TUYẾT LOAN : Giáo sư Trần Văn Khê từ trần ngày 24 tháng 6, năm 2015 tại quận Bình Thạnh, TP HCM

Giáo sư Trần Văn Khê từ trần
 
Thứ tư, 24/06/2015 – 02:46 PM (GMT+7)
GS Trần Văn Khê và ca nương Phạm Thị Huệ. Ảnh TL.
GS Trần Văn Khê và ca nương Phạm Thị Huệ. Ảnh TL.

NDĐT – Giáo sư Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng vào rạng sáng 24-6.

Trước đó, khoảng cuối tháng 5, GS Trần Văn Khê trở bệnh nặng, phải vào bệnh viện vì suy tim, phổi nặng và suy thận. Ông bị suy hô hấp, nhịp tim chậm, phải thở bằng máy. Di nguyện của GS Trần Văn Khê là mong muốn thi hài của mình được quàn tại nhà riêng ở đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Hiện tại, do GS Trần Quang Hải, con trai của ông chưa về kịp nên thi hài của ông đang được tạm thời đặt tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Một tiểu ban tang lễ được sẽ được lập ra gồm những người thân thiết của ông như nhà văn – nhà báo Nguyễn Đắc Xuân, ông Trần Bá Thùy (chồng của nữ thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương)…

GS Trần Văn Khê (24-7-1921 – 24-6-2015) là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc quốc tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Trần Văn Khê sinh tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó là Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng.

Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931.

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm. Năm lên 6 tuổi ông đã được dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ».

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán. Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, thuộc Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại quê nhà. Ông cũng là người đã tặng cho TP Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

GS Trần Văn Khê có bốn người con: GS Trần Quang Hải cũng là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TP Hồ Chí Minh), Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.

Trong sự nghiệp nghiên cứu và hoạt động âm nhạc của mình, GS Trần Văn Khê đã được trao nhiều giải thưởng cao quý như Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest (1949), Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (1981), Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp (1991), Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam (1998), Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao (1999), Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng (2003), Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu (2011).

TUYẾT LOAN

GS HOÀNG CHƯƠNG : GS-TS Trần Văn Khê – Một đời cống hiến vì âm nhạc dân tộc

GS-TS Trần Văn Khê – Một đời cống hiến vì âm nhạc dân tộc

Thứ năm, 25/06/2015, 09:16 (GMT+7)

Mới cách đây vài tuần, Hội Người cao tuổi Việt Nam, Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam và cơ quan chúng tôi ngồi bàn việc tổ chức hội thảo khoa học về văn nghệ sĩ cao tuổi với văn hóa dân tộc. Nhiều ý kiến đề nghị phải mời được Giáo sư Vũ Khiêu (100 tuổi) và Giáo sư Trần Văn Khê (94 tuổi), để 2 cây đại thụ này truyền đạt những kinh nghiệm quý về lao động sáng tạo, về những đóng góp cho sự nghiệp văn hóa dân tộc. Nhưng đến ngày 24-6, tin Giáo sư (GS) Trần Văn Khê qua đời đem lại sự nuối tiếc cho nhiều người.

1. Tôi quen biết GS Trần Văn Khê từ những năm 80 và 90 thế kỷ trước. GS Trần Văn Khê về nước 1-2 lần và thường đến nhờ tôi tổ chức giới thiệu nghệ thuật hát bội (tuồng) cho ông ghi âm và quay video. Cũng có những lần, tôi mời ông đi Đà Nẵng, Quảng Ngãi dự hội thảo về tuồng, về văn hóa dân tộc, ông đều đi dự và chú ý lắng nghe. Những gì ông chưa rõ về tuồng, về bài chòi thì ông bảo tôi nói cho ông nghe và ghi đầy đủ.

Tháng 9-2002, GS-TS Việt kiều Thái Kim Lan ở Đức mời Đoàn tuồng Bình Định sang Munich biểu diễn. Bà mời GS Trần Văn Khê từ Pháp sang và mời tôi từ Hà Nội tới để giao lưu với trí thức Đức. GS Trần Văn Khê nói và diễn minh họa về âm nhạc dân tộc Việt Nam, còn tôi thuyết trình về tuồng. Trong gần 2 tuần lễ, tôi được sống gần GS Trần Văn Khê và được trò chuyện với nhau rất nhiều về nghệ thuật sân khấu và âm nhạc dân tộc Việt Nam. Tôi đã ghi câu chuyện trao đổi với GS Trần Văn Khê tới 50 trang trong quyển sổ nhỏ. Bây giờ đọc lại mới thấy những gì ông nói là vô giá về kinh nghiệm nghiên cứu nghệ thuật dân tộc.

Kết thúc công việc ở Đức, GS Trần Văn Khê lại về Pháp và mời tôi sang Paris chơi với ông. Thực hiện lời hẹn, mấy hôm sau tôi đến Paris và đến thăm GS Trần Văn Khê ở đường Clement Perrot 94400 Vittry – Sur Seine. Ông tỏ ra lúng túng, vì nhà cửa quá chật chội, bởi toàn bộ tầng lầu ở tầng 9 rộng lớn biến thành kho sách và tư liệu nghệ thuật khổng lồ. Sách và băng đĩa nhạc được GS sưu tầm tích lũy suốt 50 năm đã chiếm hết chỗ sinh hoạt của ông, chỉ có nhà bếp và buồng tắm là còn trống thôi! Nhà bếp hầu như không nấu nướng vì GS không có thì giờ, bữa ăn đã có cô Tường Vân, một người mến mộ ông, mang cơm tới.

2. Ông sống độc thân suốt 50 năm, dường như tất cả thời gian và tâm huyết dành cho việc nghiên cứu âm nhạc. Có lẽ chưa có người Việt Nam thứ 2 nào suốt nửa thế kỷ chỉ sống một mình và chỉ làm một việc là giảng dạy, sưu tầm nghiên cứu âm nhạc dân tộc cùng với việc đi quảng bá nghệ thuật dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu như GS Trần Văn Khê. Từ vốn kiến thức đồ sộ ấy, GS Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc, ông đã viết ra tới 7 tập sách hồi ký về cuộc đời hoạt động âm nhạc của mình. Ông tặng cho tôi mấy quyển, tôi coi đây là món quà rất quý từ Paris mang về Hà Nội để đọc. Cũng tại đây, ông nhận tôi là em kết nghĩa và từ đó quan hệ giữa chúng tôi gắn bó hơn. Ông làm cố vấn khoa học cho cơ quan tôi và thường xuyên có mặt tại các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học về văn hóa, văn hiến Việt Nam.

