Theo Báo VĂN HÓA : Khẳng định sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng thờ Mẫu

Thứ bảy, 09 Tháng 1 2016 09:03

Ngày 6.1, Bộ VHTTDL phối hợp với UBND tỉnh Nam Định tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu).

Một buổi hầu đồng tại Phủ Dầy, Nam Định Ảnh: Tr.Huấn

 

 Tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên khẳng định: “Trong những năm qua, Bộ VHTTDL luôn quan tâm đến công tác bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử và nhân văn của các di sản văn hóa, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Các thực hành nghi lễ thờ Mẫu cũng là một chủ đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học ở VN và trên thế giới quan tâm”.

Trong khi Hồ sơ Quốc gia Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN đang trên đường đệ trình UNESCO xét ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Hội thảo quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) là một hoạt động quan trọng nhằm nhận thức về giá trị, ý nghĩa của Tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, về Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói riêng. Hội thảo đã thu hút sự góp mặt của 47 nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa trong và ngoài nước, trong đó có 11 học giả quốc tế đến từ các nước và vùng lãnh thổ: Bulgari, Đài Loan, Hà Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hungari, Nga, Pháp, Trung Quốc.

Tín ngưỡng thờ nữ thần tồn tại ở nhiều tộc người, ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là một trong những tín ngưỡng lâu đời và phổ biến bậc nhất. Bên cạnh hình thức thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt, Tín ngưỡng thờ Mẫu còn thờ cúng các nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân. Đánh giá về sức sống của Tín ngưỡng thờ Mẫu, PGS.TS Từ Thị Loan, Q. Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN khẳng định: “Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ Mẫu có một chỗ đứng đặt biệt, có sức lan tỏa lớn và ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội đương đại”.

Toàn cảnh Hội thảo

 

Tại Hội thảo, ngoài phiên họp toàn thể, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa và các học giả quốc tế đi sâu thảo luận qua bốn tiểu ban: Một số vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; Các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và các hình thức tương đồng khác; Những vấn đề chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; Bảo vệ và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại. Điều đáng mừng là hầu hết các ý kiến đều nhìn nhận giá trị cũng như sức sống mãnh liệt của Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN.

Theo thống kê, riêng quần thể Phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định cũng đã tập trung tới 20 di tích gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu. TS Trần Hữu Sơn, Hội Văn nghệ dân gian VN nói: “Hoạt động theo cơ chế dân gian rất linh hoạt nên Tín ngưỡng thờ Mẫu có thể đáp ứng được nhu cầu tâm linh của xã hội ngày nay, vì thế tín ngưỡng này ngày càng phát triển”.

Hội tụ nhiều giá trị độc đáo

Thực tế, sau một thời gian dài bị dị nghị, cấm đoán… việc nhận thức, đánh giá lại những giá trị văn hóa, bản sắc của Tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN thực sự cần thiết. Trước hết, cần phải khẳng định Tín ngưỡng thờ Mẫu là một thực hành nghi lễ kết hợp nhiều yếu tố văn hóa như trang phục, âm nhạc, múa thiêng… Thậm chí có thể coi thực hành lễ hội, nghi lễ này như một “bảo tàng sống” lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và bản sắc văn hóa của người Việt. GS.TS Trương Quốc Bình, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN nhìn nhận: “Nghi lễ phổ biến nhất trong tín ngưỡng Thánh Mẫu là hầu đồng. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, và nghe những lời cầu nguyện của người dự lễ. Các điệu múa linh thiêng (giá đồng) là một phần quan trọng của nghi lễ”.

Nét nổi bật trong thực hành diễn xướng di sản này chính là âm nhạc. Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học, GS.TS Trần Quang Hải, Trung tâm Nghiên cứu âm nhạc dân tộc, CNRS, Pháp khẳng định: “Muốn biết rõ nguồn gốc của nghi lễ hầu văn, điều quan trọng là phải xác định sự quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ, cũng như vai trò của hầu văn”. Từng đi nghiên cứu, điền dã nhiều lần về Tín ngưỡng thờ Mẫu, nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, Viện Nghiên cứu âm nhạc cho rằng nếu không có giọng hát, không có tiếng đàn, tiếng mõ (phách), không có lời văn và tài năng biểu diễn của người nghệ sĩ cung văn ắt không thành lễ Hầu bóng thờ Mẫu. Ông Loan nhấn mạnh; “Bộ gõ đóng vai trò quan trọng, giúp người hầu đồng có thể thăng hoa, nhập đồng”…

 Một buổi hầu đồng tại Phủ Dầy, Nam Định Ảnh: Tr.Huấn

 

Còn nhiều vấn đề tranh cãi

Một trong những đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể nói chung là những giá trị văn hóa cũng như các phương thức diễn xướng của di sản không phải nhất nhất bất biến mà luôn vận động, biến đổi trong các môi trường, xã hội khác nhau. Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng đã trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình tồn tại và phát triển. Trong xã hội đương đại, công tác bảo tồn và phát huy giá trị Tín ngưỡng thờ Mẫu này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ, nghiên cứu…

TS Trần Hữu Sơn cho rằng: “Đạo Mẫu có sức hút mạnh mẽ các con nhang đệ tử và người dân tham gia. Vì vậy, cần ứng xử đạo Mẫu như ứng xử với một tôn giáo và có chính sách như một tôn giáo (đạo Phật, đạo Cao Đài, Thiên Chúa giáo).” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia VN lại quan niệm, nếu cố ép tín ngưỡng Tứ phủ thành tôn giáo, đồng bóng thành đạo, không lẽ bên cạnh các tôn giáo đã có, giờ đây VN sẽ có thêm… Mẫu giáo nữa hay sao?

Tính thiêng trong hoạt động diễn xướng di sản này cũng đặt ra nhiều quan điểm khác nhau trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam nhìn nhận: “Nghệ thuật hoá lên đồng là xu hướng tất yếu diễn ra cùng với quá trình sân khấu hoá. Đó là quá trình giảm nhẹ dần yếu tố tín ngưỡng và tăng cường hơn yếu tố nghệ thuật. Điều này đang có những tìm tòi để làm sao biến lên đồng thành một tiết mục nghệ thuật trên sân khấu để phục vụ rộng rãi khán giả xã hội đương đại”. Tuy nhiên, trước hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu như Bùi Trọng Hiền, Trần Hữu Sơn hay TS Barley Mark Peter Norton, ĐH Lon don lại cho rằng xu hướng “sân khấu hóa” thực hành tín ngưỡng này là biến đổi đáng lo ngại trong xã hội đương đại.

 

Theo: Báo Văn Hóa

http://www.info.vn/giai-tri/273-van-hoa/525107-Khang-dinh-suc-song-manh-liet-cua-tin-nguong-tho-Mau-.html

ĐẶNG NGỌC OANH :Hội thảo quốc tế về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại


Hội thảo quốc tế về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại

Thứ Tư, 06/01/2016, 14:10:13

NDĐT- Trong hai ngày 5 và 6-1, Hội thảo khoa học quốc tế “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại – Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu” diễn ra tại thành phố Nam Định do Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định phối hợp tổ chức.

Hội thảo thu hút gần 100 nhà khoa học trong nước và quốc tế đến từ chín nước và vùng lãnh thổ (Bun-ga-ri, Đài Loan, Hà Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hung-ga-ri, Nga, Pháp, Trung Quốc) cùng các nhà quản lý về văn hóa ở Trung ương và địa phương, đại diện những người trực tiếp tham gia thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tham dự.

Phát biểu Đề dẫn Hội thảo, PGS-TS Từ Thị Loan – Quyền Viện trưởng Văn hóa nghệ thuật quốc gia (VHNTQG) cho biết, Thờ Mẫu là một tín ngưỡng lâu đời và phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều dân tộc khác trên thế giới. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu có một chỗ đứng đặc biệt, có sức lan tỏa mạnh và ngày càng thể hiện tầm ảnh hưởng trong xã hội đương đại. Hiện nay, trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thay đổi lớn lao trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội là những chuyển biến phức tạp trong đời sống tâm linh, sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng.

