ANH VŨ : Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long, nơi có những người đang giữ gìn nghiệp tổ Ca trù

Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long, nơi có những người đang giữ gìn nghiệp tổ Ca trù

  Anh Vũ

Bài đăng ngày 20/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày  20/01/2010 12:52 TU

Ba thế hệ ca trù (ảnh do tác giả cung cấp)

Ba thế hệ ca trù (ảnh do tác giả cung cấp)

Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long ra đời năm 2006 nhằm gìn giữ và tôn vinh vẻ đẹp ca trù. Người sáng lập Câu lạc bộ này là chị Phạm Thị Huệ, giảng viên trẻ của nhạc viện Hà Nội, một con người đã bị ca trù hút hồn từ những ngày còn theo học bộ môn âm nhạc truyền thống ở nhạc viện Hà Nội.

Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long

20/01/2010

Giữa phố xá nhộn nhịp, hối hả của cuộc sống hiện đại ở Hà Nội, có một địa chỉ văn hóa đang dần trở nên quen thuộc đối với những người yêu ca trù, một loại hình cổ nhạc vừa mới được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần phải bảo vệ khẩn cấp, đó là đình Giảng Võ Hà Nội. Đều đặn cứ vào thứ sáu hàng tuần, và thứ bẩy đầu tiên trong tháng, các thành viên câu lạc bộ Ca trù Thăng Long lại hội tụ về đây, say sưa đàn hát những làn điệu ca trù truyền thống đang  có nguy cơ bị mai một.Đến với sinh hoạt của câu lạc bộ Ca trù Thăng Long còn có không ít những nhà nghiên cứu văn hóa, những người yêu  nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Điều đặc biệt là những làn điệu ca trù cổ xưa qua  nhịp, phách, trống, sênh và tiếng hát của các ca nương, đào đàn ở Câu lạc bộ đã thu hút khá đông đảo giới thanh niên học sinh sinh viên.

Câu lạc bộ ca trù Thăng Long

Câu lạc bộ ca trù Thăng Long

Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long ra đời chỉ với một mong muốn duy nhất, đó là tiếp nối người xưa, gìn giữ và tôn vinh vẻ đẹp ca trù. Người sáng lập Câu lạc bộ ca trù Thăng Long năm 2006 là chị Phạm Thị Huệ,  giảng viên trẻ của nhạc viện Hà Nội, một con người đã bị ca trù hút hồn từ những ngày còn theo học bộ môn âm nhạc truyền thống ở nhạc viện Hà Nội.Giờ đây chị là một đào nương ca trù duy nhất có thể vừa đàn vừa hát ca trù và là người phụ nữ đầu tiên chơi thành công nhạc cụ đàn đáy ở Việt Nam (loại nhạc cụ đặc trưng trong biểu diễn ca trù). Chị đã phải dày công lặn lội về tận nhà các đào nương một thời, học tập và luyện ngón đàn, tiếng ca để  được đắm mình trong niềm say mê ca trù và để truyền lại các đào nương, ca nương trẻ tuổi hiện nay. Chủ nhiệm Câu lạc bộ  ca trù Thăng Long vẫn nói chị đến với ca trù như là cai duyên « trời se », quả thực chị đang sống hết mình với cái duyên đó bằng một niềm đam mê cháy bỏng vì một loại hình nghệ thuật truyền thống đang có nguy cơ bi thất truyền.

Cô Phạm Thị Huệ

Cô Phạm Thị Huệ

Theo một  thống kê của Cục Di sản văn hóa Việt Nam số người biết đàn, hát, múa ca trù chỉ còn khoảng 769 người ở 14 tỉnh, thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh. Trong đó có 513 đào nương và 256 kép đàn, người đánh trống chầu. Quả là còn quá ít ỏi cho một loại ình âm nhạc có bề dày từ nhiều thế kỷ như Ca trù.Còn đối với đào nương Phạm Thị Huệ thì luôn đau đáu một câu hỏi. Tại sao người nước ngoài nói chung lại yêu thích ca trù trong khi các bạn trẻ Việt Nam chưa quan tâm tới ca trù, một phần quan trọng của di sản âm nhạc từ ngàn xưa để lại, đó là hồn Việt.

Trong những bộn bề, hối hả của cuộc sống hiện đại ngày nay như ở Việt Nam, Câu lạc bộ ca trù Thăng Long không chỉ là một địa chỉ văn hóa mà còn là nơi giữ gìn ngọn lửa ca trù cho các thế hệ tương lai.

http://www1.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6542.asp

TRỌNG THÀNH / RFI : Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Phát Thứ tư, ngày 07 tháng mười hai năm 2011
Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

Hát mó cá trong môn nghệ thuật Hát Xoan (theo Báo ảnh Việt Nam)

Môn nghệ thuật Hát Xoan của tỉnh Phú Thọ (Việt Nam) vừa được UNESCO – Tổ chức văn hóa, giáo dục của Liên Hiệp Quốc -, công nhận là « Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần phải được bảo vệ khẩn cấp », vào ngày 24/11/2011. Việc UNESCO công nhận Hát Xoan là một cơ hội quan trọng cho phép môn nghệ thuật này tiếp tục con đường hồi sinh.

Hát Xoan được UNESCO công nhận là di sản nhân loại là một tin vui đối với những người yêu âm nhạc cổ truyền. Hồ sơ dự tuyển của Hát Xoan Phú Thọ đã được nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật Việt Nam và quốc tế chuẩn bị rất công phu từ nhiều năm nay. Đây là hồ sơ duy nhất nhận được sự đồng thuận hoàn toàn của Ban thẩm định và đánh giá là hồ sơ tốt nhất trong số 10 hồ sơ đệ trình trình đợt này.

Hát Xoan, một môn nghệ thuật cổ truyền gắn với vùng đất truyền thuyết của các vua Hùng, được nói đến khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng thực sự còn tương đối ít được công chúng rộng rãi biết đến. Không ít người cho rằng, Hát Xoan đơn điệu và cổ lỗ, và có một thái độ « kính nhi viễn chi » đối với thể loại nghệ thuật cổ truyền này.

Trên thực tế, Hát Xoan đã một thời mai một. Sau cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Hát Xoan gần như không còn được tổ chức tại các phường hát vùng Phú Thọ. Số người biết Xoan và có thể truyền dạy cho lớp trẻ chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. Rất may mắn là trong thời gian khoảng hai mươi năm trở lại đây, việc phục hồi lại Hát Xoan đã được một số cơ sở văn hóa tại Việt Nam rất chú trọng. Việc UNESCO công nhận Hát Xoan là một cơ hội đặc biệt quan trọng cho phép môn nghệ thuật này tiếp tục con đường hồi sinh.

Trong tạp chí hôm nay, RFI chuyển tới quý vị, tiếng nói của các nhà nghiên cứu âm nhạc và nhạc sỹ về Hát Xoan. Khách mời của chúng ta là nhạc sỹ Đặng Hoành Loan và giáo sư Tô Ngọc Thanh từ Hà Nội, giáo sư Trần Quang Hải từ Paris và nghệ sĩ Trần Lãng Minh từ California.

Hát mùa phồn thực ngay trước ban thờ

Trước hết, giáo sư, nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, nguyên Phó viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, cho chúng ta biết một cách tổng quan về nghệ thuật Hát Xoan Phú Thọ. Nhạc sỹ Đặng Hoành Loan là người phụ trách chính của hồ sơ Hát Xoan Phú Thọ, trình UNESCO.

Đặng Hoành Loan : Nghệ thuật Hát Xoan ra đời từ rất sớm trong sinh hoạt của cư dân lúa nước ở Bắc Bộ. Tất cả các nghệ nhân hiện còn, ở lứa tuổi 104-105 cho tới các cụ ở tuổi 87, 88, đều nói rằng Hát Xoan là nghệ thuật hát thờ Vua Hùng. Cái đặc biệt của Hát Xoan là một môn nghệ thuật hát múa tập thể, môn nghệ thuật hát múa tập thể ấy được sinh hoạt trong một phường có tính chất chuyên nghiệp. Nghệ thuật ấy lấy cái trung tâm là các cô đào xoan. Và trong ấy chỉ có một người đàn ông gọi là người « dẫn cách » và một nhạc công, ngồi đánh trống. Còn tất cả chuyện trình diễn hấp dẫn của nghệ thuật hát xoan, chính là ở múa hát của các đào nương.

Cái nữa là, âm nhạc Hát Xoan có giai điệu hết sức mộc mạc, nhưng lại dễ nghe. Nó khác với Quan họ Bắc Ninh, hay các hình thức nghệ thuật khác, được rất nhiều nốt nhạc tô điểm, có nhiều biến hóa, … Điểm đặc biệt là, ở Hát Xoan, ngay trong một điệu hát cũng có sự « chuyển giọng » rất đột ngột, và sự chuyển giọng ấy gây cho nghệ thuật Hát Xoan có một sự hấp dẫn khác.

RFI : Thưa anh, nghệ thuật Hát Xoan vừa là môn ca hát đối đáp để giao duyên nam nữ, vừa là một môn múa hát để thờ thần, tại một trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Vậy, xin anh cho biết, giữa hai hoạt động này, quan hệ với nhau như thế nào ?

Đặng Hoành Loan : Hát Xoan trước hết là nghệ thuật múa hát để cầu hạnh phúc, cầu được Vua Hùng ban cho ân huệ. Đấy là mùa màng tốt tươi, nhân dân sinh được nhiều con cái. Để đạt được mục đích ấy, người ta thường chia làm ba chặng hát. Ba chặng hát có nội dung khác nhau, nhưng gắn kết vào một vấn đề : đấy là ước nguyện được sinh sôi, được giàu có và con đàn cháu đống. Vì vậy, những mặt này không mâu thuẫn với nhau.

Khởi đầu, người ta gọi là hát mời vua. Tức là nhân dân mời vua về để vua ngự xem dân làng ca hát.

