HỒ NHỰT NAM : VỀ VỚI QUÊ THẦY – GS.TS TRẦN VĂN KHÊ –

VỀ VỚI QUÊ THẦY – GS.TS TRẦN VĂN KHÊ –

Đăng lúc: Thứ năm – 01/10/2015 22:29 – Đã xem: 429

100 ngày100 ngày

Hôm qua là một ngày đầy cảm xúc vô biên, khi từ sáng sớm đã có nhiều chuyến xe lần lượt khởi hành về Miền Tây mà điểm hẹn là Xã Vĩnh Kim- Huyện Châu Thành- Tỉnh Tiền Giang, nơi Thầy của chúng tôi được sinh ra và cũng là nơi hương án thờ Thầy được đưa về phụng cúng nơi đây.

Image

Hôm qua là một ngày đầy cảm xúc vô biên, khi từ sáng sớm đã có nhiều chuyến xe lần lượt khởi hành về Miền Tây mà điểm hẹn là Xã Vĩnh Kim- Huyện Châu Thành- Tỉnh Tiền Giang, nơi Thầy của chúng tôi được sinh ra và cũng là nơi hương án thờ Thầy được đưa về phụng cúng nơi đây.

Image

Xin cảm ơn lắm sự nhiệt thành đón tiếp nồng hậu của gia đình Bác Nguyễn Tri Triết (cháu họ ngoại của GS-TS Trần Văn Khê). Được nhìn lại hình ảnh của những ông bà xưa, được thăm những ngôi mộ của các vị đã từng làm nên nền móng của tài tử cải lương và sân khấu cải lương, của thai giáo và giá trị văn hóa nghệ thuật khác…lòng bồi hồi khó tả.
Cách đó không xa, chừng 2 cây số thôi, chính là Đền Lăng Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, thảo nào, đất địa linh nhân kiệt đây mà!

Image

Sau nghi lễ cúng 100 ngày của các sư, tôi được vinh dự tập họp tất cả thân hữu và môn sinh của Thầy đang có mặt để mỗi người 1 nén hương thành kính tập trung trước hương án của Thầy để làm lễ đọc PHỤC NGUYỆN. Nghệ sỹ Hà Mỹ Xuân tay bưng khay Trà, Nhạc sỹ Hải Phương bưng khay rượu, tất cả đều bùi ngùi khi nhìn lên di ảnh của Thầy. Theo gợi ý của nhiều quý vị nên tôi xin mạo muội viết lời PHỤC NGUYỆN như sau:

Image

« Vọng thỉnh hương linh Đại đức ân sư Trần tánh Văn Khê tức hiệu, ngươn sanh Tân Dậu niên canh, Ất Mùi lục ngoạc, Mậu Tý nhị thập nhựt Lương thời, trú sanh Việt Nam quốc, Mỹ Tho tỉnh, Châu Thành huyện, Vĩnh Kim thôn, tử niên Ất Mùi niên canh, Ngũ Ngoạc, Cửu Nhựt, Lương thời tựu vị bổn bàn thinh văn Phục Nguyện.
Chúng đồ cảm phục đại trí, đại năng, đại hiền công đức vô lượng ân sư, cung kính dâng hương thượng lễ, giai quỳ kỉnh bái! Chúng đồ tứ bái (Trà châm-Tửu châm sơ tuần).
Thượng chúc Trần-Nguyễn gia tộc nội ngoại tiên tề đoàn kết cao vi tỉ muội, thúc bá đệ huynh, nam phụ lão ấu phúc báu khang ninh, trung hiền văn chất, đạo nghiệp trường tồn.
Nhứt thành vạn đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện cho Cửu Huyền Thất Tổ thập phương bá tánh, trung thần nghĩa khí, bá đại thánh vương, ân triêm ân điển tam bảo đồng đặng siêu sanh tịnh độ.
Cập kỳ an cho thập phương bá tánh, Cửu Huyền Thất Tổ nội ngoại đôi bên, chúng đồ hiền sĩ lương văn, thân hữu xa gần hưởng phúc thái bình, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, xuân đa kiết khánh-hạ bảo bình an-thu tống tam tai-đông nghinh bá phúc.
Phổ nguyện cho âm siêu dương thới, hải yên hà thanh, pháp giới nhơn sanh tề thành Phật đạo.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (1 lần) – Trà châm, tửu châm Nhị Tuần.
NGUYỆN
Trước hương linh chúng con sinh nguyện,
Ân đức Thầy con mãi khắc ghi,
Âm nhạc, văn hóa quyết chí tầm tri,
Đức – tài, Trung – hiếu nguyện theo lửa truyền.
Cầu xin Phật Tổ trợ duyên,
Ân sư hưởng phúc về miền an vui…
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (3 lần) – Trà châm, tửu châm Chung Tuần
LỄ TẤT »
Sau phần Lễ, chúng tôi đã được gia đình Bác Triết mời dự bữa cơm thân mật với nhiều đặc sản địa phương như cari gà (gà vườn), cá hấp, lẩu…rất ngon. Ngoài ra, còn có cả chương trình văn nghệ đặc sắc có sự góp mặt của Nhạc sỹ Hải Phượng, nhạc sỹ Bảy Hiền, nghệ sỹ HÀ MỸ XUÂN, nghệ sỹ XUÂN LAN, nghệ sỹ KIM HƯƠNG…khiến cho bà con ai cũng vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Được nghe bác Trần Bá Thùy (người em kết nghĩa của Thầy Khê), Tiến sỹ Nguyễn Nhã, chị Na (người giúp việc cho Thầy)…phát biểu kể về tình cảm của mình, kỷ niệm đẹp và đầy ý nghĩa về GS.Khê rất xúc động. Cả phòng tiệc ai cũng bật cười nhưng không khỏi nghẹn ngào khi nghe chị Na diễn ngâm những bài thơ mà chị đã sáng tác đọc cho Thầy Khê nghe lúc sanh tiền, trước là cho Thầy vui, sau cũng để giải khuây quên đi khó nhọc. Một vị khách trong Ban ĐẢNG ỦY XÃ VĨNH KIM đã bắt tay tôi và nói:
 » Các bạn đã làm nên một việc rất ý nghĩa và đầy xúc động! »
Xe đưa chúng tôi về lại Sài Gòn, nhìn qua những cung đường quê miệt vườn đầy hoa trái, những ngọn dừa gió đưa phe phẩy như lời chào tạm biệt của người mẹ Vĩnh Kim. Còn văng vẳng bên tai tôi lời khuyên của những cụ già nơi đây… »Chúng tôi cảm phục GS-TS Trần Văn Khê lắm, giá như nơi nầy có một nhà lưu niệm về GS.Khê ngay tại nơi người được sinh ra thì hay biết mấy! »
Vâng, con đường tương lai phía trước nếu thuận theo thiên lý nhân hòa thì chắc chắn ý tưởng đó sẽ thành hiện thực. Nhưng điều trước tiên, chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một bảo tàng, một nhà lưu niệm Trần Văn Khê ngay trong lòng mỗi chúng ta để mỗi việc làm và suy nghĩ của chúng ta khi liên quan đến văn hóa nghệ thuật là chúng ta nhớ đến người. Để rồi mỗi năm, cứ đến mùa hạ, khi mà sắc hoa Phượng Vỹ nở rợp trời đất Vĩnh Kim, chúng ta sẽ lại về đây thắp nén hương cho người. Xin cầu chúc cho người nơi ấy bình yên, an lạc! Kính như tại!