Vì vậy, ban tổ chức hội thảo đề nghị các nhà khoa học và các đại biểu tập trung thảo luận vào những vấn đề: Phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; Các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và các hình thức tương đồng khác; Chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; Bảo vệ và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại.

Hơn 70 báo cáo khoa học, tham luận trình bày tại Hội thảo đều khẳng định ở Việt Nam tín ngưỡng thờ Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh) có cội nguồn trong tâm thức của người Việt về thế giới tâm linh; thể hiện ý thức nhân sinh, cội nguồn dân tộc; đồng thời hướng tới lòng từ bi, bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện.

Tín ngưỡng thờ Mẫu còn là sự tích hợp nhiều hình thức văn hóa dân gian đặc sắc, tiêu biểu là Nghi lễ chầu văn – một hình thức sân khấu tâm linh huyền ảo, mang đầy tính thiêng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần đề cao giá trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội.

Trong khuôn khổ Hội thảo các đại biểu còn đi tham quan Phủ Vân Cát, Nguyệt Du Cung và tìm hiểu diện xướng Chầu văn ở Phủ Tiên Hương thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (Nam Định) và đều có chung nhận xét: Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được phát triển mạnh mẽ trong xã hội đương đại; xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tin, ảnh: ĐẶNG NGỌC OANH

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/28454102-ho%CC%A3i-tha%CC%89o-quo%CC%81c-te%CC%81-ve%CC%80-thu%CC%A3c-ha%CC%80nh-ti%CC%81n-nguo%CC%83ng-tho%CC%80-ma%CC%83u-trong-xa%CC%83-ho%CC%A3i-duong-da%CC%A3i.html

Nhà lưu niệm của GS Trần Văn Khê sẽ không được thực hiện?

Nhà lưu niệm của GS Trần Văn Khê sẽ không được thực hiện?
(LĐO) M.T – 4:53 PM, 05/01/2016

 

nha lưu niệm 1 tvk

Cách đây 4 ngày, Giáo sư Trần Quang Hải – con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê – gửi đến thành viên ban tổ chức tang lễ cố giáo sư lá thư ngỏ bày tỏ việc ông mong muốn có thay đổi trong chuyện thực hiện di nguyện của cha mình.

Lý do, theo ông Hải, là ông gặp phải những khó khăn cá nhân trong việc thành lập một quỹ văn hóa mang tên cha ông, cũng như việc liên lạc với cơ quan chức năng trong nước để giải quyết các vấn đề thủ tục thành lập Trung tâm Trần Văn Khê (hay nhà lưu niệm Trần Văn Khê) từ ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TPHCM. Ngôi nhà này được Ủy ban Nhân dân TPHCM cấp cho cố giáo sư vào năm 2006 khi ông từ Pháp trở về quê hương và sống cho đến khi qua đời vào năm 2015.

nha luu niem 2 tqh
GS TS Trần Quang Hải-con trưởng của GS Trần Văn Khê muốn thay đổi di nguyện của cha

GS Hải cũng đề xuất hướng sử dụng số tiền phúng điếu 700 triệu đồng từ tang lễ của cha mình vào các việc như: Giải thưởng Trần Văn Khê, quà tặng những nghệ sĩ nghèo ở nhà dưỡng lão nghệ sĩ quận 8, TP HCM, quà tặng cho nghĩa trang nghệ sĩ, quà tặng cho những cây đại thụ của nền cổ nhạc hiện sống trong túng thiếu…
Theo bà Nguyễn Thế Thanh – nguyên Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thông Tin TPHCM và là một thành viên trong ban tang lễ cố giáo sư, ông Hải không thể thay mặt toàn bộ gia đình giáo sư Khê cũng như những người yêu quý Giáo sư để từ bỏ việc một quỹ hay nhà lưu niệm mang tên cha ông có thể có trong tương lai. Ông Hải cũng không có quyền quyết định trong vấn đề này dù rằng cá nhân ông có quyền từ chối tham gia.

Bà lý giải: « Ngôi nhà này thuộc về nhà nước nên việc quyết định thành lập nhà lưu niệm thuộc về quyền quyết định của cơ quan chức năng. Chỉ khi cơ quan chức năng thông qua thủ tục xin phép biến nhà thành nhà lưu niệm và muốn phối hợp cùng gia đình để xây dựng nội dung, thì lúc đó, gia đình có thể nêu ý kiến đồng ý cùng thực hiện hay không. Nếu gia đình từ chối, cơ quan chức năng vẫn có thể đứng ra làm vì Giáo sư Khê là người của công chúng, một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa dân tộc. Hậu duệ của ông và khán giả yêu quý ông đều mong muốn di nguyện của ông được thực hiện”.

nha luu niem 3

Buổi sinh hoạt tại tư gia GS Trần Văn Khê với sự có mặt của nhạc sư Vĩnh Bảo, NS Hải Phượng

nha luu niêm 4
GS Trần Văn Khê và người bạn tri kỷ Vĩnh Bảo tại tư gia

Hiện nay, đề án nhà lưu niệm Trần Văn Khê được Sở Văn hóa, Thể thao trình cho Ủy ban Nhân dân TP HCM và đang chờ được duyệt. Nhiều người cho rằng, TPHCM nên sớm thành lập nhà lưu niệm, để đây là nơi lưu trữ kho tư liệu quý của GS Trần Văn Khê, có thể giúp các bạn trẻ, các nhà nghiên cứu đến tìm hiểu, và vinh danh người đã có nhiều cống hiến cho văn hóa truyền thống của đất nước.

Tin bài liên quan

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp
Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng
Video: Hàng nghìn người tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng
Nhiều nghệ sĩ xúc động viếng thăm GS Trần Văn Khê
GS-TS Trần Văn Khê – người truyền lửa âm nhạc truyền thống
Dàn nhạc dân tộc tấu khúc tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê
Video: Hai cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn điêu luyện khiến người nghe ngây ngất

LDO

http://laodong.com.vn/van-hoa/nha-luu-niem-cua-gs-tran-van-khe-se-khong-duoc-thuc-hien-412669.bld

TRẦN DUY HƯNG : Cần có sự đồng thuận trong quản lý, thực hành tín ngưỡng

Thứ Ba, 05/01/2016 20:46:00 GMT+7

Đó là nhìn nhận của GS.TS Nguyễn Chí Bền (Viện Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam) tại cuộc họp báo nhân Hội thảo quốc tế “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) tại Nam Định », do Bộ VH-TT-DL, UBND tỉnh Nam Định phối hợp tổ chức vào ngày mai, 6/1.

Nhập đồng.

Tại Cuộc họp báo, PGS.TS Từ Thị Loan, Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, cho biết trong một ngày, các nhà khoa học trong và ngoài nước sẽ tập trung thảo luận 4 chủ đề, gồm: Một số vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng; các hình thức thực hành tín ngưỡng thờ mẫu và các hình thức tương đồng khác; những vấn đề về chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng; cuối cùng là chủ đề bảo vệ, phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại…

Đại diện các đơn vị tổ chức cũng cho biết, một trong những mục đích của Hội thảo là nhằm giới thiệu, tuyên truyền quảng bá, giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị của tín ngưỡng thờ mẫu, phục vụ việc đề nghị UNESCO sớm công nhận tín ngưỡng này của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Từ thực tế bất cập, lộn xộn trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Quần thể di tích Phủ Dầy (Vụ Bản-Nam Định)-một trong những địa chỉ tín ngưỡng thờ Mẫu lớn ở miền Bắc-lâu nay, nhất là sự lúng túng của chính quyền trong việc tìm ra một mô hình quản lý phù hợp; xung đột kéo dài giữa cộng đồng thực hành tín ngưỡng và chính quyền địa phương; giữa những người cùng thực hành tín ngưỡng chưa được giải quyết, PV Đại Đoàn Kết đặt câu hỏi Hội thảo có tập trung thảo luận, phân tích, đề xuất giải pháp cho vấn đề này không?

