 5), 227-249.

Khai hóa Nhật báo (19 tháng 6 1925), 3.

Kịch trường Tạp chí “Trưng Vương hùng binh” (12 tháng 4 1927), 21-22

Lê Đình Vượng. 2003. “Người chiến sĩ với bài ca ‘Cùng nhau đi hồng binh’,” Nhân Dân (In lần đầu trên Hà Nội mới). [http://www.nhandan.org.vn/today/cungnhaudihongbinh.htm].

Lưu Hữu Phước. 1988. Âm nhạc và cuộc sống. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

Milton, Georges.

  • 1995 (1929). “Pouett, Pouett!” on Vive le Music Hall. Paris: Pharaon
  • 125241-2 [đĩa CD].

Nam Kiều. 1925. “Ca nhạc tây và ca nhạc ta,” Đông Pháp thời báo (4 tháng 3), 1.

Nguyễn Đình Hòa. 1999. From the City Inside the Red River: A Cultural Memoir of Mid-Century Vietnam (Từ thành phố trong sông Hồng: Hồi ký văn hoá về Việt Nam giữa thế kỷ). Jefferson, NC: McFarland.

Nguyễn Gia Thắng.

  • 1938a. Bạn cầm ca. Hanoi: Hương Sơn Đường.
  • 1938b. Shaarieng: Tiếng hát gợi tình. Hanoi: Hương Sơn xuất bản.
  • 1940. Những điệu nhớ thương. Hanoi: Hương Sơn xuất bản.

Nguyễn, Phong. T. 1998. ‘Vietnam,’ Southeast Asia. Garland Encyclopedia of World Music, vol. 4. ed. T. E. Miller and S. Williams. New York: Garland Publishing, Inc.: 444-517.

Nguyễn Tấn Phát.

  • 1935a. “Một trào lưu mới trong kịch giả nước ta: bài ca quốc ngữ theo giọng tây,” phần 1 Đuốc Nhà Nam (16 tháng 5), 3.
  • 1935b “Một trào lưu mới trong kịch giả nước ta: bài ca quốc ngữ theo giọng tây,” phần 2 Đuốc Nhà Nam (23 tháng 5), 3.

Nguyễn Thành Châu. 1941. “Nam-Chau a Hué: Evolution du Théatre annamite,” La Tribune Indochinois (20 tháng 1), 3.

Nguyễn Thị Kiêm.

  • 1934a. “Điệu hát cải lương ta,” (phần 2) Phụ nữ Tân Văn (11 tháng 1), 5-6.
  • 1934b. “Điệu hát cải lương ta,” (phần 3) Phụ nữ Tân Văn (18 tháng 1), 7-9.

Nguyễn Văn Tệ.
1925. Châu Trần tiết nghĩa. Hanoi: Imprimerie Chan-Phuong.

Nguyễn Văn Tý. 1995. “Đôi điều bàn luận,” Âm Nhạc (số đặc biệt), trang 46-48.

Nguyễn Xuân Khoát. 1933. “Lời hát bài ta theo điệu Tây có hợp mỹ thuật không?” Ngọ Báo (14 tháng 7), 1

Nhị Lang. 1933. “Ngu dốt vậy thay, anh công tử ấy.” Rạng Đông (9 tháng 9), 5.

Phạm Duy.

  • 1975. Music of Vietnam. Carbondale, IL: Southern Illinois University Press.
  • 1990. Hồi ký: thời thơ ấu – vào đời. Midway City, CA: Pham Duy Cuong Productions.

Phạm Văn Xung. 1938. Đời vui sướng. Hanoi: Imprimerie Thai Phi.

Phụ nữ Tân Văn (5 tháng 6 1930), 20.

Reyes, Adelaida. 1999. Songs of the Caged, Songs of the Free: Music and the Vietnamese Refugee Experience. Philadelphia: Temple University Press.

Rioux, Lucien. 1966. 20 ans de chansons en France. Paris: Arthaud.

Romi. 1967. Gros succès et petits fours. Paris: Editions SERG.

Scotto, V., Pujol, R., Audiffred, E., and Koger, G. 1936. “La Marinella.” Paris: Éditions Salabert.

Sỹ Tiến. 1984. Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

Sỹ Tiến và Kim Chi. 1937. Ca xã hội: bản hát ta, điệu Tây mới. Hanoi: Hương Sơn ấn hành.

Tai, Hue-Tam Ho. 1992. Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Thẩm Oánh.

  • 1936. “Nói qua về bài hát ta điệu Tây,” Đông Pháp (26 tháng 6), 3.
  • 1948. “Lịch trình tiến hóa của nền âm nhạc cải cách Việt Nam,” Việt Nhạc 4 (1 tháng 10), 2; 17.

Toan Ánh. 1970. Cầm ca Việt Nam. Saigon: Lá Bối.

Tô Vũ, Chí Vũ, và Thụy Loan. 1977. “Âm nhạc phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam như thế nào,” Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật 17, 78-90.

Tràng An. 1935. “Đông, Tây có thể gặp nhau ở những bài hát khác đờn không?” Đuốc Nhà Nam (9 tháng 5), 3.

Trần Văn Khê.

  • 1962. La Musique vietnamienne traditionnelle. Paris: Presses Universitaire de France.
  • 1997. Tiểu phẩm. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ.

Trần Văn Khê & Nguyễn Thuyết Phong. 2001. “Vietnam, Socialist Republic of,” New Grove Dictionary of Music and Musicians vol. 26, edited by Stanley Sadie. (New York: Grove): 588-597.

Trúc Đỳnh. 1933. “Tiếng gọi của Đồng Nai,” Rạng Đông (8 tháng 7), 6.