Trân trọng cảm ơn tất cả quý Thầy Cô, quý vị học giả và bằng hữu xa gần đã đồng hành cùng Solomonvietnam. Kính chúc quý vị ngày mới vui tươi hạnh phúc!
Thân ái,
Solomonvietnam
Lúc 08:45 ngày 02/10/2015

Image

Image

Image

Image

Image

ảnh nsxuanlan

Tác giả bài viết: Nam Nhựt Hồ
Nguồn tin: ảnh nsxuanlan – CLVN

GS TRẦN VĂN KHÊ : CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

CẢM NGHĨ SAU KHI NGHE TIN UNESCO TÔN VINH CA TRÙ (DI SẢN PHI VẬT THỂ CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ KHẨN CẤP) & QUAN HỌ (DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN NHÂN LOẠI) 2009

FILE TVK 4

Năm 1976, khi chiến tranh vừa chấm dứt, Việt Nam sắp được thống nhứt, UNESCO đã giao cho tôi về nước tìm xem những bộ môn nghệ thuật nào có giá trị rất cao mà đã bị chìm trong quên lãng từ 30 năm nay vì chiến tranh. Trung tâm nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm nghiên cứu Âm nhạc theo phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Tây Berlin) do cố Giáo sư Alain Deniélou làm giám đốc giúp cho tôi những phương tiện để thực hiện cuộc điền dã. Đồng thời, Đỗ Nhuận – Tổng thơ ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam gởi thơ mời tôi về để tiếp xúc với các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu âm nhạc trong nước nhưng chỉ đài thọ tiền ăn ở tại khách sạn trong 3 tuần lễ. Tôi không ngờ chuyến trở về nước lần đầu tiên để làm một công tác điền dã lại được nhiều cơ quan ủng hộ về tinh thần và vật chất như thế. Riêng UNESCO cho biết, nếu những băng từ ghi âm những bộ môn ca vũ nhạc kịch mà tôi cho là có giá trị thì UNESCO có thể phát hành những dĩa hát đặc biệt dưới nhãn hiệu của UNESCO và sẽ góp phần phổ biến trên những cơ quan nghiên cứu của thế giới. Chuyến đi đó tôi có nhắc lại những khó khăn đã gặp và những kết quả cụ thể đã thâu thập được trong nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí (tiêu biểu như “Thanh Khí tương tầm” – Cuộc gặp gỡ giữa nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, nhạc sư Đinh Khắc Ban, nhà thơ Trúc Hiền và tôi trong tháng 04/1976 đăng trên các báo Kiến Thức Ngày Nay, Bách Khoa…; “Vài nhận xét về quá trình nghiên cứu Dân ca Quan Họ Bắc Ninh” viết năm 1977 đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội của Hội người Việt tại Pháp và trong quyển “Trần Văn Khê & Âm nhạc dân tộc” năm 2000 do NXB Trẻ ấn hành…). Tôi chỉ nhắc lại dĩa hát dưới nhãn hiệu của UNESCO sau đây do Hãng dĩa EMI ODEON phát hành 1978, và sau này được tái bản dưới dạng CD:

1978: “Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ” hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

Và CD tái bản của dĩa hát 33 vòng năm 1978:

1991: “Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho”, hãng AUVIDIS Đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này cũng được xuất bản cùng một lúc.

Dĩa hát đầu tiên này của hãng Emi Odeon đã được UNESCO mua gần 400 bản để gởi đi cho các trường Đại học lớn bên Mỹ và những nhà văn hóa lớn bên Châu Âu.

Trong những năm sau đó, tôi tiếp tục phổ biến nghệ thuật Ca Trù và Quan Họ ở nhiều nơi, đem Ca Trù và Quan Họ làm đề tài giảng dạy ở Đại học Sorbonne (Pháp) nhiều năm. Tại Đại học Hawai at Manoa (Honolulu – Mỹ) năm 1988, Ca Trù và Quan Họ là một trong những đề tài mà tôi giảng dạy nhiều nhứt để giúp cho sinh viên nắm được những nét chính trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Trong số những sinh viên học âm nhạc truyền thống với tôi tại Đại học Hawai, tôi còn nhớ có một cậu sinh viên tên là Michael, người Mỹ, nói được tiếng Việt, qua những tiết dạy của tôi đã trở nên mê thích Ca Trù và sau này khi trở thành người đại diện cho Quỹ Ford đã hết sức giúp đỡ cho nghệ thuật Ca Trù. Năm 2002 quỹ Ford do Michael làm người đại diện đã tài trợ chương trình “Đào tạo diễn viên Ca Trù trẻ”, và năm 2005 lại tiếp tục tài trợ cho Liên hoan Ca Trù toàn quốc. Tôi rất cảm kích Michael sau 18 năm vẫn còn nhớ Thầy, và hơn hết nữa là không ngờ nhờ bài giảng rất sơ lược của mình về Ca Trù lại khiến một người trẻ nước ngoài say mê đến vậy và muốn quay lại giúp đỡ bộ môn nghệ thuật truyền thống này.