Trả lời câu hỏi này, GS.TS Nguyễn Chí Bền nhìn nhận: Tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm trong các thành tố của văn hóa dân gian.

Trong bối cảnh xã hội đầy biến động hiện nay, vấn đề nhìn nhận, xem xét, tiếp cận tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu như thế nào cần được đặt ra.

Ông Nguyễn Chí Bền cũng thừa nhận những thực tế, tồn tại PV phản ánh và cho rằng đây không chỉ là câu chuyện của riêng ở Phủ Dầy mà là câu chuyện chung ở nhiều địa chỉ tín ngưỡng tâm linh khác.

Tuy nhiên, về những mâu thuẫn, xung đột này, ông Nguyễn Chí Bền cho rằng, nên nhìn nhận đây là điều bình thường.

Bởi thực tế cuộc sống luôn phát sinh những mâu thuẫn, xung đột, tìm được tiếng nói đồng thuận là việc không đơn giản, việc quản lý, thực hành tín ngưỡng cũng không là ngoại lệ.

Theo ông Nguyễn Chí Bền, đời sống tín ngưỡng có 3 nhân tố tham gia ở các góc độ khác nhau, gồm: Cộng đồng thực hành tín ngưỡng; nhà quản lý và các nhà nghiên cứu.

“Thông thường các nhà nghiên cứu thì cứ nghiên cứu, đánh giá còn nhà quản lý tiếp nhận đến đâu lại là câu chuyện khác. Và từ nhà quản lý đến cộng đồng lại là một câu chuyện khác nữa”, ông dẫn giải.

Trên thực tế, không phải lúc nào giữa 3 nhân tố này cũng có sự đồng thuận mà thường có những vướng mắc, xung đột.

Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Bền cho rằng đã đến lúc cần phải sớm tìm được tiếng nói đồng thuận giữa cộng đồng thực hành tín ngưỡng và chính quyền; giữa những người thực hành tín ngưỡng.

Bởi nếu không đồng thuận, kéo dài mâu thuẫn, xung đột thì khó có thể giải quyết được vấn đề gì, nhất là trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng.

Một góc Phủ Tiên Hương trong quần thể di tích Phủ Dầy.

Liên quan đến việc này, PGS.TS Từ Thị Loan nhìn nhận ở nước ta pháp luật, chính sách về tôn giáo đã khá đầy đủ và sẽ còn được bổ sung. Tuy nhiên, pháp luật, chính sách về tín ngưỡng-lĩnh vực được cho là nhạy cảm-thì chưa được như vậy.

“Hiện nay, giải quyết thế nào về mối quan hệ giữa cộng đồng và các cơ quan quản lý là một vấn đề cần đặt ra. Đây cũng là một trong những nội dung được hội thảo đề cập, thảo luận, tập trung trong chủ đề “Những vấn đề về chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng”.

Tại buổi họp báo, vấn đề quản lý việc thực hành tín ngưỡng được báo giới đặc biệt quan tâm, nêu nhiều thực tế tồn tại của công tác này ngay tại địa phương.

Tuy nhiên, có mặt, đồng chủ trì cuộc họp báo nhưng ông Khúc Mạnh Kiên-Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đã từ chối trả lời, giải đáp vấn đề này, với lý do: “Chúng tôi chỉ tập trung cho công tác tổ chức và các vấn đề liên quan đến hội thảo”.

Liên quan đến việc chuẩn bị hồ sơ cũng như khả năng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt có được UNSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại hay không? Với tư cách là Trưởng ban xây dựng hồ sơ, GS.TS Nguyễn Chí Bền cho biết: hồ sơ đã được Việt Nam đệ trình UNSCO từ tháng 3/2014. Tuy nhiên, do Việt Nam không nằm trong danh mục các quốc gia được ưu tiên nên việc xem xét sẽ phải lùi tới tháng 11/2016. Tuy nhiên, GS.TS Nguyễn Chí Bền tự tin nhìn nhận: Với những giá trị nội tại và với những gì hồ sơ đã chuẩn bị, đối chiếu với các tiêu chí của UNESCO thì tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt hoàn toàn có thể đáp ứng được và xứng đáng được vinh danh.

Theo ông Nguyễn Chí Bền, thời điểm này cần phải tập trung tuyên truyền, quảng bá để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị của tín ngưỡng này.

“Hát văn được rất nhiều người Việt mê. Nhiều ca khúc được sáng tác dựa trên âm hưởng của hát văn, rất hay. Nhưng mà cái hay này mới chỉ được người Việt mình biết đến còn người nước ngoài, cộng đồng quốc tế thì chưa hiểu hết. Chính vì vậy việc đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá rất quan trọng, cần thiết”, ông nhìn nhận.

“Nếu được UNESCO công nhận, tôn vinh thì sẽ có một Chương trình hành động quốc gia để bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu”, ông thông tin thêm.

Một số hình ảnh tại Quần thể di tích Phủ Dầy (Nam Định):

Trần Duy Hưng

http://m.daidoanket.vn/van-hoa-the-thao/can-co-su-dong-thuan-trong-quan-ly-thuc-hanh-tin-nguong/82777

THANH HIỆP : Từ bỏ lập Quỹ Trần Văn Khê, GS Trần Quang Hải ứa nước mắt

Từ bỏ lập Quỹ Trần Văn Khê, GS Trần Quang Hải ứa nước mắt

04/01/2016 20:04

(NLĐO)- Những rắc rối về thủ tục pháp lý khi thành lập quỹ Trần Văn Khê tại Việt Nam đã làm GS Trần Quang Hải muốn từ bỏ ý định lập quỹ này theo như di nguyện của cha ông.

Về nước theo lời mời của Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Việt Nam tham dự Hội thảo quốc tế về nghệ thuật hát chầu văn, GS Trần Quang Hải đã cho PV Báo Người Lao Động biết việc ông từ bỏ kế hoạch thành lập quỹ mang tên cha, cố GS. TS Trần Văn Khê cũng như dự án xây dựng Trung tâm Trần Văn Khê tại căn nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh, TP HCM, nơi GS.TS Trần Văn Khê từng sinh sống.


GS.TS Trần Văn Khê. - Ảnh: NSCC

GS.TS Trần Văn Khê. – Ảnh: NSCC

Chia sẻ về điều này, GS Trần Quang Hải ứa nước mắt: “Tôi đành phải từ bỏ 2 dự án theo di nguyện của cha bởi hiện nay tôi định cư ở nước ngoài, sẽ có nhiều trở ngại trong việc quản lý trực tiếp quỹ một cách chu đáo. Ngoài ra, khó khăn về phương diện thủ tục hành chánh và tài chánh khi có qui định phải trên 1 tỉ đồng mới lập quỹ; mà sau đám tang của cha tôi, số tiền phúng điếu của các cơ quan, cá nhân, công chúng quý mến cha tôi, tính toán lại chỉ có 700 triệu đồng.

Điều quan trọng hơn cần phải có trụ sở nhất định và phải có một ngân khoản thường trực để trang trải. Bên cạnh đó, ngôi nhà số 32 đường Huỳnh Đình Hai dù có triển vọng sẽ được dùng làm trụ sở vĩnh viễn cho trung tâm mang tên cha tôi nhưng đến nay vẫn chưa có cơ sở pháp lý nào để đảm bảo”.


GS Trần Quang Hải giới thiệu với khán giả Pháp về đàn bầu của Việt Nam

GS Trần Quang Hải giới thiệu với khán giả Pháp về đàn bầu của Việt Nam

GS Trần Quang Hải mong muốn được kết thúc một cách tốt đẹp việc liên hệ đến cha của ông, về số tiền phúng điếu. Ông nhấn mạnh: “Hiện theo dự trù sẽ được phân chia một cách minh bạch cho: Giải thưởng Trần Văn Khê, phần nữa trao cho anh Nguyễn Tri Triết để lo việc cúng bái tại Vĩnh Kim, Tiền Giang; phần thứ ba dành trao tặng những nghệ sĩ lão thành, già yếu, bệnh tật đang sống tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8, TPHCM); một phần trao tặng quà cho những nghệ sĩ đang chăm sóc Nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp, TP HCM và phần cuối tặng cho những nghệ sĩ lão thành của nền cổ nhạc hiện sống trong túng thiếu”.