Tại gian phòng đầy ắp tư liệu quý này, GS Trần Văn Khê mở những băng đĩa ra cho tôi nghe rồi giải thích rất tỉ mỉ những nội dung và giá trị của những tư liệu âm nhạc mà ông đã thu được ở Việt Nam, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ… Từ tiếng hát tuồng của nghệ sĩ Năm Đồ, đến tiếng hát cải lương của nghệ sĩ Phùng Há đều có trong băng đĩa của GS Trần Văn Khê.

GS-TS Trần Văn Khê truyền thụ âm nhạc dân tộc cho trẻ em. Ảnh: MINH AN

3. Tuy đã sống ở Paris ngót nửa thế kỷ nhưng từ đầu năm 2004, GS Trần Văn Khê nhất quyết trở về quê hương để sống và cống hiến trong những năm tháng cuối đời cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà. Ý nguyện của ông đã thành hiện thực khi lãnh đạo TPHCM quyết định cấp ông một căn nhà, vừa làm bảo tàng âm nhạc, vừa là nơi GS gặp gỡ đồng nghiệp và giảng dạy cho thế hệ trẻ yêu âm nhạc dân tộc. Hàng ngày ông thực hiện dự án “Âm nhạc học đường” của UNESCO tài trợ để thử nghiệm dạy nhạc dân tộc cho học sinh tiểu học TPHCM. Ông cảm thấy vui khi các học sinh và cô giáo trẻ đều say sưa học, say sưa tìm hiểu âm nhạc dân tộc.

Tuy nhiên, theo lời anh Huỳnh Văn Tươi (trợ lý GS Trần Văn Khê) thì GS Trần Văn Khê rất buồn khi một cô giáo (người đang theo học lớp thử nghiệm dạy nhạc dân tộc trong một trường cấp 1) đưa cho ông xem một quyển sách dạy nhạc và nói rằng: Đây là giáo trình âm nhạc cho học sinh cấp 1 học mà nội dung của nó hoàn toàn khác với nội dung của GS Trần Văn Khê đang dạy.

Cụ thể là nội dung trong dự án Thử nghiệm âm nhạc học đường do UNESCO tài trợ và GS Trần Văn Khê đang truyền dạy thí điểm tại TPHCM là dùng phương pháp truyền nghề truyền thống đã được tổng kết và nâng lên thành phương pháp khoa học, đồng thời giảng dạy trên cơ sở âm nhạc dân tộc, hoàn toàn khác với giáo trình âm nhạc của Bộ Giáo dục-Đào tạo đang giảng dạy chính thức ở các trường tiểu học trong toàn quốc chủ yếu dựa vào phương pháp dạy nhạc của phương Tây, không bao giờ nghe nhắc tới hò, xự, xang, xê, cống. Những tên tuổi âm nhạc dân tộc nước nhà cũng không được nhắc tới, trong khi đó hầu hết là dẫn chứng các nhạc sĩ phương Tây có thần đồng như Mozart, Chopin, Tchaikovsky. Như vậy phải chăng Việt Nam không có nền âm nhạc đáng nói, đáng tự hào và đáng học? Và nhã nhạc cung đình được UNESCO công nhận là kiệt tác của nhân loại từ đâu ra?

Theo GS Trần Văn Khê, tất cả những điều đó nếu nhồi vào trái tim khối óc của tuổi thơ thì khó khăn lắm mới có thể làm sạch được. Khán giả ngày xưa mê tuồng, mê chèo như thế nào và quan niệm về tuồng, chèo cổ của họ hoàn toàn khác với khán giả hôm nay. Khán giả xưa (thế hệ đầu thế kỷ 20 trở về trước) chỉ chấp nhận tuồng, chèo diễn theo truyền thống, tức là diễn theo phương pháp cách điệu, ước lệ và tượng trưng, lấy người diễn viên làm trung tâm và lấy ca hát làm chủ đề và âm nhạc sân khấu truyền thống chỉ có 4, 5 nhạc cụ mà thôi, chứ làm gì có tới 10, 12 nhạc cụ như ta thấy ở các dàn nhạc tuồng, chèo hiện nay. Thực trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược trong giáo dục và đào tạo âm nhạc dân tộc hiện nay đã làm cho GS Trần Văn Khê thấy vui ít buồn nhiều.

GS Trần Văn Khê từng hy vọng khóa đào tạo thể nghiệm sẽ được nhân rộng ra cả nước và âm nhạc dân tộc Việt Nam sẽ không bị đứt mạch truyền thống, không bị âm nhạc phương Tây lấn át nữa. Mong ước đó, nay đã theo ông về cõi vĩnh hằng…

Giáo sư HOÀNG CHƯƠNG
(Tổng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam)

– GS-TS Trần Văn Khê từ trần

http://www.sggp.org.vn/dienanh/2015/10/399742/

– See more at: http://www.sggp.org.vn/amnhac/2015/6/387879/#sthash.mAnpOb6t.dpuf

WIKIPEDIA : Giải thưởng Vinh danh nước Việt : GSTS TRẦN VĂN KHÊ 2004

Giải thưởng Vinh danh nước Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vinh danh nước Việt là giải thưởng do báo điện tử VietNamNet sáng lập, có sự hợp tác của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh những người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều thành tích trong sự nghiệp và có nhiều đóng góp cho đất nước.

Mục lục

Lần 1: Vinh danh nước Việt – 2004

Với chủ đề « Mùa chim về tổ »[1]

