GS TRẦN VĂN KHÊ : CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

FILE TVK 4

Năm 1976, khi chiến tranh vừa chấm dứt, Việt Nam sắp được thống nhứt, UNESCO đã giao cho tôi về nước tìm xem những bộ môn nghệ thuật nào có giá trị rất cao mà đã bị chìm trong quên lãng từ 30 năm nay vì chiến tranh. Trung tâm nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm nghiên cứu Âm nhạc theo phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Tây Berlin) do cố Giáo sư Alain Deniélou làm giám đốc giúp cho tôi những phương tiện để thực hiện cuộc điền dã. Đồng thời, Đỗ Nhuận – Tổng thơ ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam gởi thơ mời tôi về để tiếp xúc với các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu âm nhạc trong nước nhưng chỉ đài thọ tiền ăn ở tại khách sạn trong 3 tuần lễ. Tôi không ngờ chuyến trở về nước lần đầu tiên để làm một công tác điền dã lại được nhiều cơ quan ủng hộ về tinh thần và vật chất như thế. Riêng UNESCO cho biết, nếu những băng từ ghi âm những bộ môn ca vũ nhạc kịch mà tôi cho là có giá trị thì UNESCO có thể phát hành những dĩa hát đặc biệt dưới nhãn hiệu của UNESCO và sẽ góp phần phổ biến trên những cơ quan nghiên cứu của thế giới. Chuyến đi đó tôi có nhắc lại những khó khăn đã gặp và những kết quả cụ thể đã thâu thập được trong nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí (tiêu biểu như “Thanh Khí tương tầm” – Cuộc gặp gỡ giữa nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, nhạc sư Đinh Khắc Ban, nhà thơ Trúc Hiền và tôi trong tháng 04/1976 đăng trên các báo Kiến Thức Ngày Nay, Bách Khoa…; “Vài nhận xét về quá trình nghiên cứu Dân ca Quan Họ Bắc Ninh” viết năm 1977 đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội của Hội người Việt tại Pháp và trong quyển “Trần Văn Khê & Âm nhạc dân tộc” năm 2000 do NXB Trẻ ấn hành…). Tôi chỉ nhắc lại dĩa hát dưới nhãn hiệu của UNESCO sau đây do Hãng dĩa EMI ODEON phát hành 1978, và sau này được tái bản dưới dạng CD:

1978: “Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ” hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

Và CD tái bản của dĩa hát 33 vòng năm 1978:

1991: “Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho”, hãng AUVIDIS Đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này cũng được xuất bản cùng một lúc.

Dĩa hát đầu tiên này của hãng Emi Odeon đã được UNESCO mua gần 400 bản để gởi đi cho các trường Đại học lớn bên Mỹ và những nhà văn hóa lớn bên Châu Âu.

Trong những năm sau đó, tôi tiếp tục phổ biến nghệ thuật Ca Trù và Quan Họ ở nhiều nơi, đem Ca Trù và Quan Họ làm đề tài giảng dạy ở Đại học Sorbonne (Pháp) nhiều năm. Tại Đại học Hawai at Manoa (Honolulu – Mỹ) năm 1988, Ca Trù và Quan Họ là một trong những đề tài mà tôi giảng dạy nhiều nhứt để giúp cho sinh viên nắm được những nét chính trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Trong số những sinh viên học âm nhạc truyền thống với tôi tại Đại học Hawai, tôi còn nhớ có một cậu sinh viên tên là Michael, người Mỹ, nói được tiếng Việt, qua những tiết dạy của tôi đã trở nên mê thích Ca Trù và sau này khi trở thành người đại diện cho Quỹ Ford đã hết sức giúp đỡ cho nghệ thuật Ca Trù. Năm 2002 quỹ Ford do Michael làm người đại diện đã tài trợ chương trình “Đào tạo diễn viên Ca Trù trẻ”, và năm 2005 lại tiếp tục tài trợ cho Liên hoan Ca Trù toàn quốc. Tôi rất cảm kích Michael sau 18 năm vẫn còn nhớ Thầy, và hơn hết nữa là không ngờ nhờ bài giảng rất sơ lược của mình về Ca Trù lại khiến một người trẻ nước ngoài say mê đến vậy và muốn quay lại giúp đỡ bộ môn nghệ thuật truyền thống này.