 


GS.TS Trần Văn Khê. - Ảnh: NSCC

GS.TS Trần Văn Khê. – Ảnh: NSCC

Theo GS Trần Quang Hải, hiện có một vài cá nhân, công trình nghiên cứu âm nhạc dân tộc đã có đề xuất được trao giải thưởng mang tên cố GS.TS Trần Văn Khê. Vào tháng 8-2016, GS Hải sẽ về Việt Nam để cùng trao đổi với những nhà chuyên môn, tiến đến việc trao giải thưởng mang tên GS Trần Văn Khê cho các cá nhân và công trình này.


GS Trần Quang Hải và vợ- ca sĩ Bạch Yến trong lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS.TS Trần Văn Khê tổ chức tại Nhạc viện Tarveny - Pháp ngày 3-10-2015. Ảnh: Thanh Hiệp

GS Trần Quang Hải và vợ- ca sĩ Bạch Yến trong lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS.TS Trần Văn Khê tổ chức tại Nhạc viện Tarveny – Pháp ngày 3-10-2015. Ảnh: Thanh Hiệp

Tiến sĩ, nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Thị Hải Phượng – học trò của GS.TS Trần Văn Khê nhận xét: “Theo tôi, không nên từ bỏ di nguyện của thầy Khê; nếu không lập được quỹ thì vẫn giữ tên giải thưởng và GS Trần Quang Hải là người có quyền quyết định cao nhất trong việc trao số tiền này cho những người có sự đóng góp đáng quý cho việc nghiên cứu, truyền bá âm nhạc dân tộc như di nguyện của thầy”.

GS Trần Quang Hải
GS Trần Quang Hải

NSND Kim Cương tâm sự: “Bao nhiêu hoài bão và di nguyện của GS.TS Trần Văn Khê đã không thực hiện như mong muốn. Đó là điều đáng tiếc”.


GS Trần Quang Hải giới thiệu về âm nhạc dân tộc tại Pháp. Ảnh: NSCC

GS Trần Quang Hải giới thiệu về âm nhạc dân tộc tại Pháp. Ảnh: NSCC

Thanh Hiệp

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/tu-bo-lap-quy-tran-van-khe-gs-tran-quang-hai-ua-nuoc-mat-20160104185748621.htm

THANH HIỆP : Tìm lại chuẩn mực hát chầu văn

Tìm lại chuẩn mực hát chầu văn

 

04/01/2016 22:17

Nhiều người đổ xô đi học hát chầu văn theo trào lưu vì kiếm được nhiều tiền. Tuy nhiên, lề lối cổ xưa, chuẩn mực của không gian hát chầu văn hay niêm luật, thể điệu của ông cha truyền lại đã không còn

Ngày 5-1, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trên thế giới sẽ có mặt tại TP Nam Định tham dự hội nghị bàn tròn về việc lập hồ sơ trình Tổ chức UNESCO công nhận “Đạo Mẫu, lên đồng và chầu văn” là di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, thực trạng biến tướng của hát chầu văn đang là điều mà nhiều nhà nghiên cứu lo ngại.

Nhuốm màu mê tín

GS-TS Trần Quang Hải (Pháp), một trong những nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật hàng đầu thế giới, nhìn nhận: “Sự biến tướng này ảnh hưởng đến nhận thức của giới trẻ: xem chầu văn, lên đồng là hoạt động buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan. Vì thế, cần phải chấn chỉnh ngay thực trạng này”.

Theo GS-TS Hải, không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đưa nghệ thuật hát chầu văn lên hàng đầu trong năm 2016 với hàng loạt sự kiện hội nghị, hội thảo, tổ chức nghiên cứu, khảo sát để sớm hoàn tất hồ sơ trình UNESCO, trước cả nghệ thuật hát then, bài chòi. Bởi lẽ, loại hình nghệ thuật dân tộc này đang phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, nước ta có hơn 1.000 người hát chầu văn, người cao tuổi nhất là 93, ít tuổi nhất là 16.

“Cái dễ của người hát chầu văn hiện tại là nhiều lời hát Hán – Nôm đã được dịch sang quốc ngữ. Các phần biểu diễn của cung văn được đưa lên internet rất nhiều và việc học trở nên thuận lợi hơn bao giờ hết. Thế là người người đổ xô đi học hát chầu văn theo trào lưu vì kiếm được nhiều tiền nhưng lề lối cổ xưa, chuẩn mực của không gian hát chầu văn, những niêm luật, thể điệu của ông cha truyền lại đã không còn” – GS-TS Trần Quang Hải lo ngại.

 tim-lai-chuan-muc-hat-chau-van

NSƯT Văn Tỵ và các cung văn thể hiện những thể điệu hát chầu văn Ảnh: CUNG HƯNG

 

Ông Hải cho rằng nhiều cung văn trẻ đa phần không biết ngũ cung, không biết “up”, “chênh” (những làn điệu hát văn cổ) mà chỉ thuộc lối “xá” đơn giản là đã hành nghề ở các điện, phủ, cốt sao được nhiều bà đồng yêu quý, ban lộc. Hiện nay, giá một cỗ chầu văn hơn 100 triệu đồng, chưa kể vàng mã đốt phung phí. Những người tham gia cúng cỗ chầu văn thì đem tiền, vàng, ngoại tệ để đổi lấy lời phán truyền hết sức mê tín dị đoan.

Hơn nữa, theo nghệ nhân Văn Tỵ, việc biến tấu hát chầu văn theo kiểu dùng ngôn từ “rẻ tiền” đang có xu hướng gia tăng, chẳng hạn: “Họ Trần ơi, đừng ngại chớ lo, ván này mà hầu mất một thì cuối năm ăn lộc mười”. Tất cả đã làm giảm đi vẻ đẹp vốn có của hát chầu văn.

Đừng để biến tướng thêm

Theo GS-TS Ngô Đức Thịnh (Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam), bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với lời văn trau chuốt, nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát chầu văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát chầu văn là cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Vào thời kỳ này, thường có các cuộc thi để chọn người hát cung văn.

Từ năm 1954, hát chầu văn dần dần mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan. Đến đầu những năm 1990, hát chầu văn lại có cơ hội phát triển. Các trung tâm hát chầu văn là Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội.

“Hiểu sai mục đích, làm lệch đi giá trị đẹp mang tính nhân văn sâu sắc của nghệ thuật này tức là chúng ta làm giảm đi giá trị của hát chầu văn” – GS-TS Ngô Đức Thịnh nhận xét.

Cách đây 2 năm, tại TP Nam Định và huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam – Hội Di sản văn hóa Việt Nam, Chi hội Folklore châu Á phối hợp với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và châu Á – Bản sắc và giá trị”. Hội thảo nhằm tôn vinh giá trị của Đạo Mẫu, lên đồng và chầu văn – di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Việt Nam; thực hiện chủ trương của nhà nước về việc lập hồ sơ trình UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời, đây là cơ sở khoa học để tăng cường quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa quần thể kiến trúc Phủ Dầy cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu, bảo tồn nghi lễ chầu văn và hát chầu văn của người Việt ở Nam Định.

Theo GS-TS Trần Quang Hải, từ cơ sở khoa học của hội thảo lần này, các chuyên gia nghiên cứu văn hóa thế giới sẽ trao đổi xung quanh vấn đề lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. “Theo tôi, trước hết, căn cứ vào lịch sử của tín ngưỡng Tứ phủ thì hát chầu là thể loại hình thành sớm hơn các thể loại dân ca khác” – ông cho biết.