Sau chặng hát mời vua, vua đã về ngự tọa tại đình làng, thì bắt đầu sang chặng, gọi là hát « Quả Cách ». Chặng hát Quả Cách ra đời sau này. Nếu đúng ra, sau khi mời vua về xem con dân ca hát, tức là những bài hát dân gian, những bài hát trao duyên, nhưng đến thời Lê, khi Nho giáo phát triển cực thịnh thì các thầy đồ, các nho sinh, ở vùng văn hóa đồi gò, tham gia vào trong tục Hát Cửa Đình này (tên gọi khác của Hát Xoan). Và như vậy, ra đời một chặng hát xen vào giữa : hát Quả Cách. Nội dung của hát Quả Cách cũng là ước mơ sinh sôi, đồng thời cũng là cảm xúc, tình cảm của các nhà văn đối với mùa xuân, mùa thu, mùa đông, … và đặc biệt là cái cảm giác của họ, cái ý nghĩ của họ, cái ca tụng của họ với bốn nghề gắn liền với đời sống của các cư dân vùng gò đồi : Sĩ, Nông, Công, Thương. Trong nghề Nông, thì có chăn trâu, đánh cá, cấy lúa, …

Giai đoạn thứ ba, là giai đoạn để vua về xem dân ca hát. Chặng hát này mang đầy tính phồn thực. Chúng ta thấy chặng thứ ba mà chúng ta thường nói, tức là chặng hát « trao duyên« , chính là chặng hát « phồn thực« . Ở đây có rất nhiều những điệu múa, bài ca tương đối cổ, thể hiện rõ nhất tinh thần ước mơ sinh sôi.

Khi vua về ngự xem con dân ca hát, thì con dân ca hát cái gì ? Ca hát xin được nhiều con, nhiều cái, xin được sinh sôi, và muốn được sinh sôi, thì xin được quan hệ nam nữ. Chính ở chặng thứ ba giao duyên này của Hát Xoan, duy nhất chỉ ở Hát Xoan, là có hát múa phồn thực. Chúng ta biết, có hai điệu hát rất phồn thực.

Thứ nhất là điệu Đi Chơi Bợm Gái (tức đi chơi bạn gái). Điệu này thể hiện cái tinh thần, thể hiện cái thèm khát của nam giới trước nữ giới, và người nữ giới cũng thể hiện cái thèm khát của mình trước người nam giới. Và cái điệu thứ hai, thể hiện sâu sắc cho ước vọng sinh sôi, cho các phồn thực ấy, là nằm trong điệu Mó Cá.

Mó Cá là điệu hát mà các cô đào xoan vòng tay làm thành lưới, và các chàng trai đứng giữa làm cá. Khi ấy, các chàng trai muốn thể hiện mình là người bắt cá, chứ không phải thụ động là con cá, vì vậy cho nên các anh chàng cá, thì lại biến thành các trai làng, và nhảy ra vồ vào các cô đào, với các điệu hát hết sức phồn thực. Và cùng với điệu hát ấy, các cô đào cất lên một tiếng hát rất hay : « là vông, vông tập, vông tập, tầm vông ». Vông tập, tầm vông, cái tiết tấu của nó như thách thức, như chào mời, như chờ đón những chàng trai làm cá nhảy ôm vào cái lưới. Chính điệu múa ấy là kết thúc đêm mời vua về xem con dân ca hát.

Bình thường ta vẫn nghĩ rằng, ở trước bàn thờ phải hết sức nghiêm túc, hết sức rụt rè, thì ở đây là việc mời vua về xem, con dân ca hát, xin được mùa màng tốt tươi, xin được hạnh phúc, …

Thang 3 nốt nhạc : dấu vết âm nhạc cổ sơ …

Giáo sư âm nhạc dân tộc học Trần Quang Hải cho chúng ta biết đặc điểm của âm nhạc Hát Xoan, một loại nghệ thuật rất cổ, với những ai chưa quen, cần phải có cách nghe thì mới cảm thụ được vẻ đẹp của nó :

Trần Quang Hải : Trong Hát Xoan có những giai điệu hơi tương tự với nhau, thì người nghe có thể nhàm chán. Nhưng tìm hiểu sâu xa hơn nữa, thì trong mỗi điệu hát, có một tiết tấu đặc biệt và lời hát rất đặc biệt và dựa trên các thang âm cũng rất đặc biệt. Hát Xoan là một nghệ thuật âm nhạc có nhiều thang âm khác nhau. Có những thang âm chỉ có ba nốt nhạc. Trong đa số các thể loại hát của Việt Nam, giống như Quan Họ, Cò Lả, Trống Quân, đều dựa trên thang âm ngũ cung. Trong khi đó, ở Hát Xoan có thang âm tam cung, tứ cung và ngũ cung. Điệu nhạc tam cung, rất cổ, có thể dính liền với âm nhạc thời các vua Hùng.

Hát Xoan bao gồm hát, múa, thơ và có tiết tấu. Ở trong các « điệu » khác tại Việt Nam, không có đủ hết những cái đó. Ví dụ như trong Nhạc cung đình, chỉ có nhạc và múa thôi, chứ không có hát, đối đáp, trong Quan Họ, chỉ có hát đối, hát đáp mà không có tiết tấu, còn trong Ca Trù, chỉ có hát, đờn mà không có múa.

Hát Xoan có một phương thức trình diễn, hình thành từ lâu đời, đó là « lề lối » của Hát Xoan. Nói lề lối tức là nói các quy chế truyền thống. Dân ca địa phương nào cũng có lề lối riêng. Ví dụ như Quan Họ có lề lối hát bộ, hát chèo thuyền, hát ngoài trời, hát trong nhà, hay có một trình tự diễn xuất, đi từ « hừ là, hừ la », … đến giã bạn… Còn trong Hò Sông Mã thì có trình tự hò theo năm giai đoạn : hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến. Hát Xoan trước hết có hát ở ngay trước cửa Đình, rồi hát vào trong Đình, rồi hát theo giọng nghi lễ. Rồi đến giai đoạn thứ ba, hát Xoan, hát chọc ghẹo thì khác, rồi đến khi hát giã bạn, thì cũng giống như trong Quan Họ, tức là mình hát để từ giã nhau, hẹn nhau trong năm tới, sẽ trở lại hát nữa.

Bến đò – nơi mở đầu cho sự giao tình

Hát Xoan không chỉ dừng lại ở đình hay miếu, không gian của Hát Xoan trải rộng từ trung tâm của làng cho đến bến đò. Chính ở bến đò, nơi phường hát từ làng bạn cập bến, là nơi bắt đầu cho một sự giao tình. Giáo sư Trần Quang Hải mô tả :

Trần Quang Hải : Có những tục lệ riêng, thí dụ như ở hai phường An Thái và Phú Đức, cùng qua cái sông sang Đức Bắc, ở hai bến đò khác nhau. Trai Đức Bắc đem trống cơm ra đón xuân ở cả hai nơi.

[Sách kể lại] trai Đức Bắc, cứ vài ba anh, vây lấy một cô đào xoan, đưa trống, quàng dây, buộc trống vào cổ cô đào. Có nhiều anh mang trống chẳng buộc dây, dúi trống vào tay cô đào, và hát như thế này : « Trống anh còn chửa có quai, mượn nàng bưng lấy rồi mai nên gần ». Nếu cô đào ưng mà nhận trống, thì phải hát trả lại « Nửa mai nên Tấn, nên Tần, bao giờ bưng trống mới gần được nhau ». Thành ra, hai bên hát qua, hát lại. Đi từ bến đò đến Đình, chỉ một đoạn ngắn thôi, mà có khi hát cả mấy tiếng đồng hồ. Thí dụ như hát rằng : « Đi đâu từ sớm tới giờ, để cho tin đợi, tin chờ, tin mong », « Cách sông em phải lụy thuyền, những như đường liền em tới sang ngay » hay là « Bây giờ bắt gặp nhau đây, hỏi rằng, duyên ấy, nợ này làm sao », v.v.

Tất cả các chuyện ấy cho thấy, lúc đó là người ta bắt đầu ca hát [làm quen] để giao duyên. Có những nơi, người ta thấy rằng, hai bên hát chung với nhau thì nó vui, rồi đến khi chót cùng, người ta mới hát giã từ với nhau. Hát giã từ là các loại « múa cá » này kia, rồi có lúc bắt đầu bằng hát « đố chữ« , … mà [nếu vui], cũng có thể là hát thêm qua một đêm thứ hai.

Tức hứng và tự nhiên, cái hấp dẫn trong nghệ thuật Hát Xoan

RFI : Điều này rất là hay. Cái mà giáo sư nói, cho thấy giai đoạn chưa phải là chính thức : hát ở bến đò, hát để mời nhau, để tìm hiểu nhau, lại chính là cái giai đoạn gây một cái hưng phấn. Đây chính là lúc hai bên bắt đầu một đợt hát kết giao, đợt hát trải dài qua các chặng hát trong đình, sẽ khép lại với cuộc hát giao duyên hết sức sinh động trong phần kết. Hát giao duyên trong khuôn khổ của nghệ thuật Hát Xoan cần phải được hiểu như thế nào ? Xin Giáo sư hé mở thêm một vài giá trị của phần này !

Trần Quang Hải : Nghe Hát Xoan phải nghe bằng lỗ tai, và nhận thức được sự phong phú trong lời ca, trong sự ứng tác. Trong ứng đối giữa hai bên trai gái tham gia Hát Xoan có sự tức hứng rất phong phú. Con trai chọc con gái, con gái trả lời lại qua phương thức, dùng cái quả Đúm.

Đúm là một chiếc khăn, bọc trầu cau, và có những đồng tiền. Cô gái cầm quả Đúm liệng cho người con trai nào, thì người ấy phải trả lời.

Các câu chọc ghẹo được trao đổi, chọc ghẹo nghiêm túc, chứ không phải là lả lơi. Thí dụ như, cậu trai hát mời đào, khi nhận được quả Đúm, hát : « Đúm này kết ở tay ta, nào đào hát Đúm đâu là đứng lên ; nhác trông mơn mởn màu da, đào ơi đứng dậy, đôi ta hát thờ ». Cô đào đến lượt, mới trả lời : « Đúm ơi, ta dặn Đúm nghe, tìm nơi quần trắng, áo the, Đúm vào. Đúm vào, người hỏi làm sao, em là quả Đúm, em vào kết duyên ».