Trương Bình Tỏng. 1997. Nghệ thuật cải lương: những trang sử. Hà Nội: Viện Sân khấu.

Tuấn Giang. 1997. Ca nhạc và sân khấu cải lương. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc.

Tư Chơi. (Huỳnh Thư Trung). 1936. Những khúc du dương. Hanoi: Imp. Vạn Tường.

Tư Chơi và Kim Thoa. 1938. Những khúc du dương, tập. III. Hanoi: Hương Sơn ấn hành.

Tư Chơi và Sỹ Tiến. 1938. Những khúc du dương, tập II. Hanoi: Hương Sơn Đường.

Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh và Thái Phiên. 2000. Âm nhạc mới Việt Nam: Tiến trình và thành tựu. Hà Nội: Viện Âm nhạc.

Ung Qua (Ưng Quả). 1932. “Il ya a une renaissance annamite,” La Tribune Indochinoise (10 tháng 8), 4.

Vương Hồng Sển. 1968. Hồi ký 50 năm mê hát. Saigon: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai.


Bản tiếng Việt © 2006 talawas


[1]Những bài hát hướng đạo sinh là một yếu tố rất có ảnh hưởng trong giáo dục âm nhạc phổ thông đối với những người Việt lớn lên trong những năm 1920 và 1940. Giai điệu của bài hát theo phong trào hướng đạo sinh quốc tế, với những bài hát dân ca Pháp như Frère Jacques, Au clair de la lune, v.v…, đã được dùng để dạy các hội tập hát. (Phạm Văn Xung 1938). Giống như phong trào Cộng sản, các hướng đạo sinh đề cao những giai điệu sống động, có tính hành khúc. “Âm điệu mạnh, làm cho người ta vui sống, khỏe chí-khí, ý cao-thượng nuôi được tinh thần” (Hoàng Đạo Thúy 1944: 50).
[2]Một nhạc sĩ trẻ Việt Nam là Canh Thân, chú của Ái Liên, chơi guitar Hawaii trong một số đĩa Béka của cô, một dạo mang tên biểu diễn là “Tino Thân” (Phạm Duy 1990:100). Một tác giả trẻ khác là Lưu Hưu Phước, sau là một trong số những nhạc sĩ cách mạng hàng đầu và là Bộ trưởng Văn hoá Thông tin của Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam, đã sáng tác 3 bài là Je t’aime Marilou, Adieu Marilou, và Je mourrai Marilou, đều dựa vào nhạc phẩm đỉnh cao của Tino Rossi Tango pour Marilou vì sự lôi cuốn của nó (Trần Văn Khê 1997: 78).
[3]Ngày nay những ca khúc kháng chiến theo kiểu này được chính thức xem như một hình thức âm nhạc truyền thống. Một cuốn sách lịch sử âm nhạc Việt Nam thế kỷ 20 dày 1000 trang gần đây của một viện nghiên cứu nhà nước được in ra, nhìn lại trào lưu “bài ta theo điệu Tây” mô tả nó vừa là một cuộc xâm lược của nhạc ngoại vừa là những bước đầu của quá trình “Việt hoá” của dòng âm nhạc nước ngoài này (Tú Ngọc và nhiều tác giả. 2000: 52).
[4]Trong những năm 1920 và 1930, hơn 90% người Việt Nam sống ở nông thôn, văn hoá Tây phương chủ yếu gây ảnh hưởng mạnh ở một bộ phận thanh niên thành thị, thường là Tây học, làm việc cho nhà nước thuộc địa và trở thành một tầng lớp trung lưu mới với những công chức địa vị thấp hơn (Tai 1992: 38-39).
[5]Trong trường hợp Việt Nam, sức hấp dẫn thẩm mỹ của nỗi buồn được chứng minh là rất có trọng lượng. Như ví dụ 7 trên đã cho thấy, lời ca về tình yêu tan vỡ vẫn viết được cho dù với những bài hát sôi động nhất. Nghiên cứu của Reyes đã chứng minh, “bài ca sầu” vẫn chiếm một vị trí ưu thế trong âm nhạc đại chúng Việt Nam (1999).

Nguồn: Tạp chí Âm nhạc Á châu (Asian Music), Volume XXXV, Number 1, Fall/Winter 2003/2004

Prof. Antonio GIACOMETTI, director of Conservatory of Music in Modena, Italy / Appreciation, 26.10.2019

A wonderful meeting with Tran Quang Hai, an ethnomusicologist of immense culture and experience and a master of harmonic singing to communicate with enthusiasm. Thank you so much!

Antonio Giacometti's photo.
Antonio Giacometti

Un bellissimo incontro con Tran Quang Hai, etnomusicologo d’immensa cultura ed esperienza e maestro di canto armonico comunicativo ed entusiasta. Grazie di cuore!