Đến khi kết thúc khóa học tại Đại học Hawai (Honolulu), có 5 – 6 sinh viên Mỹ cùng với các nữ sinh Việt Nam hát Quan Họ đối thoại với nhau rất vui. Tôi vô cùng thú vị. Nhắc lại những kỷ niệm đó để thấy rằng ở xứ người, nghệ thuật truyền thống của Việt Nam mà ở đây là Ca Trù và Quan Họ cũng gặp được rất nhiều sự quan tâm yêu mến của nhiều người.

Tại Đại học Sorbonne, tôi đã làm công việc tuyển chọn những đề tài cho sinh viên Pháp làm luận văn cử nhơn. Trong lúc chấm bài thi, tôi lựa những bài hay đem photocopy và khi về Việt Nam có đưa cho bạn tôi là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước xem. Xem xong, Phước chảy nước mắt khóc và nói: “Không ngờ rằng ở nước ngoài mà có những thanh niên biết về nhạc truyền thống Việt Nam còn nhiều hơn các học sinh, sinh viên trung học, Đại học ở nước mình”.

Bỗng nhiên có sự tình cờ là hai bộ môn Ca Trù và Quan Họ tôi đã chọn lựa ghi âm để làm dĩa hát được phát hành dưới nhãn hiệu UNESCO từ năm 1976 thì năm 2009 cả hai bộ môn này đều được UNESCO tôn vinh là Di sản phi vật thể đại diện cho nhân loại (Quan Họ) và Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (Ca Trù).

Đặc biệt hơn nữa, sau khi tôi về nước để tìm hiểu Ca Trù năm 1976, ghi âm giọng hát của Bà Quách Thị Hồ vào dĩa hát, nhờ đó mà Bà Quách Thị Hồ được UNESCO trao tặng bằng khen để cảm ơn Bà đã tham gia trong việc phổ biến nghệ thuật Ca Trù – là di sản độc đáo của Việt Nam và vốn quý của toàn nhân loại ra thế giới. Thời đó không ai có thể ngờ rằng Hội đồng Quốc tế Âm Nhạc lại có những đánh giá như thế, và trên thế giới đều nhìn nhận rằng Ca Trù có một giá trị nghệ thuật cao xứng đáng được nhân loại giữ gìn và bảo vệ.

Năm 2004, khi còn ở bên Pháp, tôi đã được Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa Việt Nam, Ủy ban người Việt nước ngoài mời về nước thành lập hồ sơ Ca Trù đệ trình lên UNESCO. Tôi bằng lòng nhận trách nhiệm thảo hồ sơ nếu người cộng sự có thể thay mặt tôi làm công việc đúng theo tiêu chuẩn của quốc tế. Người mà tôi tin tưởng chính là Đặng Hoành Loan – người đã dựng lại được và thực hiện một cuộn phim tài liệu về Câu Hò Sông Mã rất khoa học và đầy đủ, đúng với cách thức làm việc mà tôi mong muốn. Vì lý do tôi không ở thường trực tại Hà Nội mà công việc thảo hồ sơ cần phải được liên tục nên tôi đã đề nghị với chánh quyền giao lại việc hoàn tất hồ sơ Ca Trù cho Đặng Hoành Loan – lúc đó là Viện phó của Viện Âm Nhạc. Còn tôi đứng ở ngoài theo dõi sát việc làm qua thư từ và giữ cương vị Cố vấn đặc biệt của hồ sơ. Tôi đã thành lập một ban biên tập hồ sơ về Ca Trù do Đặng Hoành Loan chủ biên và gồm những chuyên gia như GS Vũ Nhựt Thăng, Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, chuyên gia về Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện. Về việc điền dã, Đặng Hoành Loan chịu trách nhiệm tìm kiếm những người cộng sự như các chuyên gia về điện ảnh, nhiếp ảnh, kỹ sư thâu thanh, ghi hình… Tôi có nhiệm vụ đọc các văn bản, hồ sơ bằng tiếng Việt và bản dịch ra tiếng Anh, hiệu đính và bổ sung bản gốc, bản dịch, đồng thời nhận định, góp ý việc dựng phim, in dĩa hát, tuyển lựa hình chụp và lời giới thiệu cho các tư liệu nghe nhìn đó.

Mỗi khi có bộ môn nào được tôn vinh thì có lẽ tôi là người vui nhứt. Mặc dầu không tham gia các buổi Lễ Tôn vinh hay Chúc mừng vì lý do sức khỏe nhưng tôi vẫn đứng đằng xa hoan nghênh và chung vui cùng với tất cả mọi người, những nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ… đã góp phần đưa nghệ thuật truyền thống dân tộc rộng khắp năm châu.

Khi nghe tin Ca Trù và Quan Họ được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, tôi vô cùng hạnh phúc vì những ước mong của mình từ bao nhiêu năm nay giờ đã trở thành sự thật. Tuy vậy, trong niềm vui tôi vẫn trĩu nặng trong lòng những ưu tư lo lắng. Chuyên gia của UNESCO tôn vinh Quan Họ vì đọc hồ sơ thấy được những phong cách đặc thù không đâu có như tục lệ ngủ bọn, kết bạn, cách hát đối chữ, đối giọng, có tinh thần sáng tác… của Quan Họ ngày xưa thì tôi lo rằng nếu thế giới đến Việt Nam để nghe những canh hát Quan Họ bây giờ, liệu có còn thấy được những nét đặc thù tế nhị của Quan Họ cổ hay không?

Về Ca Trù thì UNESCO tôn vinh như một Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Tôi chỉ lo rằng việc bảo vệ sẽ theo đường lối nào để còn giữ được giá trị đích thực của Ca Trù ngày xưa. Cơ quan nào sẽ nhận ngân quỹ giúp đỡ và có đủ sáng suốt “chọn mặt gởi vàng” để cho nghệ thuật Ca Trù được phát triển, được phổ biến và truyền lại cho những thế hệ mai sau. Và trong công việc làm đó, chẳng biết cơ quan hữu trách có nghĩ đến số lượng mà không quan tâm nhiều đến chất lượng hay không?