Xuất phát từ hình thức diễn xướng dân gian trong các lễ hội, nghệ thuật chầu văn ra đời gắn liền với nghi thức tụng ca công đức của Thánh Mẫu (Liễu Hạnh) và Đức Thánh Cha (Trần Hưng Đạo). Không gian của nghệ thuật chầu văn cổ truyền là ở các đền, phủ, miếu thường kết hợp với hầu bóng. Người xưa quan niệm đó là phương thức hữu hiệu để mọi người có thể giao tiếp với Mẫu, với chư vị linh thần nhằm bày tỏ lòng biết ơn và hướng thiện. Đặc biệt, các Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Nhạc, Mẫu Thoải) là biểu tượng của tín ngưỡng dân gian trong tâm thức cộng đồng dân tộc.

 

Giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn

Trong cuộc sống đương đại, việc đưa nghệ thuật dân tộc nói chung, hát chầu văn nói riêng, vào học đường và có giáo trình giảng dạy, phân tích sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về bộ môn nghệ thuật này. “Theo tôi, nước ta có nhiều di sản văn hóa. Vì thế, phải tập trung lại thành giáo trình giảng dạy ở các cấp học để thế hệ trẻ biết rõ hơn về các di sản văn hóa của dân tộc, nhất là di sản đã được thế giới công nhận, từ đó góp sức bảo tồn, gìn giữ và phát huy” – GS-TS Trần Quang Hải nhấn mạnh.

 

Thanh Hiệp

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/tim-lai-chuan-muc-hat-chau-van-2016010421515438.htm

BĂNG CHÂU : GS Trần Quang Hải từ bỏ việc thành lập quỹ và nhà tưởng niệm Trần Văn Khê

Thứ hai, 04/01/2016 – 12:10

GS Trần Quang Hải từ bỏ việc thành lập quỹ và nhà tưởng niệm Trần Văn Khê

Dân trí Theo thông tin riêng của GS Trần Quang Hải – Trưởng nam của cố GS-TS Trần Văn Khê gửi cho báo Dân trí, ông quyết định sẽ từ bỏ dự án thành lập quỹ Trần Văn Khê và xây dựng nhà tưởng niệm Trần Văn Khê.
 >> Bàn giao nhà GS.TS Trần Văn Khê để làm nhà lưu niệm
 >> Tái bản tự truyện của cố GS.TS Trần Văn Khê
 >> “Có lẽ rất lâu nữa Việt Nam mới lại có một GS Trần Văn Khê thứ 2”

Ngày 3/1, GS Trần Quang Hải đã gặp gỡ báo PV Dân trí để chia sẻ những quyết định quan trọng của ông về việc thực hiện di nguyện của GS-TS Trần Văn Khê đã có những thay đổi ngoài dự kiến.

GS Trần Quang Hải đang có mặt tại TPHCM. Lần đầu tiên GS Hải chính thức lên tiếng về vế vấn đề thực hiện di nguyện của cha và tham gia hội thảo chầu văn tại thành phố Nam Định.
GS Trần Quang Hải đang có mặt tại TPHCM. Lần đầu tiên GS Hải chính thức lên tiếng về vế vấn đề thực hiện di nguyện của cha và tham gia hội thảo chầu văn tại thành phố Nam Định.

Lý do đành từ bỏ 2 dự án theo di nguyện của cha

Cụ thể sự việc, GS Trần Quang Hải cũng đã trình bày trong thư ngỏ gửi đến cho những thành viên trong Ban tang lễ Trần Văn Khê, nội dung thư ngỏ như sau:

“Thư ngỏ gởi cho những vị của ban tang lễ Trần Văn Khê

Sài Gòn 1/1/2016

Trong thời gian qua từ ngày tưởng niệm 100 ngày cha tôi quá vãng, tôi đã suy nghĩ nhiều về việc thành lập quỹ Trần Văn Khê (Q-TVK) và việc thỉnh nguyện chuyển ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai trở thành trung tâm Trần Văn Khê (TT-TVK). Sau cùng tôi lấy quyết định từ bỏ hai dự án trên vì những lý do sau đây:

1. Việc thành lập Q-TVK rất khó thực hiện được vì tôi là người nước ngoài, có rất nhiều trở ngại để lo việc quản lý trực tiếp Quỹ này một cách chu đáo. Q-TVK sẽ phải gặp nhiều khó khăn về phương diện thủ tục hành chánh và tài chánh. Q-TVK cần phải có trụ sở nhất định, và phải có một ngân khoản thường trực để trang trải mọi chi phí không thể tránh được. Hiện giờ Q-TVK chỉ có một ngân khoản trị giá 700 triệu đồng Việt-Nam trích từ tiền phúng điếu cố Giáo Sư Trần Văn Khê. Tư gia của cố Giáo Sư, ngôi nhà số 32 đường Huỳnh Định Hai, dù có triển vọng sẽ được dùng làm trụ sở vĩnh viễn cho TT-TVK, nhưng tương lai của dự định này chưa biết sẽ đi tới đâu và trong thời gian nào.

2. Tôi có nhận được thơ của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch chấp nhận việc thành lập TT-TVK ở ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai. Nhưng tôi phải liên lạc với Ủy ban Văn hóa thành phố thường xuyên để giải quyết những thủ tục cần thiết của ủy ban này. Vì định cư ở nước ngoài, tôi không thể có mặt thường xuyên tại Việt Nam để đảm trách việc này. Về phương diện tài chánh, với số tiền hưu trí rất khiêm nhường của tôi tại Pháp, tôi không đủ khả năng phụ trách vấn đề tài chánh mà TT-TVK sẽ đòi hỏi. Vì vậy, tôi rất tiếc phải quyết định từ bỏ việc thành lập trung tâm Trần Văn Khê.

3. Sau đây là ý kiến tôi muốn đề nghị để kết thúc một cách tốt đẹp việc liên hệ đến cha tôi, cố Giáo Sư Trần Văn Khê. Số tiền phúng điếu hiện đang còn sẽ được phân chia một cách minh bạch cho:

  1. Giải thưởng Trần Văn Khê (nếu tổ chức sẽ được hoàn tất,)
  2. Anh Nguyễn Tri Triết để lo việc cúng bái bàn thờ Trần Văn Khê tại Vĩnh Kim
  3. Quà tặng những nghệ sĩ nghèo ở nhà dưỡng lão nghệ sĩ quận 8
  4. Quà tặng cho nghĩa trang nghệ sĩ
  5. Quà tặng cho những cây đại thụ của nền cổ nhạc hiện sống trong túng thiếu.

Tôi mong những vị trong ban tang lễ sẽ chấp nhận đề nghị của tôi để cho việc này được hoàn thành tốt đẹp.

Tôi xin thành thật cám ơn tất cả quý vị trong ban tang lễ đã bỏ rất nhiều thời giờ quí báu giúp gia đình chúng tôi lo việc tang lễ của cha chúng tôi một cách thật chu đáo và long trọng.

Lá thư này sẽ được gởi cho tất cả những người trong ban tang lễ để thông tin và được thỉnh ý của quý vị.

Trân trọng

GS-TS Trần Quang Hải.

Trưởng nam cố GS-TS Trần Văn Khê.”

Sau khi thư ngỏ của GS Trần Quang Hải được gửi cho các thành viên trong ban tang lễ. Chúng tôi có hỏi thêm từ nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Đắc Xuân, người phụ trách ban tang lễ cùng với GS Hải. Về sự việc này, NNC Nguyễn Đắc Xuân cho biết: “GS Trần Văn Khê có di chúc đề nghị tôi sẽ tham gia vào những việc trên, nhưng tôi cũng đã lớn tuổi và không ở TPHCM, nên tôi chỉ lo được việc tang lễ, còn Q-TVK đó tôi có nhờ anh Hải và những thành viên trong gia đình cùng những người trong Ban tang lễ tại thành phố lo giúp. Hôm nay GS Trần Quang Hải cho biết vì những khó khăn khó vượt qua nên đã có ý kiến sử dụng số tiền để lập quỹ cho một số việc khác (theo thống kê cụ thể). Về việc này, anh Hải có trách nhiệm lớn nhất và tôi rất hoan nghênh. Nhưng nếu được, tôi đề nghị trích 200 triệu trong 700 triệu đó để giúp xuất bản một số công trình về dân tộc nhạc học của các nhà nghiên cứu có công trình mà không có tiền xuất bản theo mong muốn của GS Trần Văn Khê.  Với 200 triệu đó GS Trần Quang Hải và Ban tang lễ sẽ thành lập một hội đồng để quản lý và thông báo trên báo chí để các nhà nghiên cứu biết, kêu gọi họ gửi bản thảo đến để mình xét duyệt, tài trợ. Đây là mong muốn của thầy Khê”.