GS. Trần Quang Hải xúc động cảm tạ thành viên ban tang lễ GS. Trần Văn Khê

GS. Trần Quang Hải xúc động cảm tạ thành viên ban tang lễ GS. Trần Văn Khê

GS. Trần Quang Hải xúc động cảm tạ thành viên ban tang lễ GS. Trần Văn Khê

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã Greater Peace Foundation

Published on Aug 11, 2015

Phim tư liệu của Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã. Sau lễ chung thất (49 ngày) của cố GS. Trần Văn Khê, đại diện gia đình, trưởng nam GS. Trần Quang Hải đã xúc động bày tỏ mong muốn tiếp tục hiện thực hóa hoàn toàn di nguyện của GS. Trần Văn Khê như đã công bố trên báo Thanh Niên là xây dựng ngôi nhà riêng tọa lạc tại số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh (do Ủy ban Nhân dân Tp.HCM trao tặng ngày 06/01/2006) trở thành Nhà lưu niệm Trần Văn Khê phục vụ hoạt động bảo tồn và phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam đúng theo hợp đồng được ký kết giữa GS. Trần Văn Khê và Sở Văn hóa Thông tin Tp.HCM (đại diện lúc ký là bà Trương Ngọc Thủy và bà Nguyễn Thế Thanh, lần lượt là nguyên Giám đốc và Phó Giám đốc). https://youtu.be/_HCPJYcyS1c?list=PL8… * Tham khảo: Những vần thơ thi hóa Di nguyện của GS.TS. Trần Văn Khê do Hãn Nguyên Nguyễn Nhã biên soạn ngày 19/06/2015, NSƯT Hồng Vân hát bằng các làn điệu dân ca ba miền. Youtube: https://youtu.be/TzKAx4WyHQY Soundcloud: https://soundcloud.com/hannguyennguye… Lời thơ và toàn văn di nguyện: http://www.hannguyennguyennha.com/am-… * Để góp phần vinh danh giáo sư, Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã sẽ lần lượt công bố những thước phim tư liệu quý về những phát biểu và trả lời phỏng vấn riêng của giáo sư trong suốt hành trình hơn nửa thế kỷ đồng hành cùng phong trào bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Việt Nam tại trang tưởng niệm Giáo sư Trần Văn Khê: http://www.hannguyennguyennha.com/tuo…

Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

Write

Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

MCVMedia

Ajoutée le 21 oct. 2015

ĐTMN Ngày: 13/03/2015 Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315 ĐỐI THOẠI MỖI NGÀY là chương trình Đối thoại truyền hình, đề cập đến các vấn đề đang được dư luận quan tâm và có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội với lợi ích thiết thực của người dân. Phát sóng: 6h20 hàng ngày trên HTV9. Fanpage: https://www.facebook.com/doithoaimoingay Xem thêm trong playlist: https://www.youtube.com/playlist?list… . Dailymotion: http://www.dailymotion.com/MCVMedia http://www.dailymotion.com/MCVTV Giáo dục Âm nhạc truyền thống cho học sinh – GS. Trần Văn Khê | ĐTMN 130315

Trọng Thịnh : Về đâu Di sản Trần Văn Khê?

15/06/2019 06:41

Về đâu Di sản Trần Văn Khê?

TP – Ngày 11/6 vừa qua, bạn bè và người thân đã tổ chức sớmlễ giỗ 4 năm của GS-TS Trần Văn Khê (24/6/2015- 24/6/2019), nhưng họ không thể tới dự lễ giỗ tại ngôi nhà GS đã sinh sống những năm cuối đời mà phải tổ chứctại Galaxy Nguyễn Du- quận 1, một nơi ít liên quan đến di sản của GS.

GS-TS Trần Văn Khê đang cùng Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tham gia giới thiệu âm nhạc dân tộc
GS-TS Trần Văn Khê đang cùng Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tham gia giới thiệu âm nhạc dân tộc

Con trai trưởng GS Trần Văn Khê quyết trưng bày tượng sáp của cha Vì sao tượng sáp Giáo sư Trần Văn Khê bị rút khỏi bảo tàng?

Một di sản quý

Là người cống hiến cả cuộc đời cho những nghiên cứu và truyền bá về âm nhạc dân tộc Việt đi khắp thế giới, từ năm 2006 khi ở tuổi 85, GS-TS Trần Văn Khê hồi hương về Việt Nam sinh sống. GS chọn sống tại TPHCM, nơi ông có nhiều điều kiện để tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn âm nhạc dân tộc. Trước đó, Sở VHTT TPHCM đã thống nhất cùng với GS thực hiện đề án nhà Trần Văn Khê và giao cho GS căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai – Bình Thạnh để tôn tạo, làm nơi bảo quản và trưng bày những tài liệu và những hiện vật được GS nghiên cứu, sưu tầm trong suốt cuộc đời gắn với âm nhạc dân tộc.

Tính tới khi về Việt Nam, GS-TS Trần Văn Khê đã chuyển về 435 kiện sách, trong đó hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam và âm nhạc thế giới; Các hiện vật âm nhạc như nhạc cụ, đĩa, băng ghi âm, hình ảnh, sách báo, bằng khen, huy hiệu… Trong đó, đáng chú ý còn có hơn 200 quyển ghi chép do GS ghi lại trong suốt hành trình nghiên cứu và gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của GS.

Sau khi về nước, GS-TS Trần Văn Khê đã biến ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai trở thành điểm đến văn hóa cho những người yêu mến và mong muốn tìm hiểu âm nhạc dân tộc. Cùng với nhiều nhà nghiên cứu và các nghệ sỹ âm nhạc dân tộc, GS tổ chức thường xuyên các hoạt động giao lưu văn hóa, nói chuyện chuyên đề và trình diễn minh họa để cung cấp kiến thức về âm nhạc dân tộc, nghệ thuật cải lương, nghệ thuật hát bội, đờn ca tài tử, nhã nhạc cung đình Huế… hoàn toàn miễn phí dành cho mọi người. Nhiều nghệ sỹ nổi tiếng như Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan, NSƯT Hải Phượng, NSND Kim Cương…. cũng thường xuyên tham gia các chương trình của GS.

Về đâu Di sản Trần Văn Khê? - ảnh 1

GS-TS Trần Văn Khê cùng NSƯT Hải Phượng

Cũng tại địa chỉ này, CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam Bộ do GS sáng lập phát triển mạnh, quy tụ nhiều bạn trẻ tham gia. Nhà nghiên cứu Văn hóa Hồ Nhựt Quang- Chủ nhiệm CLB cho biết lúc sinh thời, gần như hàng tuần CLB đều có các hoạt động sinh hoạt và GS đã giúp CLB rất nhiều trong kiến thức âm nhạc dân tộc cũng như các kỹ năng trình diễn.