Việc UNESCO tôn vinh Ca Trù và Quan Họ như luồng ánh sáng rực rỡ chiếu rọi khắp bầu trời, xua tan đám mây mù đang che lấp những giá trị chân mỹ của nghệ thuật dân tộc. Điều đó cũng chứng tỏ cho người trong nước biết rằng: Việt Nam cũng có những bộ môn nghệ thuật tế nhị, tinh vi mà người nước ngoài cũng nhìn nhận thấy, thán phục và ca ngợi. Việc tôn vinh cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với toàn dân tộc đang bị hấp dẫn bởi sự hào nhoáng, hiện đại, sinh động của văn hóa nước ngoài, kéo những người lạc lối quay trở về, bỏ đi lòng tự ti mặc cảm cho rằng nghệ thuật dân tộc của chúng ta là cổ hủ, lạc hậu và chỉ có nghệ thuật nước ngoài là khoa học, đáng để noi theo mà có được chút tự hào về giá trị nghệ thuật của âm nhạc truyền thống. Nhờ đó mà mong muốn tìm hiểu thêm các bộ môn nghệ thuật, có hiểu mới thương, có thương mới chịu khó học tập, có khi đi tới biểu diễn… thì lúc ấy nghệ thuật dân tộc Việt Nam sẽ đủ sức hồi sinh.

TRẦN VĂN KHÊ

Bình Thạnh 07.10.2009

Obertonseminar mit Tran Quang Hai, BERLIN 18 MARCH 2016

Obertonseminar mit Tran Quang Hai

Samstag, 19. März 2016

1000 – 1800

1468648_10201135218478982_2090267419_n

Die Familie von Tran Quang Hai ist bereits in der fünften Generation durch Musiker geprägt. Sein Vater, Tran Van Khe, war ein bekannter Musiker, der sich wie kaum ein anderer mit der vietnamesischen Musik auseinandergesetzt hat. In Südvietnam geboren studierte Tran Quang Hai am Konservatorium von Saigon und dem Centre d’Etudes de Musique Orientale in Paris. Seit 1968 war er Mitglied des CNRS-Forschungsteams des Departement de Musicologie am Musee de l’Homme in Paris. Gemeinsam mit Hugo Zemp produzierte er den ethnomsuikalischen Film „Le Chant des Harmoniques“ (1989), der internationale Preise gewann.

Tran Quang Hai ist ausgebildeter Performer traditioneller fernöstlicher Musik mit nativen Instrumenten. Weiterhin ist er Komponist, Autor und Herausgeber zahlreicher Publikationen. Er ist unter anderem bei Yves Herwan-Chotards „Les Tambours 89“ zum 200. Jahrestag der Französischen Revolution, Nicolas Frize „La Composition Francaise“, beim Festival von Saint Denis 1991 und dem inernationaslen Festival „Chant de George Khoomei“ in Kyzyl und Tuva 1995 aufgetreten.

Er befasst sich schon seit vielen Jahren mit ethno-musikalischen und physiologischen Aspekten des Oberrtonsingens.

http://www.overtone-network.org/profile/TRANQUANGHAI

Programm:

Samstag 19. März 2016

10:00– 13:00 Obertonseminar

13:00 – 15:00 Pause

15:00– 18:00 Obertonseminar (Fortsetzung)

Kosten: € 85,-

Anzahlung von € 40,- auf das Konto

Thang Nghiem

IBAN: DE22 1007 0024 0153 7232 00

BIC: DEUTDEDBBER

max. 15 Teilnehmer

Berlin-Schöneberg

der genaue Ort wird noch bekanntgegeben

0176 – 57 88 09 19

0151 – 23 26 82 22

030 – 782 63 94

ThangNghiem@web.de

Der Kurs wird in Englisch abgehalten; wir bitten um Verständnis dafür, dass nicht übersetzt wird, um den Ablauf nicht zu stören.

GS TRẦN VĂN KHÊ : CĂN BỊNH MÃN TÍNH CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

CĂN BỊNH MÃN TÍNH CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

tran van khe can binh mãn tính

Trong bàn tròn âm nhạc của Giai điệu xanh, em Hữu Trịnh đã lên tiếng «báo động», Giáo sư Ca Lê Thuần đã hưởng ứng và nêu lên sự kiện kinh tế thị trường, làm «nẩy nở chủ nghĩa thực dụng», nhiều nơi đã coi «nghệ thuật là một phương tiện kinh doanh», và đã đưa ra những đề nghị rất xác thực, hợp thời, hữu hiệu như «giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật», «tạo môi trường âm nhạc lành mạnh», «soạn lại chương trình giảng dạy âm nhạc», «đào tạo đội ngũ kế thừa», xem lại «chế độ, chánh sách ưu đãi học sinh học nhạc dận tộc, và nghệ nhân đang gìn gìn giữ vốn âm nhạc dân tộc». Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan đã ưu tư vì «những em học nhạc dân tộc ra trường không thể sống bằng nghề, đôi khi mệt mỏi vì tổ chức những buổi biểu diễn là muốn xây những chiếc «cầu nối» để dẫn công chúng đến với âm nhạc dân tộc», hao công tốn của mà vẫn phải «tự lực cánh sinh», chưa có ai tiếp tay trong công việc đó. Còn nhiều ý kiến rầt hay của những bạn khác, kể ra không xiết.

Để góp ý với các bạn trên diễn đàn nầy, tôi xin đưa ra vài nhận xét về những nguyên nhân nào đã tạo ra một tình trạng đáng buồn của âm nhạc dân tộc trong xã hội Việt Nam ngày nay, và nếu biết rõ được con vi trùng hay siêu trùng nào gây ra căn bịnh, hoặc vì đâu âm dương trong cơ thể ta mất quân bình, thì chúng ta sẽ tìm những phương thuốc để trị bịnh đó.

Có lẽ, như các bạn vừa thấy, tôi vì «méo mó nghề nghiệp», vừa là nhà dân tộc âm nhạc học mà có lúc học Y tại Hà Nội, nên thấy tình trạng khó khăn của âm nhạc dân tộc như một «căn bịnh». Bản chất của truyền thống âm nhạc Việt Nam rất vững chắc, sinh lực truyền thống rất dồi dào, giá trị nghệ thuật rất cao. Tại sao lại bị chìm vào quên lãng? Như người đang khoẻ mạnh bỗng kiệt sức, thì chỉ vì lâm bịnh.

Chẩn mạch xong, tôi thấy rất nhiều nguyên nhân: lịch sử, chánh trị, tâm lý, kinh tế, xã hội… từ rất lâu đã làm cho dân tộc ta, nhứt là giới thanh niên lần lần đi xa âm nhạc dân tộc.