Và theo chia sẻ từ GS Hải, ông cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến của NNC Nguyễn Đắc Xuân.

Buồn vì di nguyện của cha không được thực hiện

Chia sẻ về việc tạm ngưng những hoạt động trên do không có người quản lý tại Việt Nam, GS Trần Quang Hải cũng nói, ông cảm thấy rất buồn vì không thể hoàn thành tâm nguyện của cha, bởi thực tế có nhiều việc đã vượt khỏi khả năng mà ông có thể làm.

GS Hải cũng cho biết thêm, ông không thể ủy quyền cho em trai ông là Kiến trúc sư (KTS) Trần Quang Minh thay mặt thực hiện những việc trên tại Việt Nam, vì hiện tại KTS Trần Quang Minh đã thực hiện những việc trái với di nguyện của cha.

Như thông tin một số báo đã đưa ra trước đó, ngày 26/12/2015 vừa qua, KTS Trần Quang Minh đã mang hài cốt của GS Trần Văn Khê từ nhà riêng tại TP.HCM tới an vị tại Linh Hoa Tuệ Đàn, thuộc Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. Việc này được thực hiện dưới sự ủy thác của các con gái của cố GS Trần Văn Khê tại Pháp, nhưng đã không thông qua GS Trần Quang Hải và các thành viên trong ban tang lễ.

GS Trần Quang Hải cho biết, ông cảm thấy buồn vì theo di nguyện của cha trước khi mất, hài cốt sẽ được mang về Vĩnh Kim (Tiền Giang), bên cạnh mộ phần của cha mẹ và dòng tộc bao đời nay vẫn ở đó. Tuy việc mang hài cốt của cha ông về Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương, có một không gian thờ phượng và tưởng niệm để phục vụ cho những cuộc giao lưu về giáo sư Khê và những nghiên cứu âm nhạc dân tộc cũng là một ý tốt, nhưng không phù hợp với điều cha ông khi còn sống mong muốn. Ngoài ra, GS Trần Văn Khê đã có thời gian sống và làm việc tại TPHCM trong những tháng ngày còn lại của cuộc đời nhưng không có nơi để tưởng nhớ GS tại đây là điều đáng tiếc.

Chia sẻ về việc này, nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Đắc Xuân cho biết: “Theo tôi, không ai đồng ý để mang hài cốt của thầy về Bình Dương, nhưng chúng ta phải làm cái có thể chứ không thể làm điều chúng ta muốn. Trần Quang Minh đang thờ ở đó dù không hỏi ai nhưng mọi người cũng lặng lẽ để ông thực hiện. ít ra cũng có một số người không ở trong Ban tang lễ nhưng có liên hệ thân thiết với thầy Khê ủng hộ. Dù sao thờ thầy ở Nghĩa trang Hoa viên Bình Dương cũng tốt hơn để thờ ở nhà riêng của người con thường có cuộc sống trái ý thầy. Tôi chỉ muốn nói ý nghĩ của mình, chuyện thờ GS Trần Văn Khê có bình tro cốt rất ý nghĩa, nhưng cũng có biết bao nhiêu nhà thờ các danh nhân không hề có bình tro cốt nào mà vẫn được linh thiêng, trân quý. Điều quan trọng là tấm lòng của những người yêu kính Trần Văn Khê. Không những thờ GS Trần Văn Khê ở Vĩnh Kim, ở Hoa viên nghĩa trang Bình Dương, tất cả những nơi nào quý trọng dân tộc nhạc học, quý trọng người đã dày công nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt thì vẫn có thể lập bàn thờ để thờ Trần Văn Khê. Đã quá buồn về những việc bất như ý sau lễ tang GS Trần Văn Khê, nay không nên xới xáo một việc gì nữa. Càng xới xáo những việc không ở trong tay mình càng làm đau lòng người đã mất mà thôi.”

Hiện tại, GS Trần Quang Hải đang có mặt tại Việt Nam để tham gia hội thảo quốc tế về hát chầu văn cho hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại do Viện nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật được tổ chức tại thành phố Nam Định. Sau đó ông cũng sẽ quay về Pháp tiếp tục công việc của mình.

Băng Châu (Thực hiện)

http://dantri.com.vn/van-hoa/gs-tran-quang-hai-tu-bo-viec-thanh-lap-quy-va-nha-tuong-niem-tran-van-khe-20160104080312105.htm

ập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

Lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia  Vừa qua, tại Thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam (Hội Di sản văn hóa Việt Nam), Chi hội Folklore châu Á phối hợp với Sở VH, TT và DL tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và châu Á – Bản sắc và giá trị”. GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Folklore châu Á nêu rõ, hội thảo là sự kiện quan trọng nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 750 năm Thiên Trường – Nam Định, nhằm tôn vinh giá trị của Đạo Mẫu, lên đồng và chầu văn – di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Việt Nam và thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc lập hồ sơ trình UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời là cơ sở khoa học để tăng cường quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá quần thể kiến trúc Phủ Dầy cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu, bảo tồn nghi lễ chầu văn và hát chầu văn của người Việt ở Nam Định.

Cơ sở khoa học để Bộ VH, TT và DL đồng ý để tỉnh ta đại diện cho các địa phương trong cả nước lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trước hết, căn cứ vào lịch sử của tín ngưỡng Tứ phủ, thì hát văn là thể loại hình thành sớm hơn so với các thể loại dân ca khác; đồng thời Nam Định là vùng quê giàu truyền thống văn hiến, là cái nôi của nghệ thuật chầu văn. Xuất phát từ hình thức diễn xướng dân gian trong các lễ hội, nghệ thuật chầu văn ra đời gắn liền với nghi thức tụng ca công đức của Thánh Mẫu (Liễu Hạnh) và Đức Thánh Cha (Trần Hưng Đạo). Không gian của nghệ thuật chầu văn cổ truyền là ở các đền, phủ, miếu, thường có kết hợp với hầu bóng. Người xưa quan niệm, đó là phương thức hữu hiệu để mọi người có thể giao tiếp với Mẫu, với các chư vị linh thần nhằm bày tỏ lòng biết ơn và hướng thiện; đặc biệt, các Mẫu Tứ phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Địa, Mẫu Nhạc, Mẫu Thoải) là biểu tượng của tín ngưỡng dân gian trong tâm thức cộng đồng dân tộc.

Hầu đồng tại Đền Mẫu Phủ Dầy.

Hầu đồng tại Đền Mẫu Phủ Dầy.