  1. Giáo sưTiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng (sinh 1941, Bỉ): Có nhiều đóng góp trong việc hợp tác về đào tạo Cao học Bỉ-Việt.
  2. Giáo sư-Tiến sĩ nhân chủng học Lương Văn Hy (1953, Canađa): Có nhiều đóng góp trong việc giới thiệu ngôn ngữ, tổ chức xã hội và kinh tế của Việt Nam bằng nhiều hình thức.
  3. Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê (1952, hiện đang định cư tại Việt Nam): Có 66 phát minh sáng chế tại Nhật và Mỹ, đem lại những ứng dụng kinh tế to lớn trong lĩnh vực máy vi tính, máy photocopy.
  4. Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê (1921, Pháp): Có những đóng góp to lớn trong việc giới thiệu văn hóa nói chung và âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng ra nước ngoài.
  5. Giáo sư-Tiến sĩ Đặng Lương Mô (ở Nhật, đã hồi hương): Từng nổi tiếng ở Nhật và nhiều nước trong chuyên ngành điện tử bán dẫn và thiết kế vi mạch.
  6. Doanh nhân Nguyễn Ngọc Mỹ (1950, Ôxtrâylia): Hiện định cư tại Việt Nam, là chủ nhiệm CLB doanh nhân Việt kiều, có những đóng góp rất lớn trong việc nối gần mối quan hệ giữa Việt kiều với trong nước.
  7. Giáo sư-Tiến sĩ Ngô Thanh Nhàn (1948, Mỹ): Việc chuyển đổi, mã hóa chữ Nôm, chữ quốc Ngữ trên máy vi tính là một trong những đóng góp điển hình của ông cho đất nước.
  8. Nhạc trưởng Lê Phi Phi (Maxêđônia): Giáo sư Trung tâm Âm nhạc và Múa Ilijia Nikolovski của Macedonia.
  9. Giáo sư-Tiến sĩ âm nhạc Nguyễn Thuyết Phong (Mỹ): Là người Việt thứ hai (sau GS Trần Văn Khê) được ghi tên và tiểu sử vào cuốn Đại từ điển âm nhạc thế giới.
  10. Tiến sĩ Nguyễn Công Phú (1951, Pháp): Là chuyên gia quản lý các dự án lớn về điện, dầu khí, cầu đường tại hàng chục nước, ông tư vấn nhiều cho Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau về giao thông.
  11. Tiến sĩ vật lý Nguyễn Quang Riệu (1932, Pháp): Được giải thưởng của Viện hàn lâm khoa học Pháp về những thành tích Thiên văn Vật lý.
  12. Nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn (1958): Giải nhất cuộc thi piano quốc tế Chopin lần thứ 10.
  13. Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (1932, Mỹ): Có nhiều đóng góp có giá trị giúp Việt Nam trong phát triển đầu tư và hội nhập quốc tế về kinh tế, tài chính.
  14. Tiến sĩ kinh tế Trần Văn Thọ: Giảng viên có uy tín về thương mại quốc tế, kinh tế chuyển đổi… tại Nhật, là cầu nối quan trọng để nhiều sinh viên tại Nhật đi thực tế tại Việt Nam.
  15. Tiến sĩ Trịnh Xuân Thuận (1948, Mỹ): Nổi tiếng trong chuyên ngành thiên văn tại Mỹ và trên thế giới.
  16. Giáo sư-Tiến sĩ kỹ thuật y sinh Võ Văn Tới (1949, Mỹ): Thành viên Hội đồng quản trị Quỹ giáo dục Việt Nam (VEF) của Chính phủ Mỹ.
  17. Giáo sư-Tiến sĩ vật lý Trần Thanh Vân (1937, Pháp): Bắc đẩu bội tinh của Pháp, người tổ chức các hội thảo vật lý quốc tế mang tên Gặp gỡ Việt Nam.
  18. Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản (1940, Thụy Sĩ): Giúp Việt Nam nhiều trong việc đào tạo, cải tổ ngân hàng đầu tư và chứng khoán tại Việt Nam.
  19. Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị (1945, Pháp).

Lần 2: Vinh danh nước Việt – 2005

Với chủ đề « Những Sứ giả Lạc Hồng »[2]

  1. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình (Canada) – Phó giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Tiến sĩ Nguyễn Trọng Bình (Mỹ) – Khoa học gia ngành Sinh vật phân tử và công nghệ
  3. Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Lương Dũng (Đức), Cán bộ giảng dạy Đại học Bách khoa TP.HCM
  4. Tiến sĩ Nguyễn Trí Dũng (Nhật), giám đốc công ty NICD – Minh Trân
  5. Hoạ sĩ Lê Bá Đảng (Pháp)
  6. Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Quý Đạo (Pháp)
  7. Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo (Pháp)
  8. Bác sĩ Bùi Minh Đức (Mỹ)
  9. Tiến sĩ Lê Phước Hùng (Mỹ)
  10. Thạc sĩ Phạm Đức Trung Kiên (Mỹ), giám đốc diều hành Quỹ Giáo dục Việt Nam của Chính phủ Hoa Kỳ VEF
  11. Giáo sư – Tiến sĩ Đoàn Kim Sơn (Pháp), Đại học Cơ và Kỹ thuật hàng không ENSMA, CH Pháp.
  12. Giáo sư toán học Lê Tự Quốc Thắng (Mỹ) – Viện Công nghệ Georgia, Hoa Kỳ
  13. Ông Phan Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị HHNVNONN Thành phố Hồ Chí Minh (Canada)
  14. Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Australia
  15. Tiến sĩ – Nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (Nga), Chủ nhiệm khoa sáng tác Hàn lâm Viện âm nhạc tỉnh Novosibirsk.

Lần 3: Vinh danh nước Việt – 2006[3]

  1. Giáo sư-Tiến sĩ Trần Nam Bình, (Úc), PGS Trường Đại học New South Wales.
  2. Tiến sĩ Lê Quang Bình (Mỹ), Chuyên viên thiết kế bộ nhớ Flash của Tập đoàn Advanced Micro Devices (AMD)
  3. Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Văn Chuyển (Nhật) Nguyên Trưởng khoa Thực phẩm và Dinh dưỡng, Trường Đại học Phụ nữ Nhật Bản
  4. Tiến sĩ Đỗ Đức Cường (Mỹ), Chuyên gia cao cấp ngành Ngân hàng tại Hoa Kỳ, Đại sứ Thiện chí Liên hiệp quốc, Cố vấn cao cấp ngành Ngân hàng tại Việt Nam
  5. Ông Trung Dũng (Mỹ), Giám đốc điều hành V-Home Group
  6. Bác sĩ Hoàng Anh Dũng (Bỉ), chuyên gia ghép tạng, đại học ULB
  7. Bác sĩ Quỳnh Kiều (Mỹ), Bác sĩ xuất sắc, Phụ nữ xuất sắc của Tiểu bang California
  8. Giáo sư-Tiến sĩ Thái Kim Lan (Đức), GS Trường Đại học Munich, Chủ tịch Hội Giao lưu Văn hoá Đức – Á của Munich
  9. Giáo sư-Tiến sĩ Trần Minh Tâm (Thụy Sĩ), GS Trường Bách khoa Liên bang Thụy Sĩ tại Lauranne
  10. Họa sĩ Văn Dương Thành (Thụy Điển), Trường Cao học Công Dân
  11. Linh mục Nguyễn Đình Thi (Pháp), Chủ tịch Hội Huynh đệ tại Pháp
  12. Giáo sư-Tiến sĩ Phạm Gia Thụ (Canađa), GĐ phòng Tính toán và Sử lý hình ảnh trường Đại học Moncton
  13. Kỹ sư Đỗ Anh Thư (Mỹ), TGĐ Quỹ Y tế – Văn hoá – Giáo dục cho Việt Nam – VNHELP
  14. Tiến sĩ Trương Nguyễn Trân (Pháp), GĐ Nghiên cứu Danh dự Trung tâm Vật lý Lý thuyết Trường Đại học Bách khoa Paris
  15. Giáo sư-Tiến sĩ Lê Dũng Tráng (Pháp), Viện sĩ, GĐ Trung tâm Toán học của Viện Hàn Lâm Thế giới tại Italy
  16. Giáo sư-Tiến sĩ Huỳnh Hữu Tuệ (Canada), Trường Đại học Laval
  17. GS Vũ Đức Vượng (Mỹ) GS trường Cao đẳng TP San Jose

https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_th%C6%B0%E1%BB%9Fng_Vinh_danh_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Vi%E1%BB%87t