Nguyên nhân từ hơn một thế kỷ

Trong lịch sử từ hơn một trăm năm, nước Việt Nam mất chủ quyền. Chánh sách thuộc địa tuy không cấm đoán chúng ta học tập hay biểu diễn âm nhạc dân tộc, nhưng người thống trị thường phổ biến và đề cao văn hoá của họ, và tất nhiên đẩy lùi văn hoá người bị trị vào trong bóng tối.

Tình trạng dân bị trị dẫn đến tâm trạng tự ti: thấy người thống trị có lực lượng quân sự hùng hậu, nếp sống vật chất cao với nhiều tiện nghi, bị choá mắt vì cái hào nhoáng bên ngoài, nhạc cụ lộng lẫy, dàn nhạc đông đảo, người dân Việt sanh ra tự ti, thấy cái gì mình cũng thua kém, thì văn hoá mình cũng không bằng văn hoá người thống trị. Thấy cây đàn piano bóng bẩy, cả mấy chục dây, nhìn lại cây đàn bầu, thùng tre thùng gỗ trông nó nghèo nàn làm sao, và nó lại nằm trong tay những người ăn mày, mà quên đi cái giá trị của nó trong chỗ chỉ một dây mà tạo ra bao nhiêu âm thanh, có âm vực trên ba quãng tám, phối hợp hai nguyên tắc vật lý là tạo bồi âm bằng cách khảy dây đàn đúng chỗ nút giao động để tạo ra bồi âm, rồi thay đổi độ căng của sợi dây để làm cho bồi âm có độ cao thấp khác nhau, không thấy rằng « một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm thanh » (Thơ của Văn Tiến Lê). Chỉ thấy hình dáng thô sơ mà quên rằng trong sự cấu tạo nhạc khí, cha ông chúng ta đã dùng «một dây căng giữa đất trời, cần nghiêng nghiêng tựa dáng người vươn cao» (Thơ Nguyễn Hải Phương), có cả thiên, địa, nhân trong vóc dáng, mà « tiếng ngân, ngân tận cõi nào, dư âm rơi ngẩn ngơ vào tim ai » (Thơ Nguyễn Hải Phương). Đi học đàn cò, thì xấu hổ, giấu kín cây đàn cò trong bị. Đi học đàn violon, thì hãnh diện xách cây đàn trong hộp gỗ cho mọi người thấy. Lòng tự ti đó dẫn tới chỗ nhiều người nghĩ rằng: «đàn dân tộc là lạc hậu, đàn Tây là tiến bộ!», đi đến chỗ bỏ đàn Việt, học đàn Tây.

Rồi những nguyên nhân kinh tế lại càng làm cho thanh niên xa lần âm nhạc truyền thống. Trong những buổi hoà nhạc, trên các Đài phát thanh, sau nầy trên Đài truyền hình, trong các hãng làm dĩa hát, tiền thù lao cho nhạc công truyền thống thua xa tiền thù lao của những nhạc công đàn Tây và từ năm sáu chục năm nay, thua cả diễn viên tân nhạc. Bỏ công luyện tập đàn dân tộc để không sống được với nghề nghiệp của mình. Cùng một thời gian luyện tập, đi vào nhạc mới, nhạc Tây sẽ làm ra tiền nhiều hơn. Tính thực dụng đã làm cho thanh niên quay lưng với âm nhạc truyền thống.

Tiếp theo là nạn chiến tranh. Trong hơn 30 năm, nước Việt bị chìm trong khói lửa. Nông dân cấy lúa ban đêm, im lặng không hò không lý. Đối ca nam nữ, hát đúm, hát ghẹo, hát xoan, hát quan họ cũng im hơi vắng tiếng vì ngày đêm bom đạn có thể rơi trên đầu mình bất cứ lúc nào. Tất cả năng lực trong nước đều tập trung để chống ngoại xâm, phục vụ kháng chiến. Văn nghệ dân tộc vì thế không được phát triển.

Nếp sống trong xã hội thay đổi

Đàn bà không phải như ngày xưa chỉ là nội trợ, mà đi làm việc bên ngoài. Con ít bú sữa mẹ, và tiếng hát ru cũng đã tắt trên môi của bà, mẹ, chị, để nhường chỗ cho những chương trình của Đài phát thanh giới thiệu những ca sĩ tân nhạc, hay nhạc kích động của nước ngoài. Đứa trẻ đã mất đi bài giáo dục âm nhạc đầu tiên của mẹ gieo vào tiềm thức em.

Trẻ em không còn hát những bài đồng dao mà hát những bài do người lớn đặt ra cho em.

Thanh niên thiếu nữ gặp nhau, không còn thích đối đáp bằng những câu ca tình tứ, những bài hát huê tình, mà thích ôm nhau và khiêu vũ theo những điệu tango, bolero.

Tiến bộ kỹ thuật có giúp con người đỡ tay, và nâng cao mức sản xuất, nhưng cũng làm mất đi vài làn điệu dân ca. Trên đồng ruộng không còn những giàn hò, hò cái hò con, cất lên những câu kể câu xô. Đã có đài phát thanh cho nghe những bài hát tân nhạc rồi!Không còn những tiếng chày tiếng cối nhịp theo những câu hò giã gạo hay xay lúa, vì đã có những nhà máy thay người, chỉ cần đổ lúa đầu nầy, hốt gạo đầu kia.

Trên sông nước không còn những tiếng cất lên trong đêm vắng gọi «bớ chiếc thuyền loan khoan khoan gác mái, tôi có một đôi lời phải trái phân nhau». Vì bao nhiêu đò máy đã thay thế chiếc đò chèo. Tiếng máy xình xịch đã thay tiếng Hò khoan vang trên mặt nước.

Các rạp hát thưa lần và tụ điểm mọc lên như nấm.