Và trong di nguyện của mình trước khi mất, GS-TS Trần Văn Khê mong muốn sau khi qua đời, ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai sẽ được sử dụng làm Nhà lưu niệm Trần Văn Khê. GS bày tỏ những tài liệu cũng như các hiện vật do GS sưu tập sẽ được trưng bày tại Nhà lưu niệm. Việc đọc sách, tham khảo tư liệu tại Nhà lưu niệm Trần Văn Khê sẽ rất dễ dàng, tạo điều kiện cho những người đến thư viện đọc, tìm hiểu và nghiên cứu về âm nhạc dân tộc. Tất cả các hoạt động đó sẽ không mang tính thương mại và chỉ có mục đích là nhằm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa quý báu của cha ông để lại.

Về đâu?

Khi GS- TS Trần Văn Khê qua đời, người xứng đáng có thể thay thế GS trong việc gìn giữ và bảo tồn di sản quý trên là GS Trần Quang Hải (con trai GS-TS Trần Văn Khê). Trước vong linh cha, GS Trần Quang Hải hứa sẽ tiếp tục sự nghiệp cao cả của cha. Tuy nhiên vì sức khoẻ yếu cũng như vì công việc còn dang dở tại Pháp nên GS Trần Quang Hải cũng chưa triển khai được những công việc dự tính tại Việt Nam.

Sau khi GS-TS Trần Văn Khê mất được hơn 2 tháng, ngôi nhà này được bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa TPHCM (Gọi tắt là Trung tâm Bảo tồn di tích) quản lý. Tất cả hiện vật, tài liệu, sách… gắn bó với cuộc đời, sự nghiệp của GS-TS Trần Văn Khê được giao cho Bảo tàng TPHCM và Thư viện Khoa học tổng hợp quản lý.

Trung tâm đã sử dụng một phần của căn nhà để làm văn phòng, phần còn lại được dùng làm kho tư liệu do Bảo tàng TPHCM quản lý. Theo đại diện của Trung tâm bảo tồn di tích cho biết, Trung tâm đã có phương án xây dựng các chuyên đề triển lãm Di sản GS-TS Trần Văn Khê nhưng không thường xuyên mà chỉ vào những dịp kỷ niệm, ngày sinh hoặc ngày mất của GS. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn chưa thực hiện được.

Theo đại diện của Trung tâm Bảo tồn di tích TPHCM, hiện nay trung tâm chỉ có nhiệm vụ quản lý bảo tồn khu di tích 32 Huỳnh Đình Hai, còn các hoạt động liên quan đến GS-TS Trần Văn Khê do phía Bảo tàng TPHCM đảm nhận và tổ chức. Còn theo đại diện Bảo tàng TPHCM, trong năm 2019 Bảo tàng cũng chưa có hoạt động nào liên quan đến di sản của GS-TS Trần Văn Khê. Hiện tại, bảo tàng mới đang chuẩn bị xây dựng kế hoạch để tổ chức các hoạt động kỷ niệm nhân 99 năm ngày sinh của giáo sư (1921 – 2020) vào năm sau.

NSND Kim Cương, người rất tích cực trong việc thực hiện di nguyện của GS-TS Trần Văn Khê tâm sự: “GS-TS Trần Văn Khê luôn mong muốn bảo tồn, phục hưng nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, qua việc tổ chức lập quỹ học bổng hoặc Giải thưởng Trần Văn Khê để hằng năm phát cho người có công trình nghiên cứu hoặc cống hiến xuất sắc về âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Ở đó còn có thư viện mang tên ông, giúp người đọc có điều kiện tham khảo tư liệu để nghiên cứu, phát huy những giá trị to lớn của âm nhạc dân tộc. Cứ nghĩ đến những điều ông viết trong bản di nguyện chưa thực hiện được, sau gần 4 năm ông ra đi, trong đó ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, nơi ông sinh sống, tổ chức nhiều hoạt động âm nhạc lúc sinh thời giờ không được gìn giữ đúng ước nguyện của ông, tôi cứ canh cánh bên lòng nỗi niềm như một người bất tín”.

NSND Kim Cương cũng cho biết không chỉ riêng bà mà bạn hữu, những người yêu mến GS cũng mong mỏi sẽ có một nơi nào đó để mọi người cùng chung tay làm tiếp công việc dang dở của GS. Nhưng tới giờ này vẫn chưa có một hướng đi nào cho các di sản của GS-TS Trần Văn Khê.

GS-TS Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu và truyền bá âm nhạc dân tộc hàng đầu của Việt Nam. GS đã dành cả cuộc đời cho âm nhạc dân tộc và từng được Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Ðĩa hát Pháp, Giải thưởng Ðại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970. Năm 1975 được trao tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Ðại học Ottawa (Canada); Năm 1981, Giải thưởng lớn về Âm nhạc UNESCO và Hội đồng quốc tế Âm nhạc; Năm 1991, được tặng Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, của Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp; Năm 1995, Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật); Năm 1999, Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Ðại học Moncton (Canada).

Trọng Thịnh

https://www.tienphong.vn/van-hoa/ve-dau-di-san-tran-van-khe-1428703.tpo

Kim Quyên : Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.

             Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.