VŨ ĐỨC TÂM : DUYÊN NGHIỆP VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC

Duyên nghiệp với văn hóa dân tộc
 (Chủ Nhật, 23/08/2015 – 8:37 AM)
Đại sứ Vũ Đức Tâm (bên trái) tại Trụ sở UNESCO sáng 25/11/2005. Tại nhà riêng của Đại sứ Vũ Đức Tâm trong con ngõ nhỏ trên đường Hoàng Hoa Thám râm ran tiếng ve ngày hè, ông chia sẻ cùng tôi những kỷ niệm khó quên trong hoạt động quảng bá văn hóa…

Kế hoạch gấp rút

Nhận nhiệm vụ Đại sứ thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO nhiệm kỳ 2003-2006 đúng lúc Nhã nhạc Cung đình Huế được công nhận là “Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” (11/2003), Đại sứ Vũ Đức Tâm nảy ra ý tưởng mời nghệ nhân trong nước sang biểu diễn dịp Tết Giáp Thân 2004.

Để thực hiện chương trình đặc biệt này, ông Tâm cho rằng cần có một chuyên gia có thể giới thiệu âm nhạc dân tộc bằng tiếng Pháp cho công chúng. Đại sứ tìm đến GS. Trần Văn Khê. Không ngờ, Giáo sư nhiệt liệt ủng hộ và “hủy hết lịch để tham gia chương trình vì cái tâm dành cho đất nước”.

Thời gian gấp rút, vị Đại sứ khẩn trương xây dựng một Ban tổ chức “xuyên châu lục” (Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại UNESCO, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, GS. Trần Văn Khê, Hội người Việt Nam tại Pháp, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, Bộ Văn hóa Thông tin và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế). Ý tưởng của Đại sứ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Phạm Quang Nghị đánh giá cao, nhưng ông cho biết Bộ chưa thể huy động được kinh phí ngay. Đoán trước tình huống này, Đại sứ Tâm chủ động kêu gọi Thừa Thiên Huế và Hội người Việt Nam tại Pháp hỗ trợ. Sau khi phân tích về cơ hội “mang chuông đi đánh xứ người”, Đại sứ Vũ Đức Tâm đã dàn xếp thành công vấn đề “đầu tiên”. Bên cạnh sự góp sức của Thừa Thiên Huế, Hội người Việt Nam đảm trách hậu cần tại chỗ. Giải quyết xong việc này, Ban tổ chức mới quay ra lo kịch bản, hội trường, quảng cáo và khách mời.

“Chuyện lạ” ở UNESCO

Đúng mồng 9 Tết, đoàn nghệ nhân Huế có mặt tại Trụ sở UNESCO. Đặc biệt trong số đó có nghệ nhân Trần Kích, 92 tuổi. Buổi biểu diễn nhanh chóng được bắt đầu với phần dẫn chương trình do Đại sứ Vũ Đức Tâm đảm nhiệm, GS. Trần Văn Khê là Cố vấn đặc biệt.

Hội trường 1.500 ghế của UNESCO không còn chỗ trống. MC Vũ Đức Tâm giới thiệu: “Hôm nay, Giáo sư Trần Văn Khê sẽ hướng dẫn các bạn dạo chơi trong thế giới Nhã nhạc cung đình Huế của Việt Nam”. Từ đó, trước mỗi tiết mục, Giáo sư chỉ dành ra hai, ba phút để giới thiệu một cách dễ hiểu và hấp dẫn. Khán giả say sưa thưởng thức “Tam luân cửu chuyển cầu cho quốc thái dân an”, “Trình tường tập khánh”, các điệu Mã vũ, Du xuân…; điệu múa “Lân mẫu xuất lân nhi”, “Lục cúng hoa đăng”… Tiếng vỗ tay vang dội kéo dài khi buổi diễn kết thúc.

Ở UNESCO, thông thường sau chương trình biểu diễn, khán giả thường ra về ngay. Nhưng lần này, một cuộc giao lưu cởi mở và thân tình giữa nghệ sĩ và người xem đã diễn ra ngoài dự kiến. Đại sứ Tâm kể: “Các bạn Tây tới xem, sờ lên đàn này, kèn kia và thích thú khi được các nghệ nhân hướng dẫn sử dụng”.

Sau Paris, đoàn tiếp tục lưu diễn ở Lyon, Marseille và Brussels (Bỉ). Nhà hát Villeurbane (Lyon) với gần 1.000 chỗ, Rạp Saint Michel (Bỉ) hơn 1.500 ghế đều được kín chỗ.

Từ thành công đó, sau này, Đại sứ Vũ Đức Tâm lại tổ chức biểu diễn Cồng chiêng Tây Nguyên tại châu Âu.

Đích thân tấu trống chèo…

Câu chuyện trên đã diễn ra mới hơn chục năm. Nhưng duyên nghiệp với văn hóa dân tộc đến với Đại sứ Vũ Đức Tâm từ hơn ba thập kỷ trước. Năm 1986, khi làm việc tại trụ sở Tổ chức Hợp tác Văn hóa và Kỹ thuật (ACCT), tiền thân của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) ở Pháp, ông biết đến Festival thường niên của tổ chức này nhưng khi đó Việt Nam chưa có điều kiện tham dự. Ông quyết định thành lập đoàn nghệ sĩ Việt tại Pháp đại diện cho Việt Nam.

Được ủng hộ từ trong nước và hưởng ứng của Hội người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Tâm tiếp xúc với các nghệ sĩ Kim Chính, Bảy Quy, nhà nghiên cứu âm nhạc Trương Tăng để thuyết phục tham gia đoàn… Thời gian ấy, dù bận thế nào ông đều đến xem mọi người tập luyện, có hôm khuya quá còn trực tiếp lái xe đưa một số người ở xa về nhà.