Trên các đài phát thanh hay truyền hình, vắng tiếng đờn ca dân tộc, tân nhạc và  «nhạc ngoại» chiếm những giờ có thể đông người nghe. Lại có bao nhiêu bộ môn bị hiểu lầm, đôi khi chịu hàm oan, mang tiếng xấu. Những đào nương gốc nông dân, chịu khó luyện tập để hát được tròn vành rõ chữ, vững tay phách, lại phải có tánh hạnh tốt mới được tuyển đi hát thờ hay hát cửa đình. Người đào nương đến khi mang tiếng « cô đầu«  bị liệt vào « phường bán phấn buôn hương« , vì ít ai biết cô đầu hát và cô đầu rượu là hai hạng người khác nhau rất xa. Cô đầu rượu nhờ tài nghệ của cô đầu hát dẫn khách vào nhà để cô đầu rượu rót chén rượu nồng mời «quan viên» uống cho say, rồi rỉ tai bày chuyện gió trăng. Nghệ thuật ca trù vì vậy mà bị coi thường và chìm lần vào sự lãng quên.

Chầu Văn bị xem là mê tín nên có lúc bị bài trừ chớ nhông phải là một sinh hoạt văn hoá toàn diện, có hát có đàn, có trang phục, có múa.

Những nguyên nhân tôi nêu ra cho chúng ta thấy vì đâu âm nhạc truyền thống mất lần sinh lực, nên trước sự tấn công của các luồng văn hoá ngoại bang, đã bị đẩy lần vào trong bóng tối. Đa số thanh niên chạy theo cái hào nhoáng bên ngoài vì không hiểu cái chân giá trị đặc thù mà kín đáo của nghệ thuật dân tộc.

Ngày qua tháng lại,căn bịnh không ai trị đã thành mãn tính. Nay muốn lành bịnh phải trị căn chớ không thể trị chứng.

Từ trong gia đình ra tới xã hội, từ dân chúng đến nhà cầm quyền, mỗi người đều phải có ý thức nhúng tay vào việc trị bịnh. Nếu bắt đầu từ ngay bây giờ, có lẽ phải đợi 5, 10 năm hoạ may mới có kết quả. Nếu không, việc phải tới sẽ tới. Âm nhạc truyền thống sẽ thoi thóp, tàn lụn rồi đến khi sức tàn lực tận sẽ trút hơi thở cuối cùng. Đó là cái nhìn khách quan. Nhưng tôi bổn tánh lạc quan và rất tin tưởng vào ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam, nên tôi nghĩ rằng âm nhạc truyền thống, dầu lâm cơn bạo bịnh, cũng sẽ tìm lại được sức hồi sinh.

Muốn sớm đem lại nguồn sinh lực cho nguời bịnh, tôi đề nghị những phương thuốc sau đây:

  1. Làm sống lại tiếng Hát ru để cho trẻ sơ sanh có được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên trong cuộc đời. Nếu mẹ phải đi làm việc bên ngoài hay phải gởi con vào nhà trẻ, thì đến giờ các em ngủ, để cho các em nghe qua máy phóng thanh, tiếng hát ru ghi vàodĩa hát hay băng từ.
  1. Đem âm nhạc truyền thống vào học đường là một phương thuốc hữu hiệu và cần thiết nhứt. « Dạy con dạy thuở còn thơ ». Trong các lớp mẫu giáo hay các trường tiểu học, trung học nên có chương trình dạy Giáo dục âm nhạc, trong đó âm nhạc truyền thống dân tộc là nòng cốt.

3.Các em nhỏ nên hát những bài đồng dao hay những bài hát sáng tác theo loại đồng dao, như những bài Ông Nỉnh Ông Ninh, Có con dế mèn của Lê Thương, phù hợp với tâm lý các em hơn những bài do ngưới lớn sáng tác theo phong cách phương Tây.

  1. Khuyến khích người nông dân hò, lý trong lúc làm việc. Có thể tổ chức những giàn hò trong mỗi vạn cấy gồm đôi ba cặp hò đối đáp. Những ngườii hò hay thì hò nhiều, làm việc ít, mà tiền công được trả đủ có khi còn được thưởng. Như cô bảy Phùng Há thuở lên 7, 8 tuổi đi làm thuê trong lò gạch. Nhờ có giọng ca hay, ai nấy đều dồng ý để cho cô ca, khỏi làm gạch, mỗi người cho một ít gạch, thành ra cô bé có giọng oanh vàng hôm nào cũng có nhiều viên gạch, mà khỏi phải lao công. Người làm nhờ nghe ca, thích thú, năng suất cao, chủ lò gạch rất thích.
  1. Khuyến khích những sinh hoạt đối ca nam nữ, những buổi hoà đàn dân tộc bằng cách mở những cuộc thi có cho giải thưởng cho những người đàn hay hát giỏi. Tổ chức những buổi giao lưu giữa những đội hát, nhóm đàn.
  1. Các Đài phát thanh và Truyền hình nên có những buổi giới thiệu, có chuyên gia giải thích, những bộ môn âm nhạc trong truyền thống dân gian hay bác học vào những giờ có nhiều người nghe hay xem, bày những trò chơi đố giải, có liên quan đến âm nhạc dân tộc. Đài nên mời những nghệ sĩ có tên tuổi đến dự những buổi liên hoan trên Đài về Hát ru, Hò, Lý, Đối ca Nam Nữ. Những nguời nghiệp dư được huy chương vàng, bạc hay đồng trong các liên hoan tại các huyện các tỉnh, được mời lên Đài biểu diễn, coi đó như là một phần thưởng mà các bạn không chuyên nghiệp rất thích.
  1. Báo chí nên có những trang đặc biệt về âm nhạc dân tộc.
  1. Những nhà xuất bản sách báo nên phát hành những bưu ảnh có hình nhạc khí được thông dụng do các nhạc sĩ trẻ biểu diễn, những sách tập vẽ hay tô màu hình nhạc khí truyền thống, những sách góp lại những truyền thuyết liên quan đến âm nhạc.
  1. Những nhà xuất bản dĩa hát nên cho ra những dĩa hát giới thiệu nhạc khí, nhạc phẩm dân tộc, do những nghệ sĩ trẻ biểu diễn, có lời giới thiệu của những giáo sư có tên tuổi do những kịch sĩ, ca sĩ được quần chúng hâm mộ đọc lên, từng ấy « siêu sao » sẽ thu hút nhiều người mua dĩa.

Rất cần có nhiều người do hiếu kỳ, đi tới âm nhạc truyền thống để tìm hiểu. Có hiểu mới thương, có thương mới thích, mới sẵn sàng để thì giờ học hỏi, luyện tập, biểu diễn, thưởng thức, rồi đi tới bảo tồn, phổ biến, phát huy âm nhạc dân tộc.