KIM QUYEN (2).jpg                                                                                  

Kim Quyên

Dáng người cao ráo, đỉnh đạc, gương mặt chữ điền đầy cương nghị, đôi mắt sáng, dạt dào niềm tin yêu cuộc sống, nụ cười tươi luôn nở trên đôi môi sinh động, đôi môi biết thể hiện những âm thanh tuyệt vời của những chiếc kèn môi làm từ tre hay bằng kim loại. Nhạc cụ thật đơn sơ mà như nói lên được bao nổi niềm của đôi lứa yêu nhau, những tâm hồn  thổn thức của những người thuộc dân tộc Mông, Charai, Ê Đê, Xê Đăng… cũng là những người Việt Nam của quê hương anh.

Nhìn người nghệ sĩ ấy ngậm chiếc kèn nhỏ bé xinh xinh, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc đang dâng trào từ tận cùng trái tim, những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền như vọng ra từ núi rừng Tây Nguyên, tiếng của những chàng trai mời gọi bạn tình, có khi là tiếng gầm của con hổ, con mang, có lúc là tiếng thánh thót của những chú chim rừng gọi bầy trong nắng sớm….

Chao ôi! Chỉ là vài miếng tre mỏng mành, đôi miếng kim loại bằng đồng, thao.. mà người nghệ sĩ đàn môi đã đem đến bao âm thanh thật thú vị, thơ mộng, trữ tình, lạ lùng trong phong cách biểu diễn, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến người xem không khỏi ngạc nhiên, ngưỡng mộ sự khéo léo, tinh tế của đôi bàn tay làm ra những dụng cụ thô sơ, dễ kiếm dễ tìm, dễ làm ở khắp nơi trên thế giới mà những nghệ nhân, nghệ sĩ đã chế biến ra rồi biến nó thành một nhạc cụ yêu thích cho những người sành điệu trong nước và trên thế giới.

Mang trong người dòng máu nghệ sĩ của nhiều đời, nhạc sĩ nhạc dân tộc Trần Quang Hải đã mày mò nghiên cứu nhiều loại nhạc cụ của Việt Nam và thế giới, rồi chế biến ra, nâng nó lên tầm vóc cao hơn với nhiều loại hình đầy sáng tạo, mà ngoài nghệ thuật đàn môi, anh còn có nghệ thuật Gỏ Muổng. Những chiếc muổng xinh xinh cũng là dụng cụ dễ tìm, dễ kiếm ở khắp nơi, chỉ cần lấy hai cái muổng gỏ nhịp thì đã thêm một nhạc cụ cho dàn nhạc bề thế, hiện đại. Nhạc sĩ Trần Quang Hải nghiên cứu nhạc cụ “ độc đáo” này, biến nó thành nhạc cụ chính và trình diễn độc tấu chỉ một môn Gỏ Muổng. Hai bàn tay khéo léo gỏ từ 2 đến 5 ngón, gỏ trong lòng và mặt trên bàn tay, dài theo cánh tay, trên môi… Một mình anh , đứng, ngồi, dòn dã, rộn ràng với 2 hoặc 3 chiếc muổng,  nghe vui tai và yêu đời làm sao!

Ngoài việc sử dụng thông thạo các nhạc cụ dân tộc thường gặp như đàn kìm, đàn cò, tranh, nguyệt…nghệ sĩ Trần Quang Hải đi khắp năm châu, bốn biển trình bày và biểu diễn nhạc dân tộc Việt Nam. Anh đi tới đâu gây ấn tượng khó quên cho người xem tới đó. Là con cháu của những nghệ sĩ tiếng tăm bao đời nay : Con GS Trần Văn Khê, cháu của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, một danh hài nổi tiếng từ những thập niên 60,70, cháu của nghệ sĩ Trần Ngọc Viện, người đã thành lập ra gánh hát Đồng Nữ Ban, gánh cải lương đầu tiên của Nam bộ và của cả nước, xuất phát từ làng Vĩnh Kim ( Tiền Giang)… GS Trần Quang Hải thật không hổ danh là con cháu của các bậc tiền bối đã góp phần xây dựng nền nghệ thuật dân tộc tỉnh nhà, cho cả nước và ra cả thế giới.

Thật cảm động khi thấy hình ảnh của GS Trần Văn Khê hòa tấu đàn kìm cùng con Trần Quang Hải gỏ  muổng trong buổi diễn nhạc cụ dân tộc tại tư gia của GS Trần Văn Khê ở biệt thự đường Huỳnh Đình Hai năm 2014, xem GS Trần Văn Khê khi  ông đã 94 tuổi ngồi ung dung hòa đàn kìm cùng cháu Hải Minh 9 tuổi ( đàn tranh) bài Lưu Thủy Trường thật nhịp nhàng, thánh thót.

Bạch Yến, người vợ cũng là một nữ danh ca tài sắc, có giọng hát trầm, ấm , chị chuyên hát nhạc nước ngoài, sau này  theo dòng dân ca và đôi lúc là Bolero man mác buồn “Cho em quên cơn mộng ảo ngây thơ ngày nào…Đời còn chi trong tay..Mai đây khi hoa tàn úa xanh xao, phong ba dập dùi…Em xin nằm xuống, mang theo con tim ngậm ngùi…Giấc mơ nhỏ nhoi đưa em vào cõi thiên thu..Yêu thương đời đời…”

Bài hát đã lâu tôi không còn nhớ tựa bài, nghe bất chợt khi ngồi một mình buồn hiu trong quán cà phê vắng khách với bao tâm sự đầy vơi. Tôi không thích lắm dòng nhạc Bolero vì có nhiều bài quá buồn làm cho người nghe ủy mị yếu đuối,  nhưng không hiểu sao hôm ấy, có lẽ vì giọng hát trầm buồn, man mác bãng lãng mà tôi thích bài hát và giọng hát của chị. Có thể thời điểm đó đúng với tâm trạng của tôi chăng? Sau này chị thường hát cùng NS Trần Quang Hải, chị như con chim sơn ca luôn cất tiếng hót để làm đẹp cho đời và đẹp mối tình nghệ sĩ bên nhau cho tới ngày tóc đã bạc màu.