Đến cận ngày diễn thì nghệ nhân đánh trống bất ngờ… ốm, mà chèo thì không thể thiếu trống. Thế là Đại sứ Tâm xung phong: “Để tôi thử!”. Lúc đầu tiếng trống còn ngập ngừng nhưng sau đó thì chuyên nghiệp đến mức nghệ sĩ Kim Chính nói luôn: “Được, còn hay hơn ông kia”. Thế là nhà ngoại giao trở thành tay trống bất đắc dĩ trong gánh chèo. Lúc diễn trích đoạn “Xúy vân giả dại”, bị Xúy Vân ném cành lá vào mặt nhưng “nghệ sĩ” vẫn bình tĩnh biểu diễn. “Lúc giải lao, các bạn châu Phi hỏi tôi làm nghề bao lâu rồi và đề nghị tổ chức một buổi hòa nhịp trống Việt Nam và châu Phi. Tôi chỉ biết cười”, Đại sứ Tâm nhớ lại.

Chuyện nghề, chuyện nghiệp thật khó có thể nói hết trong một cuộc gặp gỡ, chỉ biết rằng với nhà ngoại giao có tâm hồn nghệ sĩ này, đó là quãng đời mà ông đã sống và làm việc với toàn bộ tâm huyết.

Nguyên Bảo (ghi)

http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=31599

VŨ ĐỨC TÂM : HẦU CHUYỆN GS TRẦN VĂN KHÊ

Hầu chuyện giáo sư Trần Văn Khê

29/05/2004 11:06 GMT+7

TTCN – Tôi đã mê say nghe giáo sư Trần Văn Khê nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh về đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Phóng to
GS Trần Văn Khê và đại sứ Vũ Đức Tâm

TTCN – Tôi đã mê say nghe giáo sư Trần Văn Khê nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh về đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Từ lâu, khi còn ở trong nước, tôi đã nghe nói đến giáo sư tiên sĩ Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc có tiếng, một nhà sư phạm đã từng đi giảng bài, nói chuyện ở hầu khắp các nước.

Khi sang công tác tại Paris, tôi định bụng phải tìm mọi cách để tiếp xúc với giáo sư. Và cơ may đã đến: nhân dịp nhã nhạc Huế được UNESCO công bố là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Đoàn nhã nhạc Huế đã sang biểu diễn tại châu Âu vào đầu năm nay, giáo sư đã không quản tuổi cao, sức yếu nhận lời mời đến dự các buổi trình diễn và đã giới thiệu về nhã nhạc một cách sinh động, đầy sức cuốn hút, góp phần đáng kể vào thành công của các buổi diễn.

Sau đó, tôi đã quen «thân» với giáo sư và vào một ngày đầu xuân, chúng tôi đã đến thăm giáo sư tại nhà riêng ở thành phố Vitry sur Seine, ngoại ô Paris.

Khác với sự tưởng tượng của tôi, giáo sư sống trong một căn hộ khiêm tốn nằm tận trên tầng chín của một khu nhà với giá thuê rẻ. Thay vào những tiện nghi của cuộc sống hiện đại là ngổn ngang những sách, tài liệu, băng, đĩa nhạc, các loại nhạc cụ cổ truyền xếp đầy các giá sách, tủ sách, trên bàn, trên ghế và cả dưới sàn. Khắp căn hộ, phòng nào cũng vậy, sách, tài liệu, băng đĩa nhạc… lấn hết chỗ, chỉ còn một chỗ nằm của giáo sư trong phòng ngủ.

Sự giản dị trong sinh hoạt đến mức khó tưởng tượng nổi của vị giáo sư nổi tiếng sống trên đất Paris hoa lệ khiến tôi chợt nhớ lại cách đây khoảng hơn 20 năm, tôi có dịp cùng một nhà báo Pháp đến gặp nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện tại nhà riêng ở Hà Nội. Ông bà Nguyễn Khắc Viện sống trong một căn phòng vừa là phòng khách vừa là phòng ngủ. Đồ đạc không có gì mà cũng chỉ thấy toàn sách, báo.

Trước mặt tôi là một người mảnh khảnh, mặc chiếc quần kaki với cái áo sơmi cộc tay đã bạc màu. Ông niềm nở mời chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế gỗ cũ kỹ đã tróc gần hết vécni và mời chúng tôi uống nước bằng bộ ấm chén cũng thật đặc biệt, ấm thì sứt vòi, còn chén thì mỗi cái một kiểu… Nhưng ông đã lôi cuốn khách suốt từ đầu đến cuối với sự uyên bác, cách nói say sưa đầy thuyết phục, bằng một thứ tiếng Pháp “còn hay hơn cả người Pháp” như lời ông nhà báo đã nói với tôi sau cuộc gặp ấy. Sự giản dị trong cách sống tỉ lệ nghịch với vốn kiến thức sâu rộng, phong cách lịch lãm và sự tinh tế trong ứng xử của ông đã gây ấn tượng mạnh cho tôi và ông nhà báo Pháp.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng cho tôi cảm tưởng như vậy. Tôi đã mê say nghe giáo sư nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh, đến mức không để ý gì đến thời gian trôi qua. Câu chuyện xoay quanh đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Phóng to
Ảnh: Huỳnh Ngọc Dân

* Thưa giáo sư, nhân duyên nào hoặc duyên nợ đặc biệt nào đã khiến giáo sư gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống VN và nhã nhạc?

– Tôi gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống do một “thiên duyên”.
Nhờ trời tôi được sinh ra trong một gia đình, hai bên nội ngoại đến tôi bốn đời đều là nhạc sĩ. Lúc tôi còn ở trong bụng mẹ đã được cậu Năm tôi thổi sáo cho nghe mỗi ngày. Vừa mở mắt chào đời đã được nghe tiếng sáo của cậu Năm tôi. Từ nhỏ đến lớn, khi biết nói là biết ca. Từ 6 tuổi đã biết đờn cò (đàn nhị), đờn kìm (đàn nguyệt), 12 tuổi đờn tranh, 7 tuổi đã theo gánh hát cải lương của cô Ba tôi là bà Trần Ngọc Viện lập ra. Do đó, việc tôi gắn bó với âm nhạc truyền thống đúng là nhờ “duyên trời” vậy.

Tôi đến với nhã nhạc Huế như tôi đã đến với ca trù, chầu văn miền Bắc, hát bội miền Nam, nhạc Phật giáo ba miền – những bộ môn đó gặp khó khăn do những thay đổi về mặt chính trị, kinh tế, xã hội tại VN và có thể bị chìm vào quên lãng. Khi đã thấy các bộ môn ấy thật sự có những giá trị nghệ thuật nhưng chưa được đông đảo quần chúng và các cơ quan hữu trách nhận thức, tôi đã kiên trì phân tích, đúc kết và nêu ra những ưu điểm của các bộ môn ấy bằng những bài viết và những buổi nói chuyện.