Trong phần hát giao duyên này, hai phía đều tức hứng với nhau, chứ không phải là học thuộc bài. Tức hứng hát theo chỉ một giai điệu, với lời thay đổi. Khi hát một câu lục bát, theo điệu tình tính tang, tang tính tình, cả nhóm hát, bên kia đáp lại cùng điệu với lời thay đổi : « Ai về, về có nhớ, nhớ ta chăng ? Ta về, về ta nhớ, nhớ hàm răng cô mình cười », tình tính tang, tang tính tình… Bên kia lại đáp lại : « Người đâu, đâu gặp gỡ, gỡ làm chi. Trăm năm, năm nào biết, có duyên gì, gì hay chăng », rồi tiếp tình tính tang, tang tính tình…

Khi người con trai nhận được Đúm hát, phía bên cô gái nếu ưng ý sẽ trả lời lại. Rồi một cô khác cầm quả Đúm khác, liệng cho một cậu khác. Mà chỉ có các cô gái liệng Đúm, chứ con trai không liệng Đúm.

Nghệ sĩ Trần Lãng Minh từ California, người đã chủ trương đưa Hát Xoan lên các sàn diễn ở Hoa Kỳ từ gần 10 năm nay, sống lại một số cảm xúc đã gắn ông với môn nghệ thuật này :

Trần Lãng Minh : Trong lễ hội, tổ chức ở Phú Thọ, tức là đất tổ Hùng Vương, chúng tôi nghe và biết được một số điệu hát, điệu giao duyên. Trong nghệ thuật Hát Xoan có một hình ảnh rất gợi cảm, gợi tình. Chẳng hạn, như hai câu chúng tôi rất thích : «Ơ, ớ, đào ơi, đào xích lại đây, đào dịch lại đây, của riêng tớ có cái này tớ cho ». Hai cái câu lục bát thế thôi, mà nó làm cho riêng cá nhân chúng tôi rất thích, tại vì nó nói lên cái tâm tình, một sinh hoạt, có lẽ là gần gũi, tự nhiên thoải mái. [Nghe cái ấy] cái tâm tính, tâm tình của con người nó cũng vui lên, cũng hứng khởi lên.

Chúng ta, ai cũng biết, cái dải đất Việt Nam gắn liền với sông nước, cho nên trong thể hiện của Hát Xoan, chúng tôi thấy rõ ràng, có những hình ảnh, có những sinh hoạt, … ví dụ : « Ba mươi ta đi ăn cá rô, mùng một cá ở sông Thao cá về, mùng hai cá đi ăn Thề, mùng ba cá về, cá vượt Vũ môn, … Làm trai lấy được vợ khôn, khác nào cá vượt Vũ môn hóa rồng… »…

Xin chân thành cảm ơn nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, giáo sư Tô Ngọc Thanh, giáo sư Trần Quang Hải và nghệ sỹ Trần Lãng Minh.

Tôi không lo cho tương lai của Hát Xoan

Dù hiện tại, Hát Xoan được UNESCO đưa vào loại di sản « cần được bảo vệ khẩn cấp », nhưng trên thực tế, môn nghệ thuật này đã được chú ý phục hồi từ gần hai thập kỷ nay. Hát Xoan, theo nhận định của GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, có một tương lai vững chắc. 

Tô Ngọc Thanh : Hát Xoan may mắn hơn các di sản khác là ở chỗ, từ năm 1960, bản thân tôi là ở trong đội đi sưu tầm, chúng tôi đã biết là nó có những gì. Năm 1992, khi biết các nghệ nhân sắp sửa qua đời, thì Hội Văn nghệ Dân gian, đã tài trợ cho các cụ một ít kinh phí, để họ dạy lại. Lúc đó, chúng tôi chọn những người khoảng từ 30 đến 40 tuổi, bây giờ chính họ trở thành các nghệ nhân truyền dạy cho các cháu nhỏ. Đó là cái may mắn của Hát Xoan. Như thế, nó không thể mất được.

Khi được UNESCO và nhà nước Việt Nam chú ý đến, thì các nghệ nhân phấn khởi lắm, họ tự dạy bảo nhau, họ tự tổ chức. Bây giờ, chúng tôi không phải đầu tư thêm kinh phí gì nữa.

Cái quan trọng nhất là giữ được cái form của nó. Ở đấy, ngày hội người ta vẫn còn hát thờ vua Hùng mà, rồi các cửa đình xung quanh, cũng muốn lấy cái « khước » của vua Hùng, nên bây giờ cũng muốn trở lại, đề nghị cho Hát Xoan, trước cửa đình như ngày xưa. Tôi thấy, nhân dân ngày càng có ý thức quay trở về cội nguồn của mình. Tôi không phải là người [quá] lạc quan, là người khoa học, có gì nói nấy, riêng đối với Hát Xoan, tôi không lo.

Nghệ thuật cần tự nguyện !

Khẳng định vẻ đẹp của Hát Xoan, giáo sư Tô Ngọc Thanh cũng lưu ý đến một số động thái quá đà, muốn áp đặt môn nghệ thuật này đối với giới trẻ tại các trường học.

Tô Ngọc Thanh : Mỗi nghệ thuật chỉ có một số công chúng thôi nhất định, không thể toàn dân hát Ca Trù, toàn dân Hát Xoan. Có thể là toàn dân phải biết rằng, ở Việt Nam có Ca Trù, có Hát Xoan, và thế nào là Ca Trù, thế nào là Hát Xoan. Cần có hiểu biết, chứ không phải trở thành diễn viên. Bây giờ người ta có ý định [phổ cập tại các trường học] việc dạy trẻ Hát Xoan. Cái đó là không đúng, cái đó là sai với quy luật chọn lọc và tự nguyện của văn hóa. Người ta không thích hát thì làm sao ?! Không thể nào thể chế hóa chuyện ấy được. Tôi cũng nói với các vị lãnh đạo và chính quyền nhà nước ở trên đấy [tỉnh Phú Thọ] rồi : Hãy mở một cách cửa rộng cho sự tự nguyện. Vì văn nghệ phải có yêu thích và say mê mới được, nếu không sẽ trở thành cực hình.

Hãy cách tân Hát Xoan để chinh phục công chúng đương đại !

Giáo sư Trần Quang Hải gửi gắm đến thế hệ trẻ, niềm hy vọng là môn nghệ thuật này sẽ được cải tiến để hấp dẫn công chúng đương đại, trong khi vẫn bảo tồn được bản sắc độc đáo của nó :

Trần Quang Hải : Điều quan trọng là đào tạo những người hát để giới thiệu Hát Xoan đúng theo truyền thống, để giữ vốn cổ ấy như một gia tài, và đồng thời phải có sự phát triển. Bởi vì, chúng ta đang sống ở một thời đại mới, không thể nào hát hoài một cái kiểu của cách đây 100 năm, 200 năm. Chúng ta cần phát triển Hát Xoan, canh tân hóa, nhưng đừng đi ngược lại tinh thần Hát Xoan, thì mới gọi là phát triển.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20111207-hat-xoan-su-hoi-sinh-cua-mot-mon-nghe-thuat-giao-duyen

TRỌNG THÀNH / RFI : Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một?

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

Phát Thứ tư, ngày 17 tháng mười năm 2012
Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

Hát ca trù – tranh sơn dầu của Phạm Công Thành (2005). Ảnh: N.X.D

Ca trù – môn nghệ thuật cổ truyền độc đáo của Việt Nam – ngày càng được công chúng trong nước và quốc tế biết đến. Năm 2009, ca trù được Unesco công nhận là một “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp”. Điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước báo động về nguy cơ mai một của ca trù.

Tại Việt Nam, về mặt số lượng, các nhóm ca trù địa phương dưới hình thức câu lạc bộ đang nở rộ. Nếu như trước năm 2005, cả nước chỉ có khoảng 20 câu lạc bộ, thì nay đã tăng lên gấp ba lần. Các câu lạc bộ ca trù có mặt tại khoảng 15 tỉnh và thành phố Việt Nam. Một số khóa truyền nghề của các nghệ nhân “đầu ngành” cho thế hệ trẻ đã được thực hiện, một số liên hoan ca trù toàn quốc đã được tổ chức, một số sinh hoạt ca trù gắn với các lề thói xưa đang bắt đầu được phục hồi, các phương tiện truyền thông chú ý nhiều hơn đến ca trù…

Tuy nhiên, điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước cất lên báo động về nguy cơ mai một của ca trù. Thậm chí, một số ý kiến nhắc đến khả năng Unesco rút danh hiệu “di sản văn hóa nhân loại” mà môn nghệ thuật quý báu này vừa được trao tặng.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này xin chuyển đến quý vị tiếng nói của một số nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà tổ chức, chuyên gia hàng đầu về ca trù tại Việt Nam, những người tích cực hoạt động để cổ vũ cho sự phục hồi/phổ biến nghệ thuật ca trù, với hy vọng tiếng nói của các vị khách mời sẽ mang đến cho quý vị những góc nhìn khác nhau, góp phần vào việc soi tỏ thực tại nhiều nghịch lý kể trên.

Các khách mời của chúng ta hôm nay là các nghệ sĩ, nghệ nhân Nguyễn Thúy Hòa, Bạch Vân, Phạm Thị Huệ và Nguyễn Văn Khuê, những người trực tiếp bảo tồn/phổ biến di sản nghệ thuật này ; giáo sư Tô Ngọc Thanh và nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, những người có trọng trách trong việc lập hồ sơ ca trù gửi Unesco, và tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, tác giả một số công trình nghiên cứu về lịch sử ca trù, đặc biệt qua di sản Hán-Nôm.

Lo lắng, nhưng lạc quan về tương lai của ca trù

Mở đầu tạp chí là tiếng nói của nhà nghiên cứu âm nhạc học dân tộc Tô Ngọc Thanh, chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, một người nhiều năm đóng góp cho quá trình phục hồi di sản ca trù.