Đến khi kết thúc khóa học tại Đại học Hawai (Honolulu), có 5 – 6 sinh viên Mỹ cùng với các nữ sinh Việt Nam hát Quan Họ đối thoại với nhau rất vui. Tôi vô cùng thú vị. Nhắc lại những kỷ niệm đó để thấy rằng ở xứ người, nghệ thuật truyền thống của Việt Nam mà ở đây là Ca Trù và Quan Họ cũng gặp được rất nhiều sự quan tâm yêu mến của nhiều người.

Tại Đại học Sorbonne, tôi đã làm công việc tuyển chọn những đề tài cho sinh viên Pháp làm luận văn cử nhơn. Trong lúc chấm bài thi, tôi lựa những bài hay đem photocopy và khi về Việt Nam có đưa cho bạn tôi là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước xem. Xem xong, Phước chảy nước mắt khóc và nói: “Không ngờ rằng ở nước ngoài mà có những thanh niên biết về nhạc truyền thống Việt Nam còn nhiều hơn các học sinh, sinh viên trung học, Đại học ở nước mình”.

Bỗng nhiên có sự tình cờ là hai bộ môn Ca Trù và Quan Họ tôi đã chọn lựa ghi âm để làm dĩa hát được phát hành dưới nhãn hiệu UNESCO từ năm 1976 thì năm 2009 cả hai bộ môn này đều được UNESCO tôn vinh là Di sản phi vật thể đại diện cho nhân loại (Quan Họ) và Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (Ca Trù).

Đặc biệt hơn nữa, sau khi tôi về nước để tìm hiểu Ca Trù năm 1976, ghi âm giọng hát của Bà Quách Thị Hồ vào dĩa hát, nhờ đó mà Bà Quách Thị Hồ được UNESCO trao tặng bằng khen để cảm ơn Bà đã tham gia trong việc phổ biến nghệ thuật Ca Trù – là di sản độc đáo của Việt Nam và vốn quý của toàn nhân loại ra thế giới. Thời đó không ai có thể ngờ rằng Hội đồng Quốc tế Âm Nhạc lại có những đánh giá như thế, và trên thế giới đều nhìn nhận rằng Ca Trù có một giá trị nghệ thuật cao xứng đáng được nhân loại giữ gìn và bảo vệ.

Năm 2004, khi còn ở bên Pháp, tôi đã được Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa Việt Nam, Ủy ban người Việt nước ngoài mời về nước thành lập hồ sơ Ca Trù đệ trình lên UNESCO. Tôi bằng lòng nhận trách nhiệm thảo hồ sơ nếu người cộng sự có thể thay mặt tôi làm công việc đúng theo tiêu chuẩn của quốc tế. Người mà tôi tin tưởng chính là Đặng Hoành Loan – người đã dựng lại được và thực hiện một cuộn phim tài liệu về Câu Hò Sông Mã rất khoa học và đầy đủ, đúng với cách thức làm việc mà tôi mong muốn. Vì lý do tôi không ở thường trực tại Hà Nội mà công việc thảo hồ sơ cần phải được liên tục nên tôi đã đề nghị với chánh quyền giao lại việc hoàn tất hồ sơ Ca Trù cho Đặng Hoành Loan – lúc đó là Viện phó của Viện Âm Nhạc. Còn tôi đứng ở ngoài theo dõi sát việc làm qua thư từ và giữ cương vị Cố vấn đặc biệt của hồ sơ. Tôi đã thành lập một ban biên tập hồ sơ về Ca Trù do Đặng Hoành Loan chủ biên và gồm những chuyên gia như GS Vũ Nhựt Thăng, Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, chuyên gia về Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện. Về việc điền dã, Đặng Hoành Loan chịu trách nhiệm tìm kiếm những người cộng sự như các chuyên gia về điện ảnh, nhiếp ảnh, kỹ sư thâu thanh, ghi hình… Tôi có nhiệm vụ đọc các văn bản, hồ sơ bằng tiếng Việt và bản dịch ra tiếng Anh, hiệu đính và bổ sung bản gốc, bản dịch, đồng thời nhận định, góp ý việc dựng phim, in dĩa hát, tuyển lựa hình chụp và lời giới thiệu cho các tư liệu nghe nhìn đó.