Tôi cũng tìm đủ cơ hội để giới thiệu những bộ môn ấy với người nước ngoài bằng đĩa hát, băng từ, băng video để họ có dịp thưởng thức, phê bình, đánh giá. Lần lần những bộ môn ấy đã được hồi sinh.

* Trong cuốn sách Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam sắp ra mắt bạn đọc của giáo sư, “du ngoạn” có thể hiểu như thế nào?

– Từ khi tôi có dịp nói chuyện âm nhạc truyền thống VN cho đồng bào trong nước, tôi thường được nghe thính giả hỏi: «Chẳng biết âm nhạc truyền thống VN có những gì và tại sao giáo sư có thể dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu, giới thiệu và giảng dạy nó ở nhiều nơi?”.

Quyển sách sắp xuất bản trong mùa hè tới đây là câu trả lời của tôi, và tôi viết cho quảng đại quần chúng. Không đi sâu vào lý thuyết, không phân tích về thang âm điệu thức, tôi chỉ muốn làm một hướng dẫn viên cho đa số người Việt đi dạo chơi, ngao du trong vườn nhạc của dân tộc Việt, để thưởng ngoạn, nhìn qua một số hoa thơm cỏ lạ.

Tôi chỉ gợi ý cho các bạn thấy trong vườn hoa âm nhạc truyền thống của VN có trăm hương ngàn sắc, mỗi loại có vẻ đẹp độc đáo đặc thù, một nét duyên dáng riêng để các bạn làm quen với những loại chưa quen, tìm hiểu những điểm chưa hiểu, và sau đó sẽ quí yêu thêm những gì cha ông chúng ta truyền từ đời này qua đời nọ, và để lại cho chúng ta một di sản văn hóa rất lớn, rồi… bỏ bớt lòng tự ti mặc cảm và thêm chút ít tự hào dân tộc.

Du ngoạn là như vậy đó. Lúc nào khỏe đi lâu, lúc nào mệt thì dừng chân. Không ai bắt buộc các bạn phải vào cửa này, ra ngõ kia. Các bạn tự do du ngoạn. Cuộc du ngoạn trong âm nhạc truyền thống VN sẽ theo con đường đời của một con người trong xã hội VN từ lúc sơ sinh đến lúc trở về cõi vĩnh hằng.

Trong sách, chúng tôi có nhấn mạnh rằng tiếng hát ru là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên người mẹ truyền sang đứa con. Lớn lên, dù không học trong các trường nhạc hay nhạc viện, nhưng nhờ dựa vào cấu trúc câu hát ru được ghi vào tiềm thức của mình lúc còn là đứa bé nằm trong cánh tay êm ấm của bà mẹ mà chàng thanh niên hay cô thiếu nữ đã tạo ra những câu hò điệu lý rất hay.

Trong quyển sách này, chúng tôi chỉ đưa các bạn đi du ngoạn trong truyền thống âm nhạc của người Kinh để nhận diện và biết qua những gì cha ông chúng ta đã để lại, và hẹn có những chuyến khác, không phải chỉ dạo qua mà dừng chân lâu hơn để có đủ thì giờ nhận thức được những cái hay, những nét đẹp kín đáo của mỗi bộ môn, và sẽ nhờ những hướng dẫn viên khác đưa các bạn đi xem những bông hoa còn ẩn núp trong chôn núi rừng ở các miền cao.

* Trước tác động của nền kinh tế thị trường và nguy cơ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, theo giáo sư, chúng ta phải làm gì để gìn giữ được bản sắc âm nhạc truyền thống nói chung và hát ru nói riêng, không phải chỉ để biểu diễn trên sân khấu bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà còn trả lại nó vào cuộc sống thường ngày, như có ai đó đã từng mơ ước: Bao giờ xóm ngõ đổi đời/Để tôi nghe tiếng ru hời ngày xưa?

– Từ hơn 20 năm nay, tôi đã nhắc đi nhắc lại không nên để tiếng ru tắt trên môi các bà mẹ. Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã tổ chức liên hoan hát ru đầu tiên năm 1989, sáu tháng trước khi từ giã cõi đời và bài ca cuối cùng của nhạc sĩ mang tên Lời ru chim Lạc.

Giữ gìn tiếng hát ru cũng là bước đầu giữ gìn bản sắc dân tộc. Đã nhiều lần tôi nhận thấy rằng bản sắc dân tộc bị lu mờ, thanh niên thích nghe nhạc nước ngoài hơn nhạc dân tộc là một căn bệnh mãn tính. Muốn trị bệnh ấy phải trị căn chứ không trị chứng. Và những phương thuốc tôi đề nghị là:

+ Làm sống lại tiếng hát ru;
+ Tập trẻ em hát lại đồng dao hoặc những bài hát sáng tác theo truyền thống dân tộc với nội dung phù hợp với trẻ;
+ Khuyến khích nông dân hò trong khi làm việc, hát trong lúc nghỉ ngơi;
+ Khuyến khích thanh niên hát những bài loại đối ca nam nữ;
+ Tổ chức những liên hoan dân ca cổ nhạc, những cuộc thi nhạc khí và tiếng ca dân tộc;
+ Đem âm nhạc vào học đường, từ lớp mẫu giáo, tiểu học lên đến đại học;
+ Báo chí và các phương tiện truyền thông nên có nhiều bài viết, nhiều chương trình phát thanh, phát hình giới thiệu và giảng giải về âm nhạc dân tộc;
+ Tôn vinh những nghệ nhân cả đời phụng sự âm nhạc dân tộc.

Phải nghe thường mới thấm, phải học mới hiểu, có hiểu mới thích, có thích mới thương, có thương mới muốn giữ gìn, mới sẵn sàng luyện tập biểu diễn và phổ biến. Như thế âm nhạc truyền thống mới thêm được sinh lực và bản sắc dân tộc mới được giữ gìn.

* Là người sống lâu năm ở nước ngoài, giáo sư đánh giá thế nào về tình hình truyền bá văn hóa VN nói chung, âm nhạc cổ truyền VN nói riêng đối với cộng đồng quốc tế thời gian qua? Chúng ta cần làm gì để làm tốt hơn công tác này?

– Đến nay, theo tôi, chúng ta chưa làm thật tốt công việc đó.
Chúng ta có thể truyền bá âm nhạc cổ truyền dưới nhiều dạng: đĩa hát, băng từ, băng video, sách báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, chương trình trên mạng lưới Internet. Nhưng sống động và hiệu quả nhất là cho những đoàn nghệ thuật dân tộc ra trình diễn tại nước ngoài, với những chương trình âm nhạc dân tộc có chất lượng nghệ thuật, có lời giới thiệu khoa học, ngắn gọn mà đầy đủ.