Tô Ngọc Thanh : Sau khi nhận được cái vinh danh ấy, thì vừa mừng, vừa lo, đặc biệt những người như chúng tôi. Tức là những người dám nói hiểu biết một ít về ca trù. Lo sợ cho vận mệnh của nó, nên càng lúc càng lo hơn. Bây giờ, nó như thế này : Chỗ đứng của ca trù hiện nay trong con mắt của nhân dân có tăng lên so với trước. Họ biết rõ đấy đích thực là một di sản quý báu, chứa chất những tinh hoa về văn học, văn hóa, nghệ thuật và âm nhạc nữa. Thì đấy là một điều mừng, vì anh chẳng lạ gì, trước đây cũng có người nói rằng đấy là sản phẩm của cái nơi đĩ bợm, với hình ảnh về phố Khâm Thiên ngày xưa.

Giáo sư Tô Ngọc Thanh 17/10/2012 Nghe

Trong hồ sơ mà chúng tôi gửi đi, thì bao giờ cũng có phần rất là quan trọng, gọi là « chương trình hành động« , để nếu như được vinh danh rồi, thì chúng tôi phải làm gì để xứng với tầm cỡ của nó. Thì sau khi được vinh danh rồi, trong chương trình hành động, chúng tôi cũng đề ra khá nhiều. Như thế đã trải qua ba năm rồi, cái chương trình ấy chưa được cụ thể hóa.

Anh cũng biết, trước kia nó là của dân, nó được truyền nghề theo kiểu cha truyền con nối, theo kiểu phường hội. Còn bây giờ nó không thể thế được, thế bây giờ chúng tôi cần những kinh phí để truyền dạy. Cũng xin nói thật là Hội Văn nghệ Dân gian của chúng tôi cũng đã tổ chức được 4, 5 lớp. Tức là từ những nghệ nhân truyền thẳng xuống cho lớp trẻ, mà thông qua phương thức như ngày xưa, tức là truyền miệng, truyền nghề. Chúng tôi cho rằng, đây là hình mẫu chúng tôi làm, để mai kia nếu có được kinh phí của nhà nước, thì mô hình ấy có thể giúp cho ca trù được đứng hơn.

Vậy thì, nói với nhà báo thế này : Mọi người không quên, nhưng mà nó đang ở bước đầu. Tôi hy vọng rằng, nó sẽ được hiện thực với một tốc độ cũng không nhanh lắm đâu. Nó chưa thật là vui lắm, nhưng cũng không đến mức phải buồn.

Con đường gìn giữ và phổ cập ca trù trong đời sống đương đại

Tiếp theo đây là một số nhận xét của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, người phụ trách khoa học của Hồ sơ quốc gia về « Nghệ thuật ca trù của người Việt » trình Unesco trước đây, về một số điều ông tâm đắc trong quá trình đưa ca trù đến với đời sống đương đại, bên cạnh việc phục dựng lại một số sinh hoạt cổ.

Đặng Hoành Loan : Về việc bảo tồn vốn cổ ca trù đúng như nó có là điều khó khăn trong xã hội hiện đại. Vì ca trù hiện nay nó mất mất cái môi trường sinh hoạt của nó. Cho nên là, việc giữ gìn nó trong đời sống hiện nay, thì đương nhiên là nó vấp phải một số khó khăn nhất định. Nhưng điều quan trọng là : Con người ngày nay, nhất là sau ba năm được Unesco công nhận là di sản, thì giới yêu thích ca trù Việt Nam đang làm được một số việc quan trọng.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan 17/10/2012 Nghe

Tôi cho rằng đây chỉ là việc tái hồi lại những bài ca đã có, những bài thơ đã có. Và nó đang dần dần trở lại các sinh hoạt trong các tập tục ngày xưa ở đình làng. Ta biết ca trù có các địa điểm trình diễn ở đình làng, trong tư gia, cung đình và các lối chơi của các nhà nho. Thì hiện nay cái đang có thể trở lại được,và đã trở lại là sinh hoạt ca trù trong một số đình làng.

Thứ hai là ở các phố thị, các thành phố hiện nay, ca trù ngày nay trình diễn lại các điệu hát trong cái sinh hoạt ngày xưa, bằng cách thức tổ chức các câu lạc bộ. Tôi thấy rằng, hiện nay rất nhiều câu lạc bộ rất tốt, đặc biệt là Hà Nội đang trở thành một trung tâm khá lớn, thu hút lực lượng trẻ. Tôi nói như vậy là tôi dựa vào cuộc liên hoan ca trù tháng 11/2011. Cuộc liên hoan này đánh dấu cuộc chuyển mình rất lớn, ca trù sống lại, tái sinh lại trong xã hội hiện đại. Nhưng chúng ta đang hy vọng phục hồi lại được những bài bản cũ, chứ còn chúng ta chưa hy vọng được là có những sinh hoạt như truyền thống ngày xưa, như rất nhiều người thường nói, là những lối ca trong gia đình, những lối ca thân thiện, những lối ca sáng tác tại chỗ.

Đào nương – linh hồn của nghệ thuật ca trù

Là một nghệ thuật gắn liền với lịch sử Việt Nam hàng trăm, thậm chí nghìn năm nay, ca trù chứa đựng nhiều tinh hoa của dân tộc Việt. Điều đặc biệt đáng chú ý trong ca trù được nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh, đó là sự phối kết linh diệu giữa các thể cách âm nhạc và sáng tạo thơ ca, qua những mối giao hòa giữa đào nương và văn nhân, thi sĩ.

Thông thường trong nghệ thuật ca trù, người thưởng thức chính là các văn nhân, đặc biệt trong vị trí quan viên giữ trống chầu, trong khi đó, ca nương là người trình diễn.

Nhắc đến ca trù đương đại không thể không dừng lại để nhớ về ca nương Quách Thị Hồ. Di sản ca trù của Việt Nam được thế giới biết đến ngày hôm nay, một phần rất lớn nhờ công lao của bà và giáo sư Trần Văn Khê, thông qua mối duyên kỳ ngộ giữa hai người, cách đây đã gần 40 năm (năm 1976, giáo sư Trần Văn Khê ghi âm giọng hát ca trù của bà Quách Thị Hồ để giới thiệu ra thế giới qua đĩa hát mang nhãn hiệu Unesco).

« Tiếng hát của Quách Thị Hồ đẹp và tráng lệ như một tòa lâu đài nguy nga, lộng lẫy, mà mỗi một tiếng luyến láy cao siêu tinh tế của bà là một mảng chạm kỳ khu của một bức cửa võng trong cái tòa lâu đài ấy. Tiếng hát ấy vừa cao sang bác học, vừa mê hoặc ám ảnh, diễn tả ở mức tuyệt đỉnh nhất các ý tứ của các văn nhân thi sĩ gửi gắm trong các bài thơ » (theo Nguyễn Xuân Diện).

Người ca nữ ngày nay sống như thế nào với những bài thơ mà họ hát lên ? Chúng tôi có may mắn được nghệ sĩ Nguyễn Thúy Hòa (CLB Thái Hà), người đã từng theo học với nghệ nhân Quách Thị Hồ, chia sẻ :

Nguyễn Thúy Hòa : Cái quan trọng mà thầy tôi dậy tôi là, khi mình đọc cái bài thơ trước khi mình hát, thì mình phải có cái cảm xúc thật của mình. Khi mình thể hiện, thì mình thể hiện bằng cái cảm xúc đó. Cho nên, mỗi lần hát không một lần nào giống lần nào cả.

Nghệ sĩ Nguyễn Thúy Hòa 17/10/2012 Nghe

Tôi nhớ một lần hát bài « Tỳ bà hành« . Tôi thể hiện nhiều lần bài hát này. Nhưng lần đó, không hiểu sao, cảm xúc của tôi quá mạnh, nó bị đong đầy quá. Và tôi đã không thể ngừng được, và tôi đã khóc rất là nhiều. Tôi vừa khóc, tôi vừa hát và tôi nức nở. Bởi vì, tôi rất nhớ đến thầy của tôi. Chỉ vì một câu hát thôi. Nội dung của bài hát không liên quan đến thầy của mình. Nhưng mà từ một câu, một chữ nào đấy, tất cả những hình bóng của thầy, những lời nói, tự nhiên nó ùa về.

Lúc ấy cái tâm trạng của mình nó không kìm được. Cái điều đó cũng là điều không nên đối với một người nghệ sĩ. Mình phải biết kìm hãm cảm xúc của mình. Nhưng mà khi khán giả thấy như thế, họ thấy là vô cùng hay. Và họ cảm nhận được cả cái bài hát, cả cái cảm xúc của mình. Cái hình ảnh đó, cái bài hát đó, cái ngày hôm đó luôn luôn ở trong tâm trí của mình.

Giây phút tri âm

Người ca nương là cả một thế giới riêng. Trước đây, phần lớn nếu không nói là hầu hết các bài thơ được hát trong ca trù, đều do các tác giả là đàn ông viết. Và như vậy rất thường khi tâm sự của người phụ nữ được thể hiện qua cảm nhận của nam văn sĩ. Người ca nữ ngày nay nhìn về vẻ đẹp của ca trù như thế nào ? Sau đây là tiếng nói của nghệ sĩ Bạch Vân (CLB Ca trù Hà Nội – CLB đầu tiên về ca trù, thành lập năm 1991) :

Bạch Vân : Những người đến với ca trù phải là những người có một tính cách thâm trầm, sâu sắc, thì anh mới có thể thả hồn mình vào đấy. Thứ hai là người hát cũng phải là người có những tâm trạng. Cuộc đời thăng trầm thì hát hay hơn nhiều. Chẳng hạn như tác phẩm nước ngoài, thì Bạch Vân thích nhất « Tỳ bà hành« . Và Bạch Vân thấy rất là quý nể bà Quách Thị Hồ cái bài ấy. Bạch Vân cũng đắm chìm trong nó. Bạch Vân cảm thấy cái thân phận của người phụ nữ, đặc biệt người ca nữ nó đau đớn, nhiều khi nó trần trụi, mình cảm thấy mình đúng là cái thân phận như vậy.