Qua những người bạn là con cháu của gia đình GS Trần Văn Khê , tôi hay hỏi thăm về ông và những người trong gia đình ông vì tôi ái mộ họ và cũng vì tôi là người Tiền Giang, đồng hương với họ.

Không gì hạnh phúc, may mắn bằng  khi ta làm nghệ thuật mà có vợ có chồng, có cha, có con, có những người thân cùng đi theo một hướng, say mê một công việc, suy nghĩ gần giống nhau… Qua đó, mọi người sẽ dễ hiểu, dễ thương yêu và thông cảm nhau hơn.

Cuộc đời và sự nghiệp của GS- Nhạc sĩ Trần Quang Hải, tính đến nay, anh đã xây nên những công trình  đồ sộ nhằm cống hiến tài năng cho quê hương Việt Nam và thế giới nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo. Có thể tóm tắt quá trình lập nghiệp cụ thể của GS- NS Trần Quang Hải như sau*

Trần Quang Hải : nhà dân tôc nhạc học, nhạc sĩ và nhà soạn nhạc Viet Nam

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo viên Anh văn trường nữ trung học Gia Long

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến  tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc Tây phương lúc khởi đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải,  Bạch Yến chuyễn sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ dân tộc từ nhiều đời , anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Anh  là  nhạc sĩ dân tộc  (ethnomusicologist – ethnomusicologue),  chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, là thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, là thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique).

GS Trần Quang Hải đã theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu nhạc dân tộc. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

 

Gia đình nhạc sĩ Trần Quang Hải:

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình , chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà.
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán.
  4. Trần Văn Khê (1921- 2015 ), ba của NS là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu. Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Ông hưu trí từ năm 1987  nhưng vẫn  tiếp tục nghiên cứu và đóng góp cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO  năm 2007 và hồ sơ Đờn ca tài tử Nam bộ năm 2011 dành cho Văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam .
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký. Sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt). Sau đó NS đi sang Pháp năm 1961, học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường Cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). NS bắt đầu làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu).

NS trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia. Tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại 120 trường đại học, sáng tác 400 bản nhạc dành cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và là hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của NS nhắm vào sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .

 

Quá trình học tập:

  1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)
  2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
  3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)
  4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris
  5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc
  6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.
  7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris
  8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris
  9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris
  10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris
  11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.

Từ năm 1965 tới 1966 NS theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .

Từ năm 1968 tới 2009, NS làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) .

Từ năm 1968 tới 1987, NS làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)

Nhà Nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968 tới năm 2009 (hưu trí)

Từ 1970 tới 1975, giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , Paris

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giới

NS đã từng được mời dạy và thuyết trình tại trên 120 trường đại học, trung tâm nghiên cứu và nhiều viện bảo tàng .

NS đã vinh dự nhận gần 30 giải thưởng của các nước trên thế giới, có những giải thưởng đặc biệt như :   

  • 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp
  • 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp
  • 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.
  • 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.
  • 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia
  • 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.
  • 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .
  • 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .
  • 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.
  • 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ
  • 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ
  • 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga
  • 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp
  • 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp.
  • 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.
  • 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc
  • 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .
  • 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.
  • 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia
  • 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

 

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

 

  • Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp
  • Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp
  • Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.
  • Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp .

 

DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

 

  • Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet
  • Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp
  • The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp
  • Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải .

 

   Dĩa hát của Trần Quang Hải đàn

 

VietNam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.

  1. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  2. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  3. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983 Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  4. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  5. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984

Ngoài ra có 5 đĩa Compasdic, 4 đĩa CD làm nhạc nền cho các phim VN và nước ngoài.

 Trần Quang Hải sáng tác nhạc

Nhớ Miền Thượng Du  (Nostalgia of the Highlands) cho Đàn Tranh (1971)

Xuân Về (The Spring Is Coming Back) cho Đàn Tranh (1971)

Tiếng Hát Sông Hương (The Song of the Perfumed River) cho Đàn Độc Huyền (1972)

Ảo Thanh (The Magic Sound) cho Muỗng (1972)

Về Nguồn (Return to the Sources) hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường, (1975)

Shaman cho Giọng, saxo, synthetizer (1982)

Hát Hai Giọng (Diphonic Song) cho hát đồng song thanh(1982)

Ca Đối Ca (Song vs Song) cho hát đồng song thanh (1982)

Tùy Hứng Muỗng (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Độc Tấu Đàn Môi Mông  (Solo of Mong Jew’s Harp) for đàn môi (1982)

Tiếng Hát Đàn Môi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Đàn môi (1982)

Sinh Tiền Nhịp Tấu (Rhythm of Coin Clappers) for Sinh Tiền (1982)

Tiết Tấu Miền Thượng (Rhythm of the Highlands) for 2 Đàn Môi (1982)

Núi Ngự Sông Hương (Royal Mount and Perfumed River) for Đàn Độc Huyền (1983)

Nam Bắc Một Nhà ( North and South, the Same House) cho Đàn Tranh  (1986)

Chuyển hệ (Modulation) cho Đàn Tranh(1986)

Trở Về Nguồn Cội (Return to the Origin) (electro-acoustical music – nhạc điện thanh) (1988)

Solo Thái cho Đàn Tranh  (1989)