Chúng ta cần tạo điều kiện hơn nữa cho nghệ sĩ đi dự liên hoan quốc tế, cho các nhà nghiên cứu đi dự hội nghị quốc tế về âm nhạc, kịch nghệ. Văn hóa và âm nhạc của chúng ta được giới thiệu và thảo luận trong các hội nghị quốc tế sẽ được có khi đến cả trăm nước tham dự hội nghị quan tâm và thưởng thức.

* Xin cảm ơn giáo sư, chúc giáo sư luôn mạnh khỏe để tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho việc gìn giữ và phát huy âm nhạc truyền thống của dân tộc.

VŨ ĐỨC TÂM (Đại sứ – đại diện thường trực VN tại UNESCO)

GSTS TRẦN VĂN KHÊ : ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

GSTS TRẦN VĂN KHÊ :ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên.

ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trên mặt chiếc trống đồng có những hình ảnh mô tả sinh hoạt của người dân sống vào thời kỳ xa xưa ấy, đồng thời có chạm khắc hình các con thú, đặc biệt là hươu và cá. Con hươu tượng trưng cho núi, cá tượng trưng cho nước, vốn là hai yếu tố vô cùng quan trọng đối với người Việt. Chúng ta vẫn dùng hai chữ giang sơn để chỉ đất nước, điều này cho thấy núi với nước tuy hai mà một. Liên hệ đến lịch sử của dân tộc, chúng ta thấy có huyền thoại con Rồng cháu Tiên, tượng trưng cho hai yếu tố nước và núi. Hoặc truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh đề cập đến việc người xưa bảo vệ đất nước chống thiên tai, trong đó núi và nước giúp chúng ta xác định rõ tư duy và quan niệm sống của dân tộc cho rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau. Lưỡng phân mà lưỡng hợp: đó chính là một trong những tư tưởng triết lý của Việt Nam – như cố giáo sư Trần Quốc Vượng thường nói.

Quan điểm âm dương bàng bạc trong mọi sinh hoạt của đời sống người Việt, từ cách ăn uống hàng ngày cho đến cách chữa bịnh trong y học. Ở đây chỉ xin nêu ra một số nhận xét trong lãnh vực âm nhạc để làm sáng tỏ tư tưởng lưỡng phân, lưỡng hợp đó.
Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống ViệtNam.

Nhạc khí

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù. Một nhóm Ca trù thường có ba người, người ngồi giữa là đào nương vừa hát vừa nhịp phách.Phách là một thanh tre hay một miếng gỗ được gõ bằng hai cái dùi, một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai, tượng trưng cho dương và âm. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là phách cái và phách con. Quan điểm cái với con cho thấy nữ với nam là hai giới khác nhau mà bổ sung cho nhau. Gõ phách là một nghệ thuật rất cao, âm thanh phát ra một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là tiếng dương và tiếng âm. Trên thế giới, chưa có loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

                      Phách ca trù – tiếng phách độc nhứt vô nhị trên thế giới

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là trống đực và trống cái tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm.

                                                   Dàn nhạc lễ Gò Vấp

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như tang, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tong, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng và tiếng trống đó gọi là tiếng dương.

Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Đây là cách đánh tối và tiếng trống này là tiếng âm. Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi.

Bài bản

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.
Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương, thông thường luôn có một vế trống và một vế mái, có khi gọi là câu xô và câu kể. (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò mái hai, mái ba, có nghĩa là một câu có một câu trống và hai hoặc ba câu mái – hoặc hai hay ba đoạn kể – chứ chữ mái ở đây không có nghĩa là mái chèo). Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

Nhớ nàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông

Hình dáng của bút và nghiên ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như thuyền là dương mà sông là âm.

Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là lớp trống hay lớp mái cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như lưu thủy trường và lưu thủy đoản, những bản trước và sau mang tên ngũ đối thượng, ngũ đối hạ (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới), hoặc một bản mau, một bản chậm như phú lục và phú lục chậm.

Cách biểu diễn

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là đào nương, ả đào, người đờn phải là nam gọi là kép, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải là khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là Lên non hayLên rừng thì bài hát họa phải là Xuống sông hay Xuống bể và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, liền anh luôn luôn cầm cây dù còn liền chị thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương.

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc – phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

NGUYỄN THỊ MỸ DUNG : GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ: NGƯỜI MANG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM (trong đó có đờn ca tài tử) RA KHẮP THẾ GIỚI

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ:

NGƯỜI MANG NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM (trong đó có đờn ca tài tử) RA KHẮP THẾ GIỚI

  1. Giáo sư Trần Văn Khê – Người chuyên tâm, tự nguyện giảng dạy, quảng bá nghệ thuật cổ truyền Việt Nam (trong đó có Đờn ca Tài Tử) trên mọi châu lục.
  2. Giáo sư Trần Văn Khê là người may mắn được sinh ra trong một gia đình hai bên nội ngoại bốn đời có nhiều người trong giới nhạc truyền thống dân tộc và đều thích chơi Đờn ca Tài Tử.

Ông đã được nuôi dưỡng và sống trong bầu không khí của âm nhạc truyền thống, nhất là Đờn Ca Tài Tử.