Nghệ sĩ Bạch Vân 17/10/2012 Nghe

Những người khách đến nghe rồi họ lại ra đi. Những khách tình cờ gặp gỡ cũng phải để lại cảm xúc chứ. « Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ », « Vô duyên đối diện bất tương phùng », « Đã từng khen chén rượu câu thơ, lòng riêng những đợi chờ tri kỷ mãi ».

Một giây phút nào đấy người ta cô đơn, người ta cảm thấy rằng đấy cũng là mình tìm được một người bạn tri kỷ, tri âm. Cái thân phận của người phụ nữ, cái thân phận của người ca nữ, nó buồn lắm, buồn sâu thẳm và nhiều khi nó đau đớn đến tột cùng. Bạch Vân cứ ngồi hát là cảm thấy Bạch Vân ở trong không gian ấy, trong nhân vật ấy và Bạch Vân đắm chìm trong câu hát ấy. Và nhiều khi mình bay lên chín tầng mây, mình hòa chung với nó, và mình không còn biết mình là ai nữa.

Đến bây giờ Bạch Vân cũng đã suýt soát gần 30 năm đam mê với nó, và Bạch Vân thấy rằng là, những lúc mình buồn bã nhất, có thể mình muốn chết, thì mình lại vào hát và mình cảm thấy mình lại bay bổng, mình lại thăng hoa, mình lại giải thoát khỏi nỗi cô đơn và mình sẽ gặp tri âm, tri kỷ trong câu hát của mình, và mình lại trở về một cách bình yên, và mình lại sáng tạo, lại sống, mình lại yêu đời hơn.

Tất nhiên là, đến với ca trù, Bạch Vân phải trả giá cho tuổi thanh xuân, trả giá cho hạnh phúc của mình. Nhưng mà, có những lúc mình đau xót, buồn thấu xương, thấu thịt, buồn thấm đẫm một sự cô đơn khủng khiếp, thì Bạch Vân lại lấy bộ phách ra và đắm chìm trong Tỳ bà hành, trong « Cuốn chiếu nhân tình« , trong « Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ« …

Một thưở huy hoàng

Ca trù là một nghệ thuật đã có thời hết sức phổ biến trong xã hội Việt Nam, từ nơi thôn dã cho đến chốn thị thành. Nghệ thuật ấy đã để lại những đỉnh cao của nó, mà người nghệ sĩ ngày nay không dễ gì mà vươn đến được. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhận xét :

Nguyễn Xuân Diện : Cái nghệ thuật ca trù, để có thể phục hồi được, thì cái quan trọng nhất phải phục hồi là cái người đào nương. Người đào nương hồi xưa đều được sinh ra ở làng quê và được giáo dục trong các giáo phường. Cho đến hiện nay, việc này khó đến nỗi mà chúng ta chưa tìm thấy lại được một người nào nữa, một người nào nữa có thể tạm sánh với lại một phần nhỏ của bà Kim Đức, hoặc một phần nhỏ của bà Quách Thị Hồ. Cả một sự tinh tế như vậy, chính vì thế cho nên nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát nói, có khi là phải lịch lãm cả một cuộc đời thì mới mong hiểu nổi cho trọn vẹn một tiếng phách tre.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện 18/10/2012 Nghe

Thế thì, tìm lại cái hào quang của dĩ vãng vàng son như vậy ở trong ca trù thì không thể có được. Và vì vậy, có lẽ chỉ giữ được ca trù trong một khuôn khổ nào đó nhất định thôi. Nhưng chúng tôi cũng có thể hy vọng là, khoảng mươi, mười lăm năm nữa thì may chăng là sẽ tìm lại được chăng ?

Sự mong manh của một di sản nghìn năm

Sự phục hồi di sản ca trù không chỉ khó vì những đỉnh cao của môn nghệ thuật cổ xưa này, mà còn vì sự mong manh của các nghệ nhân đầu đàn, tất cả đều đã tuổi cao sức yếu. “Có lẽ không loại hình nghệ thuật nào như ca trù, luôn gắn với hình ảnh những người biểu diễn ở vào độ tuổi cực cao, mắt mờ chân chậm, răng lợi móm mém, mỗi khi lên xuống sân khấu phải có người dìu. Họ nói run run yếu ớt, nhưng (lạ thay) mỗi khi cất giọng hát, thì trong vắt thanh tân, nghe như rút hết chút sức tàn còn lại… » (theo Hồng Minh, trang mạng nhandan.com.vn).

Việc người nghệ nhân không được chú trọng và trân trọng thực sự đã khiến cho có rất nhiều lo ngại rằng nghệ thuật này có thể thất truyền. Sau đây là tiếng nói của nghệ sĩ Phạm Thị Huệ, phụ trách CLB Ca trù Thăng Long :

Phạm Thị Huệ : Chúng tôi cũng có những khó khăn như là : Trước khi kêu gọi các nghệ nhân làm hồ sơ, thì (cơ quan hữu trách) luôn luôn đề cao rằng, sau khi chúng ta được (Unesco) phong tặng, thì nghệ nhân cũng sẽ có những ưu đãi đặc biệt để giúp cho họ. Cho tới giờ, các nghệ nhân cũng chưa nhận được một sự ưu ái nào.

Nghệ sĩ Phạm Thị Huệ 17/10/2012 Nghe

Đấy là cái điều tôi cảm thấy rất xót xa. Không biết là cho đến bao giờ. Vì các cụ đều ở cái tuổi 88, gần 90 rồi. Ở cái tuổi đó, thì cũng không còn ở gần chúng ta được bao lâu nữa. Và cái di sản mà các nghệ nhân đang gìn giữ ở trong chính tâm hồn và tài năng của họ rất là khó có thể nắm bắt được. Kể cả chúng ta có ghi âm hay học đi chăng nữa. Cái việc ghi âm thì chỉ đơn thuần là cái máy hát lại thôi, không thể truyền được cái hồn giống như chúng ta được học trực tiếp. Còn cái việc học trực tiếp, thì chúng ta cũng phải thường xuyên được ở bên cạnh nghệ nhân, sống cùng nghệ nhân, và phải có một chiều dài từ 3 năm đến 7 năm, chứ không thể gỏn gọn trong vài chục ngày, vài tháng.

Đấy là những cái mà chúng tôi cảm thấy cái sự mong manh. Trong tương lai, ca trù rất có thể sẽ lại chìm vào quên lãng.

Thời buổi phấn vôi lẫn lộn

Thái độ đối xử đúng đắn với nghệ nhân, không chỉ là qua các đãi ngộ vật chất, mà đặc biệt đáng lưu ý là sự trân trọng đối với năng lực nghệ thuật đích thực của những người đầu đàn hiếm hoi còn sống. Được gọi trân trọng là “các di sản sống”, nhưng điều mà một bộ phận công luận tại Việt Nam rất phàn nàn rằng, các cơ quan hữu trách, trước hết là những người có thẩm quyền trong lĩnh vực nghệ thuật, lại không hợp tác thực sự với giới nghệ nhân đầu ngành, gây ra tình trạng nhiễu loạn chuẩn mực hiện nay trong môn nghệ thuật đang trong quá trình hồi sinh. Sau đây là một tâm sự của nghệ sĩ đàn đáy Nguyễn Văn Khuê, thuộc CLB Ca trù Thái Hà, sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời tiếp nối ca trù.

Nguyễn Văn Khuê : Tôi thấy, như hiện nay tôi rất là lo lắng. Làm ca trù xấu đi, và không có gì là mang đúng tính bác học của nó. Hiện nay, (tôi rất lo lắng về) cách bảo tồn ca trù của bên Viện Âm nhạc. Bây giờ, cứ ca nương mới học được một, hai năm đã có rất nhiều thành tích các thứ.

Kép đàn Nguyễn Văn Khuê 17/10/2012 Nghe

Bình thường cái tiếng đàn của người ta phải tạo ra một con rồng, có đường nét và vô cùng uyển chuyển, thì họ chỉ dậy như một con giun thôi. Bản thân người đến với ca trù, người ta nghe, người ta chán.

Điều quan trọng nhất là : Thế nào thì được gọi là nghệ nhân ? Ai là người để sát hạch đấy là nghệ nhân đích thực, có đủ tài năng, thẩm mỹ để dạy cho lớp trẻ bây giờ. Khi mà thầy không đạt được tầm nghệ nhân mà dạy, thì nó sẽ dễ làm mất hết cả cái chất của ca trù, và dễ làm lệch lạc hướng đi.

Nếu cứ để như thế này, đào tạo theo phương thức này, mặc dù rất nhiều tiền của nhà nước bỏ ra, rất nhiều tiền của các ban ngành vào rồi, nhưng bây giờ thực ra phấn cũng như vôi. Không ai biết được là, người nào đích thực là nghệ nhân, đích thức là người có tài thực sự.

Một nghệ nhân đầu ngành, không công bố danh tính, cho biết, bà không đồng tình với những trắng đen lẫn lộn trong việc thẩm định chất lượng trình diễn ca trù, cũng như chất lượng dạy nghề. Tuy nhiên, dù không hợp tác với các cơ quan quản lý nghệ thuật, nghệ nhân đã ngoài 80 tuổi này cũng như một số người khác, vẫn âm thầm dạy nghề trong môi trường gia đình, thân hữu, soạn sách hướng dẫn, hầu truyền lại những giá trị đích thực của ca trù.

***

Trong vài thập niên trở lại đây, ca trù, một trong những loại hình nghệ thuật được coi là vi diệu nhất của văn hóa Việt Nam, đang trở lại với công chúng. Sự công nhận quốc tế, cũng như sự tôn vinh ngày càng mạnh mẽ trong nước đối với ca trù là điều rõ ràng. Tuy nhiên, trong quá trình hồi sinh ấy, ca trù đang đứng trước một ngã ba đường, giữa sự phục sinh – thăng hoa của những gì là di sản đích thực và sự lẫn lộn trắng đen, trong đó những giá trị nghệ thuật thực sự bị rẻ rúng và chìm trong quên lãng.

Ca trù có một truyền thuyết rất đẹp và lung linh huyền thoại về sự ra đời. (…) các vị tổ ca trù đã được chính các vị tiên xui khiến chế tác ra cây đàn đáy, mà tiếng đàn này có thể giải mọi phiền muộn, chữa được bệnh cho mọi người. Tiếng đàn ấy còn se duyên cho hai vị tổ ca trù thành đôi lứa… “ (theo Nguyễn Xuân Diện).