Tambours 89 hợp tác vớiYves Herwan Chotard (1989)

Envol cho hát đồng song thanh (1989)

Chuyển hệ Ba Miền (Metabole on three regions) cho Đàn Tranh (1993)

Mộng Đến Vùng Việt Bắc (Dream of Viet Bac) cho Đàn Tranh (1993)

Vịnh Hạ Long ( Ha Long Bay) cho Đàn Tranh (1993)

Sông Hương Núi Ngự (The Perfumed River and the Royal Mount) cho Đàn Tranh (1993)

Tiếng Vang Đàn Trưng Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) cho Đàn Tranh (1993)

Nhớ miền Nam  (Nostalgia of the South) cho Đàn Tranh (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) cho Đàn Tranh (1993)

Vĩnh Long thời thơ ấu (Vinh Long, My Childhood) cho Đàn Tranh (1993)

Cửu Long Giang thân yêu (the Beloved Mekong River) cho đàn tranh (1993)

Hồn Viêt Nam (The Soul of Viet Nam) cho đàn tranh (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (Ở Bali, người ta nghe đàn Môi) cho đàn Môi  (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Phong cảnh Cao Nguyên) cho đàn Môi (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nhớ vùng đất H’Mông) cho đàn Môi (1997)

Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Kỷ niệm với Alexeiev và Chichiguine)  cho Đàn Môi(1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) cho đàn Môi (1997)

Orient-Occident (Đông – Tây) cho đàn Môi (1997)

Souvenir de Norvege (Kỷ niệm xứ Na Uy) cho đàn Môi (1997)

VietNam, mon Pays (Việt Nam, quê hương tôi) cho đàn Môi (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) cho đàn Môi (1997)

La Mélodie des Harmoniques (Giai điệu của bồi âm) cho đàn Môi  (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Không Khí Cao Nguyên Việt Nam) cho đàn Môi (1997)

Echo des montagnes (Tiếng Vang Núi Rừng) cho đàn Môi (1997)

Taiga mysterieux (Taiga Huyền Bí) cho đàn Môi (1997)

Le Saut des Crapauds (Cóc nhảy) cho đàn Môi (1997)

Harmonie des Guimbardes (Hòa âm Đàn Môi) cho đàn Môi (1997)

L’Univers harmonique (Vũ Trụ bồi âm) cho đàn Môi (1997)

Consonances ! (Cộng Hưởng !) for Jew’s Harp (1997).

VietNam, My Motherland (Việt Nam , Quê Mẹ của Tôi) cho đàn Môi  (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 (chào mừng đại hội liên hoan đàn Môi tại Molln)  for Jew’s Harp (1998)

Điều đặc biệt mà ít người viết đề cập đến,  anh là nhạc sĩ đàn tranh trên 50 năm với hơn 20 đĩa hát về đàn tranh được phát hành ở Pháp, Mỹ, Ý.. . Không có một nhạc sĩ đàn tranh nào ở VietNam cũng như ở hải ngoại có số lượng đĩa hát về đàn tranh nhiều như vậy . Đặc biệt là dĩa “Cithare VietNamienne (le Dàn Tranh) par Trần Quang Hải, do hãng Le Chant du Monde phát hành năm 1971 tại Paris . Đặc điểm của dĩa hát này là có 4 trang lớn về lịch sử  đàn tranh, giải thích về kỹ thuật đàn tranh , bảng đối chiếu các loại đàn tranh Á Châu . Thêm vào đó anh đàn bài  “Phong xuy trịch liễu” của ông cậu Năm, Nguyễn Trí Khương (cho tới nay không thấy nơi nào đàn bài này )

Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Trần Quang Hải  là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim  Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Những đóng góp cụ thể cho Việt Nam

Tham dự làm hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể cho Việt nam (Quan Họ (2006), Ca Trù(2006), Hát Xoan Phú Thọ (2009) , Đờn ca Tài tử nam bộ(2010), Hát ví giặm Nghệ Tĩnh (2011) hát then Tày Nùng Thái (2013), hát bài chòi (2015) , hát chầu văn (2016)

Thành viên danh dự của Viện âm nhạc Việt Nam , Hà Nội (2005)

Hội kỷ lục Việt Nam phong tặng NS là “Vua Muỗng” vào năm 2010 , và “Ngươi Việt Nam trình diễn đàn môi Việt Nam tại nhiêu quốc gia nhứt trên thế giới” (2012)

Hiến tặng 1000 quyển sách nghiên cứu dân tộc nhạc học và 1.000 dĩa hát các loại nhạc dân tộc năm châu cho Viện Âm nhạc Việt Nam ở Hà Nội vào năm 2017.

Dù ít có dịp về biểu diễn ở Việt Nam nhưng GS- NS Trần Quang Hải  và ca sĩ Bạch Yến là những “nghệ sĩ hát rong” trên mọi miền đất nước của quê người,                              truyền bá nhạc dân tộc mình bằng tất cả sự đắm say nghệ thuật và với tấm lòng luôn hướng về quê cha, đất tổ.