  1. Giáo sư Trần Văn Khê tranh thủ mọi cơ hội để truyền bá nghệ thuật truyền thống Việt Nam kể cả Đờn Ca Tài Tử.

– Năm 1959, tại Praha, Tiệp Khắc, Giáo sư Khê đã nói chuyện và tự minh họa về Nhạc Tài Tử Miền Nam. Nghe xong, Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương khen Ông là “nghệ nhân” về nhạc tài tử”. Năm 1960, ông được mời sang Thụy Sĩ nói chuyện âm nhạc Việt Nam tại 24 địa điểm khác nhau. Ông cũng được mời qua Anh nói về ứng tác, ứng tấu, cách “rao” mở đầu và đờn tùy hứng theo phong cách Đờn Tài Tử miền Nam Việt Nam. Cùng năm này, Giáo sư Trần Văn Khê được cử vào Ban Chấp hành của Hội đồng quốc tế âm nhạc. Từ đó, ông được mời đi dự Hội nghị quốc tế ở nhiều nơi, được mời đi thuyết trình, giảng dạy ở hơn 40 nước trên thế giới. Bất kỳ ở đâu và lúc nào, ông cũng tranh thủ mọi cơ hội để truyền bá nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Ông khẳng định: “Âm nhạc Việt Nam cũng có một thực chất nghệ thuật, một thực chất khoa học. Nó là hoa thơm cỏ lạ của riêng mình mà các nước khác không có. Mình mang ra thế giới cho mọi người cùng thấy, cùng biết, cùng hiểu và từ đó họ tôn trọng mình. Bên cạnh đó mình góp phần làm giàu có thêm cho vườn hoa âm nhạc trăm hương nghìn sắc, muôn màu muôn vẻ của thế giới. Âm nhạc truyền thống Việt Nam rất độc đáo, nó có cá tính đẹp, có một giá trị, có sức hấp dẫn đặc biệt. Nhạc Việt Nam hát thì luyến láy, đờn thì nhấn nhá, đờn theo nguyên tắc “chân phương hoa lá” (nghĩa là thêm hoa lá vào những âm thanh chính của điệu thức). Khi mình đờn, bàn tay mặt mình sanh ra thanh, bàn tay trái mình tinh vi lắm, nó nhấn nhá, nuôi dưỡng thanh đó, biến thanh thành âm (mà theo cách nói dân gian thì bàn tay mặt là cái xác, bàn tay trái sanh ra cái hồn); hát thì truyền khẩu, đờn thì truyền ngón… Đó là những yếu tố đặc sắc trong âm nhạc mình làm cho người nghe thú vị!”.

Đặc biệt, trong hành trình truyền bá cái hay cái đẹp của âm nhạc truyền thống Việt Nam thì nhạc Tài Tử luôn gắn liền với các buổi giới thiệu của GS Khê. Ông thường tự mình minh hoạ nét đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam thông qua các hơi – điệu khác nhau của nhạc Tài Tử trên các nhạc khí dân tộc như đờn Tranh, đờn Kìm, đờn Cò…

  1. Hãy giữ lấy “hồn cốt” của Đờn Ca Tài Tử:

Từ ngày về sống hẳn ở Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Khê luôn xuất hiện trên báo chí, truyền hình, hoạt động tích cực trong công tác điền dã, thuyết trình, giảng giải cho mọi đối tượng (già, trẻ, văn nghệ sĩ, học sinh…) về nghệ thuật truyền thống của dân tộc để thực hiện nhiều nhất ý nguyện của mình.

Giờ đây, mặc dầu đã ở tuổi 94, nhưng khi nói về nghệ thuật truyền thống dân tộc, Giáo sư vẫn vô cùng mẫn tiệp, rất hào hứng, say sưa và không kém phần nhiệt huyết. Ông ân cần căn dặn: “Hãy giữ lấy hồn cốt của đờn ca tài tử, tức là giữ lấy phong cách chơitính cách ngẫu hứng của đờn ca tài tử.

  1. Người xưa “chơi” đờn ca tài tử. Không ai gọi là “biểu diễn” đờn ca tài tử.

Phần đông cho rằng lối nhạc đó không sâu sắc chuyên nghiệp mà mang tính cách giản dị của dân gian và nghiệp dư. Thực ra, “Tài tử” nghĩa là người-có-tài, (như trong câu: “Dập dìu tài tử giai nhân…”, “Tài tử giai nhân tế ngộ nan”…).

Người đờn Tài tử không dùng nhạc Tài tử làm kế sinh nhai. Khi nào thích đờn thì họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng nhau đờn ca chơi. Dầu vậy, mà trình độ nghệ thuật của Đờn ca Tài tử không hề thấp. Muốn trở thành người Đờn Tài Tử đúng nghĩa, phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu.

Hiện nay phong cách chơi thực sự trong Đờn ca Tài tử rất ít được thấy vì đã bị phần nhiều sân khấu hóa! Vì vậy, cần phải đưa Đờn ca Tài tử về đúng với phong cách chơi vốn có của nó với tính cách ngẫu hứng giữa các Tài tử với nhau.

  1. Các nhạc khí dùng trong Đờn Tài tử đều giống như các nhạc khí dùng trong ca Huế.

Trong Nam, từ 1927-1930, có thêm hai cây đờn của phương Tây được dùng để đờn Tài tử là Mandoline và Violon. Sau có thêm hai nhạc khí khác nữa là Guitar Hạ-Uy-Di và Guitar Tây-Ban-Nha. Từ cây đờn của nước ngoài, nhạc công Viêt Nam đã biến thành cây Guitar phím lõm nói được trung thực và nhuần nhuyễn nhạc ngữ Việt Nam.

Tuy nhiên, trong dàn nhạc Đờn ca Tài tử, cây đờn kìm là cây đờn giữ vị trí dẫn-dắt-các –nhạc-công, vì giai điệu của nó gần với lòng bản nhứt. Người đờn kìm lại là người giữ-song-lang (giữ nhịp) cho cả dàn nhạc.

Cây Guitar phím lõm vì có âm vực rộng, lên cao hay xuống thấp đều được nên nó làm cho dàn nhạc Đờn ca Tài tử phong phú, sôi động hơn, nhưng không vì thế mà để nó áp đảo và thay thế tất cả các nhạc khí truyền thống khác”.

 

– Nay Giáo sư đang quan tâm nhiều nhất đến vấn đề gì?

“Hơn nửa thế kỷ sống và dạy học tại Đại học Sorbonne-Pháp, được làm việc trong một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, khoa học và khách quan nên tôi tha thiết mong muốn:

+“Nên thay đổi cách dạy dỗ, truyền thụ về âm nhạc truyền thống Viêt Nam, trong đó có Đờn ca Tài tử: học theo phong cách Viêt Nam chớ không nên bắt chước theo lối dạy nhạc của phương Tây, vì không phù hợp với lối nhạc truyền thống của mình.

            +Đem những cái hay, cái đẹp của âm nhạc truyền thống Việt Nam (kể cả Đờn ca Tài tử) đã được người ngoài công nhận và thưởng thức- đến- với –công-chúng-Việt Nam đang còn cảm thấy tự-ti, mặc-cảm với âm nhạc truyền thống nước nhà, trong đó có đờn ca Tài tử.

            +Chương trình Giáo dục âm nhạc truyền thống có-chỗ-đứng-trong-xã hội Việt Nam, bằng cách là đưa âm nhạc truyền thống vào học đường; không phải để đào tạo cho các học sinh trở thành nghệ sĩ, mà quan trọng là giúp cho thế hệ trẻ có được một vốn hiểu biết căn bản về âm nhạc truyền thống Viêt Nam có những gì và âm nhạc truyền thống Việt Nam hay ở chỗ nào (kể cả đờn ca tài từ).

NGUYỄN THỊ MỸ DUNG

(Thực hiện)