Trong xã hội hiện nay, muốn huy động tư nhân hay hiệp hội, cơ quan nhà nước hay thương hội tư, kêu gọi sự tài trợ của các Mạnh Thường quân hay các doanh nhân, chỉ có chánh quyền mới có thể phát động phong trào mạnh mẽ.

Hiện nay chánh quyền đã có vạch ra đường lối văn nghệ rất đúng, nhưng các cơ quan thi hành đường lối chưa được đúng. Thí dụ khẩu hiệu « Dân tộc, Khoa học, Đại chúng » rất hay. Tính dân tộc là ưu tiên, là trên hết. Nhưng dân tộc là gì? Mỗi người hiểu một cách. Không ít người cho rằng cây đàn piano nếu được nhiều người ưa thích, học hỏi và biểu diễn nó sẽ thành cây đàn dân tộc. Nói trọng dân tộc, kêu gọi dân chúng về nguồn, nhưng ta vẫn còn thấy cảnh dàn dựng một Giao hưởng khúc sáng tác theo phong cách Âu Tây, được tài trợ cả vài trăm triệu đồng. Tổ chức một liên hoan về đờn tranh có nhiều nước châu Á tham dự Nhựt Bổn, Đại Hàn, Singapore, v.v.. chỉ nhận được tài trợ không đến ba chục triệu đồng.

Trong tư nhân cũng vậy. Có nhan sắc, mặc áo dài đẹp nhứt được thưởng 15 triệu đồng. Có năng khiếu âm nhạc, dày công học tập năm nầy tháng nọ, phải thi qua ba bốn đợt, được huy chương vàng và số tiền 10 triệu. Nói chi đến đá bóng. Đưa một trái banh vào lưới được thưởng ba chục triệu đồng như chơi, nhấn một chữ đàn gân guốc làm não ruột người nghe, chỉ được tiếng xuýt xoa, hay một tràng pháo tay, rồi thôi! Người nghệ sĩ đã làm rung động lòng thính giả lại lủi thủi ra về sống cuộc đời hẩm hiu!

Tính thực dụng lại được đưa ra để giải thích những việc đó. Thì ra âm nhạc đã không còn một nghệ thuật mà chúng ta phụng sự và đã biến thành một món hàng chúng ta bán!!!

  1. Chánh quyền có thể giúp rất nhiều trong việc giữ gìn và chấn hưng âm nhạc dân tộc. Những điều cấp bách cần phải làm Giáo Sư Ca Lê Thuần đã nói rất rõ ràng, đầy đủ và chí lý. Tôi chỉ lập lại ba việc:

1/ Đem âm nhạc vào học đường và nhứt là ở cấp mẫu giáo và tiểu học

2/ Cải tổ chương trình dạy nhạc trong cấp Trung học và nhứt là trong các Nhạc Viện.

3/ Có chánh sách ưu đãi những nghệ nhân suốt đời tận tụy với âm nhạc truyền thống và với sinh viên học nhạc dân tộc .

Trong quần chúng còn nhiều nhận định về âm nhạc truyền thống cần nên xét lại:

  1. Có lắm ngưòi cho rằng âm nhạc truyền thống « lạc hậu« . Tôi chi xin hỏi lại các vị ấy có biết chi về âm nhạc truyền thống mà dám cho rằng nó lạc hậu?

Các vị có biết tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia của đàn đáy khác tiếng phi, tiếng chầy của đàn tỳ bà ra sao không?

Các vị có biết rằng cách nhấn đàn tranh chúng ta phong phú hơn cách nhấn của đàn Zheng Trung Quốc, vì chúng ta có nhấn nửa bực, một bực, một bực rưỡi, có nhấn rung, nhấn mổ, nhấn nhảy, nhấn vuốt?

Các vị có biết cách gõ phách trong truyền thống ca trù độc đáo có một không hai trên thế gìới? Thường thì khi gõ nhịp hay đánh trống thì dùng hai dùi giống nhau, không có nơi nào dùng hai dùi một thân tròn, một chẻ làm hai để cho có một tiếng nặng một tiếng nhẹ, một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng Dương một tiếng Âm. Khi đánh thì âm dương trộn nhau, hai tiếng phách cái, phách con chen nhau làm cho nhịp đều được bao trùm trong những tiếng phụ, phách không hiện rõ mà biến thành « lẫn phách », có phân nhịp mà như không có nhịp, thật mà như hư, có mà như không, .hiện mà như ẩn?

Các vị có biết hát Nam trong hát tuồng, hát bội, có luyến và láy? Luyến là gì mà láy là gì? Tại sao lại phải khi dùng láy lệ, lúc dùng láy rút, láy nhún, láy đắp bờ, láy âm, láy dương?

Bao nhiêu cái tế nhị trong thanh nhạc, trong khí nhạc, các vị có biét rõ không mà dám cho rằng âm nhạc truyền thống là lạc hậu?

  1. Nhiều người cho rằng âm nhạc truyền thóng rất « lề mề« , không theo kịp nhịp sống của thời đại. Trong xã hội công nghiệp, nhịp sống rất mau mà nhạc cổ truyền quá chậm. Tại sao nhịp âm nhạc lại phải mau theo nhip của xã hội công nghiệp? Âm nhạc là nghệ thuật, công nghiệp là kỹ thuật, tiết tấu của hai bên không liên quan gì với nhau cả. Nhịp của nghệ thuật là nhịp của trái tim. Trái tim của chúng ta không thể đập theo nhịp điệu cuồng loạn. Nếu trái tim phải đập theo nhịp của kỹ thuật, chắc ta phải vào bịnh viện. Ở những nước kỹ thuật tiên tiến bên Âu Mỹ, nhịp sống mau hơn nhịp sống ở nước ta nhiều. Thanh niên các nước Âu Mỹ đang quay về nhạc châu Á để tìm chút yên tĩnh, hầu chống lại nếp sống quay cuồng, lôi cuốn con người vào guồng máy của nó.
  1. Có người lại nói rằng nhạc truyền thống của ta phải theo đà tiến hoá, phải thế nầy thế nọ. Các bạn quên rằng âm nhạc truyền thống đang lâm vào cảnh nguy kịch, như căn nhà đang cháy hay bị lũ cuốn lôi. Phải chữa cháy trước đã rồi mới nghĩ phải trồng hoa ngoài sân, phải treo tranh trên tường, phải đặt điều hoà không khí. Âm  nhạc truyền thống đang lâm cơn bịnh mãn tính trầm kha. Phải chữa cho bịnh lành rồi mới nghĩ uống thuốc bổ cho khoẻ người, tập thể dục cho nở nang bắp thịt. Âm nhạc truyền thống không phải bất di bất dịch. Nhưng trước khi định cho nó phải tiến bộ như thế nào, nên cứu cho nó sống trước đã.