TP Hồ Chí Minh tháng 5/ 2018

K.Q

* Tư liệu do GS- NS Trần Quang Hải cung cấp

 

Hữu Trịnh : GS-TS Trần Văn Khê qua đời: Chuyện ít biết về vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam

GS-TS Trần Văn Khê qua đời: Chuyện ít biết về vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam

Thứ Tư, 24/06/2015 11:00 GMT+7

(Thethaovanhoa.vn) – Sau thời gian chống chọi với bệnh tật, GS-TS Trần Văn Khê đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2h55 ngày 24/6/2015 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, thọ 95 tuổi.
GS Trần Văn Khê nhập viện tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định (TP.HCM) ngày 27/5, vài ngày sau đó ông lâm vào tình trạng nguy kịch. Đến 18/6, GS sư có dấu hiệu hồi tỉnh, nhưng vì tuổi già sức yếu, GS đã không thể vượt qua những cơn bệnh.
1. GS-TS Trần Văn Khê thuộc thế hệ cùng thời với các nhạc sĩ tân nhạc đầu tiên của Việt Nam như Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy… Nhưng nếu các nhạc sĩ nói trên đi vào con đường tân nhạc thì Trần Văn Khê là một nhà dân tộc nhạc học suốt đời sưu tầm, nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra với bạn bè năm châu.

GS-TS Trần Văn Khê. Ảnh: Hữu Trịnh
Ông được xem là nhà hoạt động âm nhạc đã có rất nhiều công lao trong việc giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Bởi ông là thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế như: Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống, Hội đồng Quốc tế Giáo dục Âm nhạc, Hội đồng Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc, Hội Âm nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội Nhà văn (Pháp), Hội dân tộc âm nhạc học Mỹ, Hội Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội Nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ…
Ngoài ra, ông còn tham gia giảng dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam ở nhiều trường đại học một số nước trên thế giới, tham gia nhiều hội thảo quốc tế về âm nhạc truyền thống với những tham luận về âm nhạc truyền thống Việt Nam…
GS Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), ông là thế hệ thứ tư trong một gia đình có nhiều gắn bó với âm nhạc truyền thống.
Cụ cố nội là ông Trần Quang Thọ (nhạc công triều đình Huế). Ông nội là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) chơi đàn kìm, tranh, tỳ bà. Cha của GS Trần Văn Khê là ông Trần Quang Triều (Bảy Triều) chơi được nhiều loại đàn nhưng ông Bảy Triều nổi tiếng trong giới nhạc tài tử Nam bộ với những ngón đàn kìm độc đáo trên hệ thống dây Tố Lan do ông sáng tạo ra. Cô ruột của GS Trần Văn Khê là bà Trần Ngọc Viện (Ba Viện) người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban nổi tiếng ở Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Ngoài ra GS còn một người em trai rất nổi tiếng – Trần Văn Trạch – được giới văn nghệ Sài Gòn thời đó phong là “quái kiệt”.
Năm 1942, Trần Văn Khê đi học “trường Thuốc” ở Hà Nội, nhưng năm 1943 ông trở về Sài Gòn theo phong trào “xếp bút nghiên”. Năm 1945 ông chính thức tham gia hoạt động cách mạng, được Huỳnh Văn Tiểng ký tên bổ nhiệm làm Nhạc trưởng quân đội Nam bộ với cấp Đại đội trưởng trong Cộng hòa vệ Binh và đi khắp vùng Đồng Tháp Mười.
Năm 1946 trở về Sài Gòn tham gia nhóm “kháng chiến tại thành”. Năm 1948 nhóm “kháng chiến tại thành” bị lộ, ôngbị bắt giam tại khám Catinat.
2. Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp lánh nạn và bắt đầu sự nghiệp học tập quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nước ngoài.
Gần 1 thập niên ở đất khách quê người, ông phải sống cuộc sống tự lập, vất vả mưu sinh và chống chọi với bệnh tật để năm 1958, Trần Văn Khê trở thành vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với hạng tối ưu. Luận án của ông với đề tài chính: Âm nhạc truyền thống Việt Nam. 2 đề tài phụ là: Khổng Tử và âm nhạc và Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam.
Trong thời gian ở Pháp ông hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt quan trọng là Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, ông cũng là thành viên của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO phụ trách âm nhạc châu Á.

GS Trần Văn Khê suốt đời sưu tầm, nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra với bạn bè năm châu
Suốt thời kỳ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài cho đến lúc ông trở về định cư tại Việt Nam, hơn 50 năm ông đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc ở 67 quốc gia, tham dự khoảng 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc. Trong đó có rất nhiều hội nghị và liên hoan đã được GS Trần Văn Khê giới thiệu những nét đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông còn có nhiều buổi thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều trường đại học ở khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra ông còn viết nhiều bài báo, tham luận về âm nhạc truyền thống Việt Nam đăng trên nhiều báo, trong đó có tạp chí của UNESCO được dịch ra 14 thứ tiếng.
Sau năm 1975, GS Trần Văn Khê có nhiều chuyến trở về Việt Nam để tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, điền dã về âm nhạc truyền thống Việt Nam, trước khi ông về định cư chính thức tại Việt Nam vào năm 2006.
Ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh do UBND TP.HCM cấp cho GS Trần Văn Khê là nơi lưu giữ tất cả những tư liệu nghiên cứu suốt cả cuộc đời của ông. Toàn bộ tư liệu này, sau khi qua đời, ông tặng cho TP.HCM.
Cũng tại ngôi nhà này, đây là địa điểm mà GS Trần Văn Khê tiếp tục tổ chức những sinh hoạt về âm nhạc truyền thống Việt Nam qua những chuyên đề, là nơi gặp gỡ, giao lưu của các nghệ nhân, nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hóa ở TP.HCM.
GS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa ca trù, không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên, đờn ca tài tử Nam bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới. Suốt một đời hoạt động không mệt mỏi phấn đấu cho âm nhạc truyền thống Việt Nam, những ngày cuối đời GS trở về sinh sống tại đất mẹ và trút hơi thở cuối cùng trên mảnh đất đã sản sinh ra những giai điệu, những loại hình âm nhạc độc đáo mà ông đã góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và tôn vinh ở phạm vi trên toàn thế giới…
Hữu Trịnh