Mỗi khi có bộ môn nào được tôn vinh thì có lẽ tôi là người vui nhứt. Mặc dầu không tham gia các buổi Lễ Tôn vinh hay Chúc mừng vì lý do sức khỏe nhưng tôi vẫn đứng đằng xa hoan nghênh và chung vui cùng với tất cả mọi người, những nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ… đã góp phần đưa nghệ thuật truyền thống dân tộc rộng khắp năm châu.

Khi nghe tin Ca Trù và Quan Họ được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, tôi vô cùng hạnh phúc vì những ước mong của mình từ bao nhiêu năm nay giờ đã trở thành sự thật. Tuy vậy, trong niềm vui tôi vẫn trĩu nặng trong lòng những ưu tư lo lắng. Chuyên gia của UNESCO tôn vinh Quan Họ vì đọc hồ sơ thấy được những phong cách đặc thù không đâu có như tục lệ ngủ bọn, kết bạn, cách hát đối chữ, đối giọng, có tinh thần sáng tác… của Quan Họ ngày xưa thì tôi lo rằng nếu thế giới đến Việt Nam để nghe những canh hát Quan Họ bây giờ, liệu có còn thấy được những nét đặc thù tế nhị của Quan Họ cổ hay không?

Về Ca Trù thì UNESCO tôn vinh như một Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Tôi chỉ lo rằng việc bảo vệ sẽ theo đường lối nào để còn giữ được giá trị đích thực của Ca Trù ngày xưa. Cơ quan nào sẽ nhận ngân quỹ giúp đỡ và có đủ sáng suốt “chọn mặt gởi vàng” để cho nghệ thuật Ca Trù được phát triển, được phổ biến và truyền lại cho những thế hệ mai sau. Và trong công việc làm đó, chẳng biết cơ quan hữu trách có nghĩ đến số lượng mà không quan tâm nhiều đến chất lượng hay không?

Việc UNESCO tôn vinh Ca Trù và Quan Họ như luồng ánh sáng rực rỡ chiếu rọi khắp bầu trời, xua tan đám mây mù đang che lấp những giá trị chân mỹ của nghệ thuật dân tộc. Điều đó cũng chứng tỏ cho người trong nước biết rằng: Việt Nam cũng có những bộ môn nghệ thuật tế nhị, tinh vi mà người nước ngoài cũng nhìn nhận thấy, thán phục và ca ngợi. Việc tôn vinh cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với toàn dân tộc đang bị hấp dẫn bởi sự hào nhoáng, hiện đại, sinh động của văn hóa nước ngoài, kéo những người lạc lối quay trở về, bỏ đi lòng tự ti mặc cảm cho rằng nghệ thuật dân tộc của chúng ta là cổ hủ, lạc hậu và chỉ có nghệ thuật nước ngoài là khoa học, đáng để noi theo mà có được chút tự hào về giá trị nghệ thuật của âm nhạc truyền thống. Nhờ đó mà mong muốn tìm hiểu thêm các bộ môn nghệ thuật, có hiểu mới thương, có thương mới chịu khó học tập, có khi đi tới biểu diễn… thì lúc ấy nghệ thuật dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức hồi sinh.

TRẦN VĂN KHÊ

Bình Thạnh 07.10.2009

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s