Theo tôi vừa trình bày phía trên, muốn trị bịnh cho âm nhạc truyền thống, phải có chánh quyền nhúng tay vào. Nhưng chỉ có chánh quyền thì không đủ. Tất cả chúng ta, mỗi người trong phạm vi hoạt động của mình, phải ý thức đến việc mất còn của âm nhạc truyền thống và tùy theo khả năng của mình góp phần vào việc điều trị căn bịnh mãn tính, thì hoạ chăng trong mươi năm, hai mươi năm nữa chân trời âm nhạc truyền thống mới có thể tỏ rạng hơn ngày nay.

TRẦN VĂN KHÊ

 

11 CommentsChronological   Reverse   Threaded

delete reply

tranquanghai wrote on Apr 9, ’08

Bài nhân xet rât chinh xac noi lên thuc trang cua nhac cô truyên Viêt Nam.

delete reply

phuongoanh wrote on Apr 10, ’08

cám ơn Thầy đã viết lên những cảm nghĩ về vấn đề của âm nhạc truyền thống.
Cho em ‘quảng cáo’ trang nhà này đến bè bạn xa gần để được học hỏi thêm.

delete reply

lengochan wrote on Aug 15, ’08

Thưa GS,

Lần trình diễn của vở Chiếc Áo Thiên Nga, con tuy không trực tiếp đến xem nhưng qua những thông tin trên báo chí và những người đến xem cũng hiểu phần nào sự bát nháo của tình hình văn nghệ dân gian của Việt Nam. Hỡi ôi, đến những đạo diễn, diễn viên cốt cán mà vẫn không phân biệt được tạp nham và nghệ thuật chân chính thì sự suy giảm khả năng thưởng thức nghệ thuật của công chúng còn ở mức độ nào….

Lê Ngọc Hân

edit delete reply

trantruongca wrote on Aug 15, ’08, edited on Feb 18

Thầy không hòan tòan phủ nhận các cố gắng của những người đạo diễn hay diễn viên có thiện chí nhưng chưa thành công 100%. Nhưng tình hình chung của nền ca, nhạc, vũ kịch truyền thống chưa được khả quan.

Con đang làm nghề gì hay học môn gì mà thiết tha với văn hóa truyền thống vậy con?

GSTVK

delete reply

lengochan wrote on Aug 15, ’08

Dạ thưa GS,

Con là cựu sinh viên ngành Ngữ Văn Hán Nôm trường ĐH KHXH và NV. Từ nhỏ con đã mong muốn được làm gì đó để bảo tồn văn hóa dân tộc Việt Nam nhưng đến nay quả thực lực bất tòng tâm. Nhìn thấy cảnh sinh viên Hán Nôm tốt nghiệp, chỉ có 1,2 người theo nghề, còn lại thì bươn chải đủ nghề để kiếm sống. Con cũng vậy, hiện con cộng tác viết báo và phụ trách nội dung website cho một trường mẫu giáo. Giúp cô hiệu trưởng truyền bá kiến thức cho các bậc phụ huynh nuôi dạy trẻ tốt hơn.

Gia đình con hầu như ai cũng biết GS và thích xem những phát biểu của GS trên tivi.

Trước đây còn nhỏ, đọc hồi ký của GS con chưa thấm thía nhiều, nay đọc lại con hiểu hơn về tấm lòng của GS với văn hóa dân tộc. Sức học con có hạn, tài chính cũng không nhiều, nhưng dự định sang năm con sẽ cố thi cao học ngành Văn hóa Việt Nam để có thể tiếp sức cho văn hóa dân tộc.

Vài dòng tâm sự

Lê Ngọc Hân

edit delete reply

trantruongca wrote on Aug 15, ’08

Thầy chúc cho con thực hiện được ước mong của con
Thầy TVK

delete reply

phiadongtay wrote on Aug 17, ’08

Xin cam on!

delete reply

trananhkhoa96 wrote on Jan 29, ’09

đọc loạt bài về âm nhạc truyền thống mà chếnh choáng như thể dự một bữa đại tiệc, tuy đa dạng phong phú nhưng cũng tinh tế thâm trầm.
Cháu có vài lời quê mùa gọi là tỏ lòng kính đến những bài viết của GS.

Ừ thì vọng cổ đôi câu
Ngũ cung chao đảo như dâu bể đời
Quán khuya ngồi ngó mưa rơi
Nương câu tài tử hát lời quê hương
Tứ đại oán lưu thủy trường
Bàn tay giữ nhịp vô thường miên man

Nghe đi em giữa thở than
Điệu sầu sông nước chứa chan tình người…

edit delete reply

trantruongca wrote on Jan 30, ’09

Đọc bài Thầy con chếnh chóang
Nhưng sau đó lại ra thơ
Thâm trầm con không thấy ngán
Thầy sung sướng! Thật không ngờ!!!
Cám ơn con Trần Anh Khoa !

edit delete reply

trantruongca wrote on Jan 30, ’09

Đọc bài Thầy, con chếnh choáng
Nhưng sau đó lại ra thơ
Thâm trầm con không thấy ngán
Thầy vui sướng ! Thật bất ngờ!
Cám ơn con Trần Anh Khoa

delete reply

pmthu wrote on Mar 30, ’10

Con mới học đàn tranh được 2 tuần và rất thích môn nghệ thuật dân gian này. Con thấy yêu những câu nhạc dân ca Việt Nam và mong rằng mình có thể đến được với lĩnh vực này sâu hơn, hiểu hơn. Nay tình cờ tìm được blog của giáo sư thấy thật may mắn và rất vui.
Xin phép giáo sư để được đăng bài này trên trang riêng của con.
Chúc giáo sư luôn mạnh khỏe đem đến cho đời nhiều những kiến thức hơn về đàn tranh nói riêng và các nhạc cụ dân tộc khác nói chung.
Xin cảm ơn giáo sư.