Mong sao sự khởi đầu rất thi vị ấy của ca trù vẫn còn sức mạnh để đưa ca trù tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua thời gian, đưa những gì tinh túy nhất của các thế hệ đi trước đến với mai sau.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê, Bạch Vân, Nguyễn Thúy Hòa và Phạm Thị Huệ, các nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện, Đặng Hoành Loan và Tô Ngọc Thanh đã dành thời gian cho tạp chí hôm nay. Trong thời gian thực hiện tạp chí này, chúng tôi đã nhận được nhiều chỉ dẫn của giáo sư Trần Quang Hải,  người tham gia lập hồ sơ ca trù trình Unesco và có một số khảo cứu về âm thanh học của ca trù. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi lời tri ân tới giáo sư. 

Trong tạp chí lần này, chúng tôi không có dịp nhắc đến nhiều người đã có những đóng góp quan trọng cho công cuộc khôi phục và nghiên cứu về ca trù (như nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, tiến sĩ Alienor Anisensel, người Pháp – tác giả một luận án về nhạc ngữ ca trù…) hay một số khía cạnh đặc biệt khác cho thấy những biến chuyển của ca trù ngày hôm nay, như các sáng tác mới trong thơ hát nói. Hy vọng sẽ có dịp trở lại với quý vị trong đề tài này vào một dịp tới.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20121017-phuc-sinh-hay-mai-mot-ca-tru-viet-nam-truoc-nga-ba-duong

Các bài liên quan

Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long, nơi có những người đang giữ gìn nghiệp tổ Ca trù

Vẻ đẹp của Quan Họ cổ truyền xứ Kinh Bắc

Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

TRỌNG THÀNH / RFI : Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?


TẠP CHÍ VĂN HÓA

Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

Phát Thứ sáu, ngày 15 tháng ba năm 2013
Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

Nghệ nhân Hà Thị CầuDR

Nghệ nhân Hà Thị Cầu vừa ra đi ở tuổi ngoài 90. Giới những người yêu quí nghệ thuật cổ truyền Việt Nam thương và tiếc một đỉnh cao. Nhiều tiếng nói khẳng định : « Người hát xẩm cuối cùng đã về trời ». Sự ra đi của Hà Thị Cầu liệu có phải là dấu chấm cáo chung Hát xẩm, môn nghệ thuật một thời là món ăn tinh thần quen thuộc của đông đảo người bình dân Việt Nam ?

Hát xẩm, môn nghệ thuật từng đặc biệt nở rộ tại miền bắc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, đã không có đất sống trong chế độ mới. Nhưng những gì thấm sâu vào máu thịt của người nghệ sĩ đích thực không thể nào biến mất. Trong cuộc đời gần một thế kỷ của mình, nhất là hai mươi năm cuối đời, Hà Thị Cầu đã liên tục truyền đến cho các thế hệ đi sau những gì tinh túy nhất trong môn nghệ thuật của đầu thế kỷ trước.

Tạp chí Văn hóa của RFI tuần này xin chuyển tới quý thính giả tiếng nói của một số nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, từng gắn bó với nghệ nhân Hà Thị Cầu hay đặc biệt quan tâm đến di sản của bà.

Khách mời của tạp chí là nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền từ Hà Nội.

Vượt lên đau khổ : Thần lực của một giọng hát

Mở đầu tạp chí là tiếng nói của nhà nghiên cứu Trần Quang Hải :

Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải 15/03/2013 Nghe

RFI : Xin ông cho biết cảm nhận và suy nghĩ của ông trước sự ra đi của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Bà ấy mất đi là xứ Việt Nam mất đi một gia tài rất lớn, về văn chương, văn học dân gian, là cái văn học dính liền với những người « dân gian », những người nghèo nhất. trong xã hội. Tôi thấy rằng, muốn hát xẩm cho thật hay, phải sống rất nhiều, phải lăn lộn vào trong cuộc đời, phải có nhiều kinh nghiệm, phải có nhiều đau khổ và chính là cái đau khổ đó mới tạo ra một cái thần lực ở trong giọng hát của mình.

RFI : Ông có thể cho biết, vì sao ông lại biết đến môn nghệ thuật hát xẩm và những kỷ niệm của ông với nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Khi tôi đi về Việt Nam lần đầu tiên, thì tôi có nghe nói ở Hà Nội có một điệu hát xẩm, thì tôi có đi gặp anh Thao Giang, phó giám đốc Trung tâm về nhạc dân gian Việt Nam. Anh ấy nói với tôi là đương muốn trùng tu hát xẩm trở lại, sau khi bị mất đi trên 50 năm. Khi đó, Thao Giang mới cho tôi nghe một số làn điệu đặc biệt, trong đó có một vài bài do bà Hà Thị Cầu hát. Tôi hỏi, ai mà có giọng quá đặc biệt như vậy.

Tôi gặp một bà cụ, cái cặp mắt rất là sắc sảo và cái giọng nói rất là vang, vang mạnh lắm và tiếng đờn nghe não ruột luôn. Tôi nhắm mắt mà nghe, thì tôi thấy rằng, rõ ràng là người này đã sống rất nhiều và đã có một đời sống rất là gian truân, nhưng mà có điều, vẫn lướt lên để sống, chấp nhận cái cuộc sống của mình, chứ không có đòi hỏi gì nhiều hết. Thành ra cái tiếng đờn và giọng hát, nó đi quyện vào nhau. Tôi rất lấy làm sung sướng được nghe bà ấy hát. Lần đầu tiên bà ấy hát cho tôi nghe bài « Thập ân ». Thì tôi nhớ hoài cái bài Thập ân này. Nó nói lên cái lòng hiếu thảo của người con.

Từ đó về sau này, tôi không có dịp gặp được bà ấy nữa. Có điều tôi theo dõi tất cả những sinh hoạt của bà, qua báo chí, qua đài truyền hình… Tôi biết rằng năm 2008 bà ấy được lãnh giải thưởng Đào Tấn, là một giải thưởng rất là quan trọng cho những người đã phụng sự âm nhạc dân tộc và nghệ thuật cổ truyền.

Trong 10 năm chót của cuộc đời bà ấy, có rất nhiều học trò đã đến học với bà ấy. Anh Thao Giang cũng đã quay nhiều phim cho đài truyền hình về sinh hoạt của bà ấy và có phim « Xẩm Đỏ », được đạo diễn Lương Đình Dũng quay cách nay 2 năm.

Tôi xem bà ấy cũng như tất cả những diva, hay những người nghệ sĩ lớn, hay những ca sĩ lớn của xứ Việt Nam hay ngay như trên thế giới, ngang hàng với bà Quách Thị Hồ. Bà ấy có một giọng hát rất là đặc biệt, là đại diện cho một truyền thống âm nhạc đang sắp mai một đi (…).

Di sản lớn, tiếp thu rất nhỏ

Theo như tôi nghĩ, sự ra đi của bà Hà Thị Cầu sẽ để lại sự mất mát rất lớn trong truyền thống hát xẩm. Không có một cơ quan nghiên cứu để làm một cuộc điền dã, đi thâu thập bà ấy, theo phương pháp dân tộc nhạc học. Các điền dã ít có làm hoặc chỉ làm một cách chung chung để thâu một số bài bản cho một số người trẻ học thôi, chứ không có đi thâu một cách tận tường, thâu hết – một việc cần làm để duy trì truyền thống hát xẩm với người cuối cùng còn lại của truyền thống này.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan là người đã thực hiện từ sớm việc thu thanh nghệ nhân Hà Thị Cầu. Sau đây ông chia sẻ một số ấn tượng về tài năng Hà Thị Cầu và thực trạng của việc kế thừa.

Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan 15/03/2013 Nghe

Đặng Hoành Loan : Bà ấy là một tài năng xẩm, với giọng hát tuyệt vời, với những rung cảm dường như nó từ máu, từ trong huyết mạch của bà ấy, cho nên khi bà ấy cất lên giọng hát là nó cuốn hút người ta ngay. Tôi được làm việc với bà ấy và thu thanh toàn bộ những vốn liếng của bà ấy vào những năm 1990. Nếu bây giờ đem đối chiếu lại với cái việc bà truyền lại cho lớp trẻ hiện nay, thì chắc chỉ được 1/10 thôi.

Đấy là vốn liếng bài bản. Còn vốn liếng nghệ thuật, tức là cái trình diễn nghệ thuật của bà ấy, thì phải nói rằng là lớp trẻ chưa tiếp cận được. Bởi vì bà có một tài năng mà không phải nghệ sĩ nào cũng có. Một người vừa đàn, vừa hát, một người vừa đánh trống, vừa hát. Một người tự mình có thể đánh hai ba trống một lúc, thì đấy là điều hiếm thấy. Đồng thời bà ấy lại là một nghệ sĩ, một người hát xẩm, đúng là xẩm, tức là sự ngẫu hứng những bài hát, thì bà ấy là người ngẫu hứng vô cùng tài ba. Và có nhiều bài hát bà để lại những dấu ấn rất sâu, như « Yên Mô quê mình », là bài viết về quê hương Yên Mô của bà ấy.

Có lẽ đây là người cuối cùng ra đi cùng với tài sản xẩm, không còn bao giờ có thể thấy nó hiện hữu được nữa. Và nếu nói một cách theo chủ quan của những người… thì cũng có thể nói là cũng còn lại một chút ít, của lớp trẻ tiếp thu được dăm ba bài.

Cũng như nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhận thấy, nghệ nhân Hà Thị Cầu đã ra đi, và cùng với bà là cả một « gia tài » hết sức lớn lao đã một đi không trở lại, lớp nghệ sĩ trẻ mới chỉ thâu nhận được những điều ít ỏi từ người nghệ sĩ lớn.