Qua kiểm kê của ngành VH, TT và DL, toàn tỉnh hiện có 287 di tích gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, thờ Đức Thánh Trần liên quan đến “Nghi lễ chầu văn”. Trong đó, quần thể di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái (Vụ Bản) vừa là trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh đồng thời cũng là nơi thường xuyên diễn ra hoạt động nghi lễ chầu văn. Tại huyện Ý Yên có 26 di tích liên quan đến Thánh Mẫu, nhưng tập trung nhiều nhất ở xã Yên Đồng như: Phủ Nấp, phủ Đồi, chùa Đồi, Từ đường họ Phạm… Đối với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần thì trung tâm của tín ngưỡng tập trung ở Thành phố Nam Định (đền Cố Trạch nằm trong cụm di tích Đền Trần, tại phường Lộc Vượng) và huyện Mỹ Lộc (đền Bảo Lộc, tại thôn Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc). Trong không gian di tích, nhân dân thường phối thờ theo kiểu “Tiền Phật, hậu Thánh”, có ban thờ Đức Thánh Trần và Tam tòa Thánh Mẫu. Về hình thức nghệ thuật, nét độc đáo của nghệ thuật chầu văn Nam Định là rất đa dạng hình thức biểu hiện như: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu đồng và hát thi. Hát thờ: thường được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh (ngày thánh đản sinh, ngày thánh hóa…) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng (còn gọi là hát văn công đồng). Ngoài ra, tại một số di tích từ đường dòng họ có hát thờ để ca ngợi công đức tổ tiên… Hát cửa đền thường diễn ra tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Hát hầu được sử dụng trong nghi lễ chầu văn hầu bóng theo tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ. Trong các hình thức trên thì hát hầu đồng là phổ biến nhất của nghệ thuật chầu văn Nam Định, bởi gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Các bài văn tùy thuộc vào từng giá hầu mà có nội dung phù hợp. Bài văn thường sử dụng thể thơ lục bát, song thất lục bát, hay biến thể 4-7 hoặc 5-8… Trong nghệ thuật chầu văn Nam Định, có hệ thống làn điệu phong phú, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm như: bỉ, miễu, phú bình, phú chênh, phú nói, phú rầu, đưa thơ, vãn, dọc, cờn, hãm và dồn. Xen kẽ những đoạn hát là nhạc, gọi là lưu không. Các điệu chầu văn như hát cờn, hát phú, hát dọc, hát xá…, mỗi điệu đòi hỏi một kỹ thuật riêng, trong đó hát phú là khó nhất, vừa lấy hơi sâu vừa phải giữ hơi dài, hát liên tục, nối nhanh các điệu với nhau để tránh rời rạc và phải kết hợp trống, phách, nhị.

Trong quá trình hình thành, phát triển, chầu văn được bổ sung, giao thoa các làn điệu của các thể loại âm nhạc truyền thống khác như hát chèo, ca trù, hát xẩm. Hiện tại ở tỉnh ta có 470 người trực tiếp tham gia thực hành “Nghi lễ chầu văn”, trong đó, hầu đồng là 246 người, chiếm 52,34%; hát văn (cung văn) là 245 người, chiếm 52,12%; sử dụng nhạc cụ là 162 người chiếm 34,46%. Đối với các cung văn phải có giọng hát trong trẻo, truyền cảm, trữ tình, mềm mại phù hợp với tính cách nữ tính của người Mẹ – Thánh Mẫu trong hệ thống thần điện Tứ phủ. Người cung văn khi hát lời cổ phải thể hiện được nội tâm, tính cách của các vị Thánh. Theo số liệu điều tra khảo sát, trong tổng số người hát văn (cung văn) của tỉnh, có trên 240 người hát được các bài văn cổ, tiêu biểu như cung văn: Đào Thị Phòng, 70 tuổi, Hoàng Thị Lương 84 tuổi ở huyện Ý Yên; cung văn Bùi Văn Đông ở huyện Xuân Trường… Đó là những cung văn giàu kinh nghiệm vừa hát vừa phối hợp sử dụng các nhạc cụ như: đánh đàn, gõ phách, trống.

Từ trong các đền, phủ, với vai trò là một phương tiện nghệ thuật phục vụ tín ngưỡng tâm linh, nghệ thuật chầu văn đã “chuyển mình” vào sân khấu, có sức sống lan tỏa trong đời sống, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân. Các bài hát văn được soạn lời mới có nội dung ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, cổ vũ khối đoàn kết toàn dân chung sức, đồng lòng đứng lên đánh giặc, chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Về cơ bản, các bài hát văn có chất liệu và giai điệu âm nhạc vui tươi, trong sáng, được chắt lọc từ nghệ thuật chầu văn cổ truyền mang hơi thở và nhịp sống đương đại. Năm 1962, tại hội diễn ca múa nhạc dân tộc khu vực phía Bắc, tiết mục “Nam Định quê tôi” do Đoàn văn công Nam Định biểu diễn đã tạo nên sức sống mới của nghệ thuật hát văn. Từ đó các tiết mục hát văn do diễn viên độc tấu, song tấu, tam ca, tốp ca, tốp múa xuất hiện ngày càng nhiều trên sân khấu, được công chúng đón nhận, trở thành phương tiện nghệ thuật phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Qua giọng hát của NSƯT Kim Liên, Thế Tuyền, Kim Ngân, nghệ thuật chầu văn và các tiết mục hát văn Nam Định ngày càng có sức lan tỏa như các tiết mục: “Gái đảm Nam Hà”, “Mùa sen dâng Bác”, “Trẩy hội quê hương”, “Hoa dũng sỹ”, “Mừng Việt Nam đại thắng”. Các đơn vị nghệ thuật của tỉnh và các tổ, đội văn nghệ quần chúng trên địa bàn toàn tỉnh tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, dàn dựng nhiều tiết mục hát văn và nghệ thuật chầu văn qua các giá đồng, tham dự các hội diễn, liên hoan khu vực và toàn quốc đoạt nhiều giải thưởng cao. Hiện nay, toàn tỉnh có 6 CLB Chầu văn hoạt động có hiệu quả như: CLB Hát văn Hành Thiện (Xuân Trường), Đoàn nghệ thuật dân ca Hương Quê Thị trấn Mỹ Lộc, CLB Thơ ca Mỹ Trung (Mỹ Lộc), CLB Chầu văn huyện Ý Yên, CLB Thơ ca – nghệ thuật truyền thống huyện Hải Hậu… Bên cạnh đó, ở huyện Vụ Bản, đã ra mắt CLB Bảo tồn nghệ thuật chầu văn Việt Nam chi hội tỉnh Nam Định, gồm 120 hội viên, là nghệ nhân, các nghệ sỹ hát văn, chơi đàn chuyên nghiệp; các nhà nghiên cứu; các nhà quản lý văn hoá; những người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và những người yêu thích nghệ thuật chầu văn. Việc ra đời của CLB Bảo tồn nghệ thuật chầu văn Việt Nam tại Nam Định được coi là một trong những « bước đệm” thúc đẩy công tác lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. CLB có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa nhằm tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện về nghệ thuật chầu văn; đào tạo và truyền dạy các bản văn cổ; quảng bá và giới thiệu nghệ thuật chầu văn tới công chúng trong và ngoài nước; xây dựng đạo đức nghề nghiệp; tìm kiếm tài trợ cho nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, học tập hát văn; tổ chức thực hành nghề và nâng cao năng lực cho hội viên.

Như vậy, việc nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị Nhà nước đưa “Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là định hướng đúng đắn nhằm bảo tồn, phát huy một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc, góp phần gìn giữ tinh hoa truyền thống, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

http://mantico.hatvan.vn/fdgfdgfd/lap-ho-so-khoa-hoc-nghi-le-chau-van-cua-nguoi-viet-o-nam-dinh-dua-vao-danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia.html

KIM DUNG : NGHI LỄ CHẦU VĂN CỦA NGƯỜI VIỆT

Nghi lễ Chầu văn của người Việt

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực Tập quán xã hội và tín ngưỡng, ra đời và phát triển trước hết gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ, được thực hành ở nhiều vùng, miền của đất nước, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ.

 

Nam Định là một trong những trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ và thờ Đức Thánh Trần, là nơi Nghi lễ Chầu văn còn được bảo lưu và tiếp tục trình diễn khá phổ biến, với chủ thể là những cung văn, thanh đồng, thủ nhang (người trông coi di tích), người hầu dâng, con nhang, đệ tử…hiện phân bố trên khắp 10 huyện và thành phố thuộc tỉnh Nam Định.

Nghi lễ Chầu văn còn được gọi là Hát văn – hầu đồng, Hát văn – hầu Thánh, Bắc ghế hầu đồng, Ngự đồng, Loan giá ngự đồng…, là một nghi lễ quan trọng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Đức Thánh Trần.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt phát triển mạnh ở Nam Định từ thế kỷ  XVII cùng với quá trình hình thành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản), phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc), đền Cố Trạch (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định)…, sau đó phát triển ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày càng lan tỏa ra nhiều vùng trên cả nước.

Giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) là thời kỳ thịnh vượng nhất của Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng, có sự tham gia của các quan lại địa phương và triều đình. Từ năm 1954 – 1990, vì nhiều lý do, Nghi lễ này không được công khai thực hành và bị mai một nhiều. Từ năm 2000 đến nay, cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, với các chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, Nghi lễ này được khôi phục, phát triển trở lại và nay còn được sân khấu hoá, trình diễn để phục vụ đời sống đương đại.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là một hình thức biểu đạt văn hóa, tín ngưỡng phức hợp gồm nghi lễ hầu đồng gắn với hát văn hay hát chầu văn, do thủ nhang, thanh đồng (ông/bà đồng), cung văn và một số người hầu dâng (người giúp việc thanh đồng) tiến hành trước các ban thờ ở các đền, điện, phủ, miếu, … gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ.

Trong nghi lễ hầu đồng, trước mỗi vấn hầu, những người tham gia phải chuẩn bị lễ vật, trang phục, đạo cụ trong múa hầu đồng phù hợp với từng giá hầu, phản ánh tính cách của từng vị thánh được hầu.

Lễ vật trong mỗi vấn hầu trước kia thường đơn giản. Vật phẩm cơ bản gồm xôi, thịt, hoa quả, trầu, cau, rượu, thuốc, vàng mã,… Ngày nay, lễ vật ngày càng phong phú, gồm cả những sản phẩm hàng hóa công nghiệp, thực phẩm đương thời, đắt tiền, dùng trong cả lễ mặn và lễ chay.

Trang phục của người trình diễn trong nghi lễ hầu đồng rất phong phú, đa

dạng, thể hiện tính cách và thị hiếu thẩm mỹ của từng cá nhân thực hành cũng như của tộc người và vùng miền mà các vị thánh đại diện, cai quản.

Mỗi vấn hầu được thực hành qua 4 bước: Mời thánh nhập hay Thánh giáng (ca ngợi công đức), phán truyền, ban lộc và đưa tiễn (Thánh thăng, cung văn hát điệu xa giá hồi cung, âm nhạc sôi động, náo nhiệt). Cũng có khi một vấn hầu chỉ gồm 3 bước: Phụ đồng (còn gọi là kiều bóng), bắt đầu hát câu vỉa ở thể lục bát, sau miêu tả diện mạo ông hoàng, bà chúa; bước 2 là Thánh nhập (hay dùng trà, thuốc, rượu) và bước cuối là Đồng thăng.

Mở đầu mỗi vấn hầu, thủ nhang/pháp sư thường đăng đàn cúng Phật, Thánh, sau đó người hầu đồng vào xin phép loan giá ngự đồng. Ông/bà đồng ngồi vào giữa bốn người hầu dâng và được người hầu dâng trùm lên đầu một vấn khăn màu đỏ, gọi là khăn phủ diện, và bắt đầu vấn hầu. Thường là mở đầu bằng giá Tam tòa thánh Mẫu. Tiếp theo đó, người có căn Đức Thánh Trần thì hầu giá Đức Thánh Trần. Trong nghi lễ hầu đồng, có tất cả 36 giá đồng, mỗi giá thờ một vị Thánh, nhưng một buổi hầu không phải bao giờ cũng hầu đủ 36 giá, mà thường là từ 8 đến 15 giá, tùy thuộc vào tâm nguyện của ông/bà đồng.

Tuỳ theo sự tích, công trạng, tính cách của từng vị thánh, thần mà ông/bà đồng thực hiện các điệu múa khác nhau, người ta gọi đó là múa đồng (múa thiêng) như: múa tay không, gồm: múa bắt quyết, múa ra ấn, múa tung nước thánh, múa ban lộc; múa có đạo cụ, gồm: múa mở hay khai quang (dâng nhang, dâng đèn), múa quạt, múa kiếm, múa long đao, múa kích, múa cung, múa hèo, múa lân…

Cung văn phục vụ trong mỗi cuộc hầu đồng thường gồm từ 03 đến 05 nhạc công, sử dụng đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la, đồng thời là những người biết hát văn. Cung văn phải luôn nhạy bén, ứng tác kịp thời và phù hợp với các hành động của ông/bà đồng, góp phần tạo điều kiện cho sự thăng hoa của người hầu đồng. Hiện nay còn có nhiều nhạc cụ mới (nhị, kèn, sáo, đàn thập lục, trống cơm…) tham gia cung văn. Các nghệ nhân cao tuổi có kỹ năng hát và kỹ thuật vê đàn, rung trống, gõ thanh la điêu luyện, tạo âm thanh hòa quyện, rung động lòng người.

Hát chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả… và âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà,… cũng thể hiện rất rõ nét trong kết cấu giai điệu của âm nhạc trong hát chầu văn. Trên thực tế, hát văn hay hát chầu văn còn có thể tồn tại riêng biệt. Ở Nam Định, hát văn biểu hiện chủ yếu dưới hình thức hát hầu trong các giá đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu và hát cửa đền ở các di tích thờ Đức Thánh Trần, diễn ra trong cả năm, nhưng tập trung nhất vào tháng Ba và tháng Tám Âm lịch. Những năm gần đây, còn có hát thi trong lễ hội Phủ Dầy. Một số làn điệu cơ bản của hát văn gồm: Vỉa (thường ở giai đoạn bắt đầu, lời văn thể lục bát), Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Kiều dương, Dọc, Cờn, Xá, Hãm, hay các điệu Lưu thuỷ, Dồn, Bỏ bộ…, với lời văn thường ở thể thơ lục bát và song thất lục bát.

Trong Nghi lễ Chầu văn của người Việt, các hình thức biểu đạt, động tác múa, âm nhạc và lời hát văn đều mang dấu ấn lịch sử, ghi lại sự tích và ca ngợi công đức của những nhân vật lịch sử có công với dân, với nước. Về giá trị văn hóa, Nghi lễ Chầu văn của người Việt là tín ngưỡng bản địa, tích hợp các hình thức văn hoá dân gian khác nhau như: âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức dân gian, ca hát, nhảy múa, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, ẩm thực… trong một thể thống nhất hữu cơ hoàn chỉnh, trong đó yếu tố “sân khấu” kết hợp chặt chẽ với yếu tố tâm linh, phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên, xã hội của cộng đồng. Tín ngưỡng này vừa bảo tồn các giá trị truyền thống như « uống nước nhớ nguồn », vừa được cộng đồng tái tạo, tích hợp các giá trị văn hoá mới, để thích ứng với điều kiện cuộc sống hiện đại, vì vậy nó có sức hấp dẫn cao đối với mọi người, nhất là những người theo tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và đang phục hồi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ vẫn đang truyền dạy, chỉ bảo tại chỗ theo phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác. Theo kết quả kiểm kê bước đầu (năm 2012), riêng tỉnh Nam Định có 12 hội, bản hội, 06 câu lạc bộ, trong đó có 245 cung văn, 246 ông/bà đồng, 162 nhạc công, 16 người hầu dâng thường xuyên thực hành, gìn giữ di sản này tại 287 di tích trên toàn tỉnh. Tuy vậy, những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ… phần lớn đã tuổi cao, sức yếu nhưng kinh nghiệm, vốn kiến thức của họ chưa được khai thác kịp thời, tình trạng thương mại hoá, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh”, hiện tượng « đồng đua », mua sắm nhiều lễ vật đắt tiền, đốt vàng mã nhiều gây tốn kém và ô nhiễm môi trường còn tồn tại khiến nghi lễ này có nguy cơ bị biến dạng…

Nghi lễ Chầu văn của người Việt được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho lập hồ sơ trình UNESCO đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong giai đoạn tới và đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1), loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng, tháng 12 năm 2012.

Kim Dung (Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Sự kiện qua ảnh

59

Tìm kiếm

Liên kết website