Nỗ lực nối lại một truyền thống nửa thế kỷ đứt đoạn

Như chúng ta biết, môn hát xẩm như một phương tiện kiếm sống của những người mù trên các không gian ngoài đường phố đã không còn tồn tại từ hàng chục năm nay. Trong thời gian ít năm trở lại đây, tại Hà Nội bắt đầu phát triển một số nhóm biểu diễn do các nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu chủ trì với mục tiêu phục dựng lại những bài hát và làn điệu xẩm thời xưa.

Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, kể từ năm 2008, đã tổ chức Lễ giỗ Tổ nghề hát xẩm (vào ngày 22/2 âm lịch) sau nửa thế kỷ gián đoạn, nhằm nối lại với truyền thống này.

Chúng tôi xin chuyển đến quý vị tiếng nói của nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, một trong những giọng hát và tay đàn quen thuộc với nhiều người yêu thích xẩm. Chị Mai Tuyết Hoa là một trong các trụ cột của sân khấu xẩm được tổ chức vào thứ bảy hàng tuần trước cửa chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Sau đây nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa chia sẻ những kỷ niệm và ấn tượng in dấu trong tâm hồn chị trong thời gian được theo học nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa 15/03/2013 Nghe

Mai Tuyết Hoa : Tôi biết bà qua giọng hát, qua những cái băng tư liệu của Viện nghiên cứu âm nhạc Việt Nam sưu tầm. Nghe băng, nghe đĩa của cụ và tôi đã bắt chước cái giọng hát của cụ, cũng như tiếng đàn của cụ. Cái điều ấn tượng nhất với tôi là cái phong cách của cụ, cũng như tính cách của cụ, rất là gần gũi, dí dỏm và rất là hài hước.

Riêng đối với nghệ thuật hát xẩm, thì phải nói, nó rất là phong phú. Phong phú ở bài bản, phong phú ở làn điệu, có buồn, có vui. Nói chung, thì nghệ thuật hát xẩm diễn tả được tất cả những tâm trạng của con người. Và cái điều khó nhất, chính là làm sao mà mình hát gần gũi nhất, dí dỏm nhất và lôi cuốn người nghe nhất. Và cho dù là, cho đến bây giờ, tôi đã học đến hơn mười năm, nhưng mà cái điều mà nghệ nhân Hà Thị Cầu làm được, cuốn hút được người nghe, thì tôi nghĩ vẫn còn rất là xa, bởi vì tôi cũng chỉ có thể học được một chút gì đó của cụ thôi, còn để đạt đến đỉnh điểm như cụ, thì tôi nghĩ điều đó khó ai có thể làm được.

Hát cho mình, hát cho mọi người

Đặc biệt là nghệ thuật hát xẩm, thì nó không như những loại hình nghệ thuật khác, nó khác quan họ, nó khác ca trù, nó rất là dân dã, rất là bình dân. Bình dân ở đây là nó rất gần gũi với mọi người. Ở mọi tầng lớp đều có thể thưởng thức nghệ thuật hát xẩm, vì nó dễ nghe, dễ hiểu. Nghệ thuật hát xẩm chính là cái mà người hát xẩm hát cho mình và cho mọi người.

RFI : Hát cho mình và hát cho mọi người là như thế nào, xin chị diễn tả thêm.

Mai Tuyết Hoa : Người hát xẩm hát thế nào để cho người nghe cảm thấy rằng là, cái điều này nó lay động lòng người lắm, nó miêu tả được nhân tình thế thái, thời sự chiến cuộc. Hoặc là ví dụ như, một người rất thích người hát xẩm hát cho một nỗi niềm gì đấy của mình, ví dụ như anh đang thích một cô này, mà chưa nói được ra lời, thì nhờ người hát xẩm hát cho là tôi đang rất là thích cô đấy, cô có đồng ý đến với tôi hay không ? Người hát xẩm hát cho cuộc đời mình và hát hộ người kia. Người kia cảm thấy rằng là anh hát xẩm này anh ấy có ích, anh ấy giúp được cô kia cô ấy hiểu được ý nghĩa của anh í, thì anh í động lòng, anh í để vào chậu thau đồng một chút ít tiền vào chậu thau đồng, gọi là thưởng cho người hát xẩm. Chứ người hát xẩm không đi xin, đó là điều tôi muốn nói với tất cả mọi người là như vậy.

Kết thúc chương trình hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe tiếng nói của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, người được nghệ nhân Hà Thị Cầu nhận làm con nuôi. Ông cũng là người từ gần 20 năm nay liên tục nỗ lực để hiểu xẩm, với hy vọng truyền đến công chúng những bí ẩn của môn nghệ thuật này.

Bùi Trọng Hiền : Tôi được nghe giọng của bà lần đầu tiên là vào năm 1979-1980, thời đó trên làn sóng phát thanh của đài tiếng nói Việt Nam, phát một bài hát xẩm, gọi là « Theo Đảng trọn đời », là do bà đặt lời, vừa đàn, vừa hát. Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được nghe. Hồi đó còn nhỏ lắm, thì thấy đó là một giọng hát rất hay. Nội dung của bài ca ấy nói về những người con đi tha phương cầu thực, tìm miếng ăn để sống, trong thời ly loạn của chiến tranh.

Sau này, khi lớn lên, học nhạc cổ rồi trở thành một người làm nghiên cứu, thì cái lần tôi được tiếp xúc chính thức với bà là năm 1992, trong những cuộc liên hoan ở Hà Nội, thì được gặp bà. Thì đến năm 1994, tôi mới có dịp được về Ninh Bình, để thăm bà. Từ đó, bà nhận tôi làm con nuôi, và tôi nhận bà làm mẹ đỡ đầu. Cứ có cơ hội, thì tôi lại xách máy và phi xe máy 120 cây về Ninh Bình nhà bà, và tranh thủ học hỏi và ghi chép tất cả, và thu âm toàn bộ những gì tinh hoa nhất, mà bà có.

Cái phóng khoáng và giang hồ của xẩm

Thông qua bà, tôi hiểu được xẩm của thời xưa, bởi vì bà là người cuối cùng hát xẩm. Thông qua những lời kể của bà, rồi những ngón đàn tiếng ca của bà, rồi tất cả những kỹ thuật, về phách, sênh, đàn nhị, về cách đặt lời của bà, cũng như tất cả những gì kỳ vĩ nhất của nghệ thuật xẩm của những người hát rong, vốn là những người hỏng mắt, cứ theo đó mà tuôn trào qua những lời kể, và tôi đã ngấm rất nhiều và thực sự bà là một người thầy rất lớn của tôi.

Suốt từ đó, cho đến khi bà còn khỏe, trong rất nhiều năm, cứ có dịp nào về là tôi lại xách máy quay lại thu âm. Một bài của bà, tôi thu không biết bao nhiêu lần, và mỗi lần bà lại đàn hát ra một dị bản khác nhau. Các bạn cũng biết là nghệ thuật xẩm cũng như rất nhiều thể loại nghệ thuật cổ truyền khác của Việt Nam là nghệ thuật ngẫu hứng. Mỗi làn điệu có một « lòng bản », trên cái lòng bản đó, người ta trình diễn các dị bản rất khác nhau. Đó là độ « giang hồ » của xẩm.

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền 15/03/2013 Nghe

RFI : Thưa anh, nghệ thuật xẩm có rất nhiều làn điệu. Làn điệu nào có thể nói là đặc trưng cho nghệ thuật hát xấm và bản thân nghệ nhân Hà Thị Cầu là đỉnh cao trong những làn điệu đó ?

Bùi Trọng Hiền : Từ một hình thức hát rong của những người hỏng mắt, xẩm đã sáng tạo những làn điệu của riêng mình, mà không một thể loại nào có. Tôi lấy ví dụ như điệu xẩm Huê tình chẳng hạn. Đấy là một điệu xẩm rất nổi tiếng. Nổi tiếng đến mức mà các ngành cổ nhạc bạn, ví dụ như chèo và ca trù đã du nhập làn điệu đấy vào trong kho tàng âm nhạc của mình.

Chúng ta biết rằng xẩm ngày xưa hát ở đường phố, hát ở bến nước, sân đình, hát ở bến đò, hát ở góc chợ. Cái nhu cầu của xẩm là hát ở những nơi đông người để kiếm sống. Thế cho nên, một bài ca xẩm thường không thể là bài ngắn gọn và nó thường là những làn điệu để chuyển tải những bài thơ rất dài. Để làm sao, người ta đi chợ, người ta nghe được đoạn đầu, thậm chí người ta nghe được bất cứ đoạn nào trong lời ca đó, người ta cũng nắm bắt được làn điệu đó, và người ta cảm thấy thích thú. Vì thế, cái tính gọi là tính trường thiên, tính kể truyện của xẩm rất là rõ ràng.

Người kể truyện trong sân khấu cuộc đời

Một đặc điểm nữa là nội dung của xẩm phải rất đặc biệt. Đặc biệt để làm sao trong đám đông ấy, giữa những tiếng ồn ào của chợ búa, của bến đò, của đường phố, người ta phải nghe nó đập vào ấn tượng, vào tai, vào mắt cái người đi đường, để người ta dừng lại, người ta thưởng tiền cho người hát xẩm. Thì với cái đặc điểm hát rong, nay đây mai đó, thì bản chất cái nghề nghiệp đó, cái cách thức diễn xướng, lấy đường phối, lấy bầu trời, lấy khung cảnh xã hội làm sân khấu, gọi là « sân khấu cuộc đời » của mình, thì hát xẩm đã tự hình thành nên những tính cách nghệ thuật rất riêng.

Bà biết hầu hết tất cả các làn điệu xẩm cổ truyền. Ở bà có cái đặc biệt là bà không biết chữ, như những người nghệ sĩ xẩm thời xưa thôi, nhưng chỉ có điều cái trữ lượng lời ca và làn điệu trong bà, nó như là một cái ăn sâu vào trong máu rồi, bởi vì bà hát từ năm 8 tuổi, 10 tuổi, nó in cả cuộc đời và một lúc nào đấy là nó bật ra, thì bà lại hát trường thiên cả một đoạn rất dài. Thế cho nên, khó có thể nói là bà hát cái gì hay nhất, bởi vì đối với tôi, bu tôi hát cái gì cũng hay. Bà sử dụng thành thạo tất cả các nhạc cụ sênh, phách, trống mảnh, nhị và việc diễn tấu đa năng, vài nhạc cụ một lúc như thế, vừa hát, vừa đàn, là một điểm rất đặc trưng của xẩm. Đối với tôi, thì bu hát làn điệu nào cũng ngọt ngào và hết sức kinh điển.

RFI : Một trong những cái nét mà anh vừa nhấn mạnh, là cái sự phóng khoáng trong diễn xuất của người hát xẩm và đặc biệt là nghệ nhân Hà Thị Cầu, đúng không ạ ?

Bùi Trọng Hiền : Bản chất của mỗi làn điệu xẩm là mang tính dị bản rất lớn, mỗi người thể hiện một cách khác nhau và thậm chí cùng một người mỗi lần hát một cách khác nhau, nhưng nó lại có một lòng bản riêng của từng làn điệu (Hát minh họa hai câu trong bài Thập ân với các biến tấu khác nhau : « Mẹ mới có thai, kể từ một ân, thì con ơi, mẹ mới có thai. Âm dương nhị khí nào ai biết gì, trong lòng thì con ơi mẹ chịu sầu bi. »).

Một tuyến giai điệu có thể hát dựng lên, hoặc hát luồn xuống là tùy theo các cảm hứng của người ta lúc ấy. Nhưng cái điểm vào đầu và điểm kết thúc phải xác định được theo điệu thức của làn điệu đó và cái khung lòng bản của làn điệu đó, ứng với lời thơ lục bát, thì nó sẽ ra được làn điệu Thập ân. Và đấy chính là độ giang hồ, hoang dã của xẩm, khiến cho cái độ phóng khoáng và mỗi người sẽ thể hiện vào đó một dấu ấn của riêng mình.

RFI : Thưa anh, xẩm được coi là nghệ thuật của những người có cuộc sống rất khổ ải. Điều này có đúng không và nếu đúng, thì được thể hiện như thế nào qua giọng hát của bà Hà Thị Cầu ?

Bùi Trọng Hiền : Có điều rất lạ là cuộc sống của những người xẩm ngày xưa được xếp vào ở tầng đáy của xã hội, bởi vì họ là những người bị hỏng mắt, thì âm nhạc trở thành cứu cánh của những người hỏng mắt, và vì thế họ tìm đến xẩm. Thì đấy là cái đầu tiên ta thấy.

Nhưng điều đặc biệt của hát xẩm, chúng ta tưởng tượng là, nếu như để kiếm sống, mà chỉ hát những khúc hát bi ai không, thì sẽ rất khó, cho nên là, anh muốn người ta nghe và người ta cho anh tiền, thì thường anh phải tìm đến những chủ đề đừng có quá buồn, quá bi lụy. Tôi cho rằng chính đặc điểm xã hội đấy, từ nhu cầu của đám đông đấy, nó dẫn đến trong xẩm là âm nhạc tươi sáng rất nhiều. Những cái điệu buồn rất ít, mà cái buồn chỉ là cái buồn man mác. Cái buồn nó không bi lụy, ai oán đến mức bi sầu, cảm thấy không lối thoát. Còn lại đa số là các làn điệu vui, tươi sáng.

Xẩm đủ bản lĩnh để hát về thời sự

Chúng ta biết rằng, trong xã hội có những thói hư tật xấu gì mà người ta muốn đả kích, thì xẩm rất nhanh nhạy, biến tất cả những câu chuyện ấy thành một bài thơ dài và bắt đầu hát. Tất nhiên là trong đám đông ở chợ, khi mà nghe thấy hát về một hiện tượng có tính thời sự như thế, thì lập tức người ta sẽ dừng lại nghe và người ta rất vui, vì đánh trúng vào thị hiếu của người ta mà. Chẳng hạn như có cô gái không chồng mà chửa, hay một cô gái lấy Tây đen, hay là có một ông nhà giàu keo kiệt, chẳng hạn, thì xẩm lập tức ứng biến ngay thành bài ca. Chúng ta biết trong thời chống Pháp, thì cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn thất bại trên Thái Nguyên, thì khi đó ai là người dám nói ? Thời đó không có báo chí nhiều như bây giờ và những thông tin ấy tất cả đều thông qua xẩm hết. Và lập tức xẩm ở Hà Nội có một bài vè rất dài, gọi là « vè Đội Cấn ». Và cả trăm câu thơ đó, người xẩm đã sáng tạo ra và hát những nội dung có tính hết sức thời sự và đánh đúng vào tinh thần yêu nước, vào cái câu chuyện vừa mới nóng hổi. Và xẩm đủ bản lĩnh để hát những điều đó.

RFI : Anh nói đến một điều rất thú vị và quan trọng. Thế ở nghệ nhân Hà Thị Cầu, thì tính thời sự và cập nhật này được thể hiện như thế nào ?

Bùi Trọng Hiền : Trong những bài hát rất nổi tiếng của bà như « Dâu lười » và « Rể lười », chẳng hạn. Chúng ta biết là trong xã hội, chuyện trong một làng xóm, một vùng nào đó, chuyện gọi là dâu lười và rể lười là rất phổ biến. Chỉ có điều, không ai có thể đem công khai ra nói được. Bỗng nhiên, có một người xẩm hát một bài « Dâu lười », rồi sau đó người ta cứ tự vận vào, chắc là nói đến ông nào đó trong xóm nhà mình, hoặc gia đình mình, người ta nghe thấy đã quá. Có thể nói chuyện « Dâu lười » và « Rể lười » là một trong các chủ đề về thời sự rất đặc sắc mà bà còn nhớ lại được. Nó nằm trong kho tàng của xẩm cổ truyền. Về sau này, hầu như là bà rất ít « viết » bài ca mới, ngoài bài « Theo Đảng trọn đời » rất nổi tiếng, vào thời gian Việt Nam chống lại quân Trung Quốc xâm lược năm 1979. Còn phần lớn kho tàng bà hát thì phần lớn là xẩm cổ truyền, lời cổ truyền hết.

RFI : Nghệ nhân Hà Thị Cầu được coi là người hát xẩm cuối cùng, bà đã ra đi, vậy tương lai của môn nghệ thuật này sẽ ra sao ?

Bùi Trọng Hiền : Những làn điệu xẩm vẫn còn lại. Còn lại trong các băng đĩa của các nhà nghiên cứu, còn lại trong một số nghệ sĩ đã học được một vài làn điệu, nhưng một nghệ sĩ xẩm đúng nghĩa của nó, một nghệ sĩ xẩm đích thực, thì đã chấm dứt cuộc sống. Cho nên, sự ra đi của bà cũng đặt dấu chấm hết cho nghệ thuật hát xẩm nói chung. Bà Hà Thị Cầu là người cuối cùng.

RFI xin chân thành cảm ơn nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải, Đặng Hoành Loan và Bùi Trọng Hiền đã dành thời gian cho tạp chí

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130315-ha-thi-cau-%E2%80%93-truyen-nhan-cuoi-cung-cua-nghe-thuat-hat-xam

Các bài liên quan
Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

THANH PHƯƠNG : Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Phát Thứ hai, ngày 10 tháng sáu năm 2013
Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

Giáo sư Trần Quang Hải trong studio đài RFI ngày 31/05/2013.RFI

Hát ví và hát giặm Nghệ Tĩnh đã được Việt Nam đề nghị với tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong danh sách của năm 2014.

Trước khi từ Paris về Việt Nam để dự một hội thảo về hồ sơ hát ví và giặm Nghệ Tĩnh chuẩn bị cho hồ sơ nộp UNESCO, giáo sư Trần Quang Hải, nhà dân tộc nhạc học đã dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn về nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này, cũng như về việc bảo tồn những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.

Giáo sư Trần Quang Hải 06/06/2013 Nghe

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130610-cac-di-san-van-hoa-phi-vat-the-chua-duoc-bao-ton-dung-dan

THANH PHƯƠNG : Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Hát Then mong được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Phát Thứ sáu, ngày 16 tháng mười năm 2015

Hát Then là một loại hình âm nhạc không chỉ mang tính dân gian mà còn gắn chặt với tín ngưỡng của người dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Thái và Việt Nam hiện đang làm thủ tục để đề nghị tổ chức UNESCO công nhận thể loại âm nhạc này là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2016.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam vừa thông qua kế hoạch tổng thể xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Then, Tày, Nùng, Thái” đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Liên hoan nghệ thuật hát Then toàn quốc lần thứ 5 cũng vừa diễn ra ở Tuyên Quang trong tháng 9 vừa qua.

Cũng tại Tuyên Quang, một hội thảo khoa học quốc tế với đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” đã được tổ chức trong hai ngày 25 và 26/09/2015, trong đó có sự tham gia của bốn chuyên gia nước ngoài là những nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học và khoảng 80 đại biểu từ nhiều vùng khác nhau ở Việt Nam. Hội thảo này là nhằm trao đổi về những đặc trưng của hát Then, về lời ca, nhạc ngữ, tiết tấu, lễ nghi, nhằm tạo ra một hồ sơ vững chắc cho đơn xin công nhận hát Then là di sản văn hóa phi vật thể.

Trước khi về Việt Nam để tham gia hội thảo này, giáo sư Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đã trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ về hát Then, để giải thích vì sao thể loại âm nhạc này rất xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.

Giáo sư Trần Quang Hải 05/10/2015 Nghe

Cho tới nay Việt Nam đã có 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, theo thứ tự thời gian từ mới nhất đến cũ nhất là Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh được công nhận năm 2014, Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận năm 2013, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận năm 2012, Hát xoan được công nhận năm 2011, Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, được công năm 2010, Ca trù được công nhận năm 2009, Dân ca Quan họ được công nhận ngày 30/9/2009. Riêng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận năm 2003, chính là Nhã nhạc cung đình Huế. Đến năm 2008, thể loại âm nhạc này được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20151204-hat-then-mong-duoc-cong-nhan-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the


Cùng chủ đề

  • TẠP CHÍ VIỆT NAM

    Di sản văn hóa phi vật thể chưa được bảo tồn đúng đắn

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ VĂN HÓA

    Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ XÃ HỘI

    Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

    Để biết thêm

  • TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

    Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên