Nỗ lực thực hiện di nguyện thầy Khê

08/09/2015 22:53

Tối 7-9, trong không khí mùa khai giảng năm học mới, Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM đã tổ chức chương trình “Đưa đờn ca tài tử (ĐCTT) vào học đường” do ThS Huỳnh Khải và CLB ĐCTT Trung tâm Văn hóa TP HCM thực hiện.

ThS Huỳnh Khải cho biết: “Hiện nay, vẫn chưa có kế hoạch cụ thể trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào giáo trình giảng dạy theo mục tiêu phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thế nên hầu hết các nhóm, các CLB đều tự phát trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào sinh hoạt tại các trường, thực hiện di nguyện của cố GS-TS Trần Văn Khê. Và Trường THPT Ernst Thälmann đã tiên phong trong việc đưa âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam nói chung và ĐCTT Nam Bộ nói riêng vào học đường trong năm học mới, giúp các em hiểu hơn về bộ môn nghệ thuật này và trả lời được câu hỏi vì sao thế giới vinh danh, công nhận ĐCTT Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung
Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung

Không dừng lại ở đó, nhóm Huỳnh Khải – nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng – nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan tiếp tục đưa âm nhạc dân tộc và ĐCTT vào sinh hoạt tại các trường ở địa bàn quận 1, 3 và Gò Vấp. ThS Huỳnh Khải cho biết Trung tâm Văn hóa quận 1 sẽ đồng hành với họ tổ chức chuyên đề giới thiệu về nhạc cụ dân tộc, về bài bản ĐCTT cho học sinh tiểu học, trung học. Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan vui mừng cho biết: “Sở Văn hóa và Thể thao TP đã ấn hành quyển sách giới thiệu bài bản ĐCTT Nam Bộ viết lời mới, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi: “Long hổ hội”, “Tam pháp nhập môn”, “Long ngâm”, “Vạn giá”… rất dễ hát, dễ phổ biến, đi vào đời sống”.

Ông Nguyễn Văn Minh – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP – cho biết CD những bài bản mẫu ĐCTT Nam Bộ đã được ấn hành, sắp tới sẽ phát cho các trường tiểu học, trung học để phát thanh trong giờ ra chơi, cho các em nghe và làm quen với những thể điệu vui nhộn, phù hợp với lứa tuổi của các em.

“Lời các bài bản mới dành cho các em phần lớn là ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, sự hiếu thảo với cha mẹ, với thầy cô. Để nhân rộng hiệu quả của dự án này, rất cần sự chung sức của đội ngũ nghệ nhân ca, nghệ nhân đờn của TP HCM để đưa ĐCTT Nam Bộ và nghệ thuật cải lương vào học đường” – nghệ sĩ Kim Cương nói.

Thời gian qua, nghệ sĩ Kim Cương đã cùng với CLB Sân khấu Lạc Long Quân, đội ĐCTT Nam Bộ của nghệ sĩ Út Bạch Lan, Mỹ Chi, Kiều Phượng Loan… đưa các chương trình này đến với khán giả thiếu nhi, học sinh. Thầy Minh Trung, Trường THPT Ernst Thälmann, cho biết: “Nhà trường không quên định hướng giáo dục âm nhạc dân tộc, trong đó có ĐCTT Nam Bộ, để các em hiểu và trân quý những giá trị văn hóa của dân tộc được thế giới công nhận là di sản văn hóa của nhân loại.

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/no-luc-thuc-hien-di-nguyen-thay-khe-20150908220201434.htm

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/no-luc-thuc-hien-di-nguyen-thay-khe-20150908220201434.htm Đây cũng là cách thực hiện di nguyện tốt đẹp của cố GS-TS Trần Văn Khê tiếp tục truyền thụ âm nhạc dân tộc đến giới trẻ”.

Xuân Lộc

HCMC honors Prof. Tran Van Khe and his son

HCMC honors Prof. Tran Van Khe and his son

TUOITRENEWS

Updated : 06/20/2013 11:19 GMT + 7

Professor Tran Van Khe.
TUOI TRE

On June 19, the Ho Chi Minh City People’s Committee decided to honor Master of Vietnamese traditional music Professor Tran Van Khe for his dedication to promoting the southern folk music genre “Đờn ca tài tử” to the world.

The professor will be awarded the HCMC insignia and a VND30 million (US$1,442) reward. Khe’s son, professor Tran Quang Hai, will also receive merit and a VND20 million award from the committee for his contribution to bringing the genre to international friends.

Khe and Hai have been awarded many distinctions and prizes from prestigious universities, academies and international institutions.

They can play many Vietnamese instruments: “đàn kìm” or “đàn nguyệt” (moon-shaped lute), “đàn tranh” (sixteen stringed zither), “đàn cò” or “đàn nhị” (two-stringed fiddle), “đàn tỳ bà” (pear-shaped, four stringed lute) and the “trống nhạc” (ceremonial drum).

Having lived in Paris for decades and traveled around the world to lecture and perform, they have played a key role in introducing Vietnamese and Asian music to the western world, and have also taught several thousand students all over the world.

http://tuoitrenews.vn/lifestyle/10879/hcmc-honors-prof-tran-van-khe-and-his-son

GS-TS Nhạc sĩ Trần Văn Khê: Tình thơ, duyên nhạc – Nghe Ngâm Thơ

GS-TS Nhạc sĩ Trần Văn Khê: Tình thơ, duyên nhạc – Nghe Ngâm Thơ

Published on Jun 23, 2015

Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê, vừa qua đời vào khoảng hai giờ sáng 24/6 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, TP HCM… 
Ngoài một nhạc sĩ tài ba, ông sáng tác thơ. Mời quý vị cùng theo dõi chương trình thơ của cố Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê cùng với khách mời là NSND – Kỳ nữ Kim Cương. Các nghệ sĩ tham gia trình bày tiếng thơ của GS Trần Văn Khê gồm có: NSƯT Hồng Vân, NSƯT Ái Xuân, NSƯT Tuấn Phong, nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, NS Võ Ngọc Lan… Và một phần rất đặc biệt đó là phần đọc thơ của chính GS Trần Văn Khê.

Nghe ngâm thơ online, những bài thơ hay chọn lọc
Link video:
Link channel: https://www.youtube.com/NgheNgamTho

Chau van ritual singing artists given folk awards


September, 17 2015 10:10:00

Chau van ritual singing artists given folk awards

Eleven artists who perform and teach the art of chau van (ritual) singing and dancing have been awarded « Folk Artisan » title by the Viet Nam Folk Arts and Literature Association. — Photo baothanhhoa.vn

HA NOI  (VNS) — As many as 11 artists who perform and teach the art of chau van (ritual) singing and dancing have been awarded « Folk Artisan » title by the Viet Nam Folk Arts and Literature Association.The award marks the first official praise of chau van artists. Chau van is a spiritual performance art accompanying the hau dong (mediumship) ritual of the Mother Goddess’ religion.

The awards ceremony was in the framework of the second Chau Van Performance Programme of the Northern Delta Region held here by the Ministry of Culture, Viet Nam Theatre Artists’ Association and the Viet Nam Folk Arts and Literature Association.

The Ministry of Culture has asked the Viet Nam Institute of Culture and Arts Studies to compile a dossier on Chau Van songs and dances, to seek UNESCO recognition of the art as invaluable cultural heritage. — VNS

http://vietnamnews.vn/life-style/275903/chau-van-ritual-singing-artists-given-folk-awards.html

AVI : Hau dong – Le rite majeur du culte de la Sainte-Mère

Hau dong – Le rite majeur du culte de la Sainte-Mère

hau-dongHau dong, len dong, hau bong… Trois appelations pour un même rite du culte de la Sainte-Mère qui permet aux fidèles de communiquer avec les divinités par l’intermédiaire des chamans. Ce rite allie harmonieusement éléments spirituels et arts de la scène folkloriques.

Les chamans peuvent être des hommes ou des femmes, indifféremment. Mais chaque fois qu’ils assument ce rôle, ils se maquillent minutieusement. Même les hommes ont un visage maquillé avec de la poudre, du fard à joue et du rouge à lèvres. Leurs cheveux peuvent être aussi longs que ceux d’une femme. Dans chaque séance de possession d’esprits, ils sont possédés par plusieurs divinités. Ils doivent préparer des vêtements et adopter des gestes correspondant à ceux des divinités en question. Chaque fois qu’une divinité «investit» le corps d’un chaman, on met un foulard rouge sur sa tête, de même quand elle sort et qu’une autre lui succède. Chaque fois qu’on lève le foulard, le chaman est, aux yeux des fidèles, l’incarnation d’une nouvelle divinité. Il peut donc être tantôt un général, tantôt un mandarin majestueux, tantôt une fille dansante. Ses danses changent en fonction des caractéristiques du génie qu’il est censé représenter. Les chamans sont ceux qui ont été sélectionnés par les génies pour les relier au monde des vivants.

Le professeur Ngô Duc Thinh, directeur du centre de recherche et de préservation de la culture et des croyances vietnamiennes : «si le commun des mortels veut s’attirer la bénédiction de la Sainte-Mère, il doit passer par les chamans. Une cérémonie de possession d’esprits complète voit l’incarnation de 36 divinités successives dans le corps du chaman. C’est un chiffre plus symbolique que concret. En général, le nombre de génies qui apparaissent est inférieur à 20 ».

Le chamanisme est une pratique religieuse qui existe dans nombre de pays. Mais la cérémonie chamanique du culte de la Sainte-Mère a des caractéristiques propres à la culture vietnamienne. Parmi les divinités vénérées, nombreux sont les héros nationaux, comme le général Nguyễn Xí (XIIe siècle), le général Trần Lựu (XVe siècle), le général Hoàng Bảy (XVIIIe siècle)…

A travers cette cérémonie, le culte de la Sainte-Mère apporte aux fidèles l’espoir d’une vie meilleure et la foi en la force du bien. Un savant américain a estimé que cette cérémonie était comme un musée conservant la tradition culturelle des Vietnamiens.

Source: AVI

http://guidefrancophoneauvietnam.com/2014/12/29/hau-dong-le-rite-majeur-du-culte-de-la-sainte-mere/

LINH THAO : Revenir à l’essence du chant châu van

02/11/2013 23:08
Le chant châu van est un art religieux joué pour invoquer les esprits durant le rituel hâu dông (médiumnité), qui relève du culte de la Déesse-Mère. Mais devant son utilisation détournée pour des pratiques superstitieuses, les experts jugent nécessaire de retrouver l’essence de cet art.
Le chant +châu van+, une forme de musique pour invoquer les esprits durant le rituel +hâu dông+ (médiumnité). Photo : Dô Hà/CVN

Le chant châu van, également connu sous le nom de hat van ou hat bong, est originaire du delta du fleuve Rouge, plus précisément de la province de Nam Dinh (Nord). C’est une forme d’art religieux qui combine chant et danse pour invoquer les esprits durant les cérémonies de possession du culte hâu dông (médiumnité), censé aider les gens à communiquer avec les divinités par l’intermédiaire des chamans.

Le rite hâu dông et le chant châu van sont souvent réalisés dans les temples où les saints sont vénérés. Les paroles, souvent recherchées, vantent les mérites de divinités bienfaisantes et sont accompagnées de musique (tambourin, castagnettes et cymbales, viole à deux cordes). Le point culminant est la transe du médium, considéré comme un lien entre le monde visible et invisible. Au cours du rite, les esprits des saints sont censés s’incarner dans le médium, qui ensuite danse au rythme d’airs interprétés par les chanteurs et instrumentistes.

Depuis de longues années, le châu van est souvent pratiqué dans le cadre de pratiques superstitieuses qui n’ont rien à voir avec l’essence de cet art, et qui par la même le menacent.

À la recherche des airs authentiques

Dans le but de retrouver l’authenticité de cet art traditionnel, un festival du chant châu van a été organisé du 25 septembre au 5 octobre 2013, à Hanoi. Le premier du genre. Une vue générale et précise sur ce genre artistique unique (son histoire, son développement, sa valeur, son rôle dans la vie spirituelle des habitants) a été présentée au public. Les séances d’interprétation ont été largement applaudies par l’audience, montrant que cette forme d’art a toujours sa place dans la société moderne.

Pour la première fois, un festival dédié au chant châu van a été organize du 25 septembre au 5 octobre 2013, à Hanoi. Photo : Dô Hà/CVN

Réunis dans un colloque sur la préservation et la valorisation du chant châu van dans la société moderne, organisé dans le cadre de ce festival, des experts ont souligné la nécessité d’agir pour préserver les airs authentiques. La question fondamentale a été : comment faire pour que ce chant soit préservé, sans les dérives malencontreuses que l’on constate ici et là ?

D’après le Docteur Ngô Duc Thinh, chef du Club de préservation du châu van du Vietnam, il s’agit d’une forme précieuse d’art religieux qui doit être préservée, valorisée et présentée au public tant vietnamien qu’étranger. «Le problème, c’est que dans de nombreuses localités, ce chant est interprété dans le cadre de pratiques de superstition. Ce qu’il faut, c’est à la fois mieux gérer les pratiquants et sensibiliser le public sur l’essence de cet art», fait-il remarquer.

Le Docteur Thinh a estimé que la situation actuelle résultait de l’absence d’organisme chargé de la gestion de cet art.

En faire un art scénique ?

Conscient de l’intérêt du public envers cette forme de musique, plusieurs théâtres ont essayé de le présenter sur scène. Les pièces Ba gia dông (Trois séances de médiumnité) du Théâtre chèo (théâtre traditionnel populaire) de Hanoi et Tâm linh Viêt (Prémonition vietnamienne) du Théâtre de la jeunesse en sont deux exemples. Le Docteur Ngô Duc Thinh se félicité de l’entrée sur scène du chant châu van.

Bien que partisan de la préservation du chant châu van, le prof. Tô Ngoc Thanh, président de l’Association des lettres et des arts du Vietnam, se déclare opposé à son arrivée sur scène. «Je pense qu’on ne peut pas faire entrer ce chant sur la scène d’un théâtre tout simplement parce qu’il s’agit d’un art qui a trait au spirituel, et que donc il doit être interprété dans des lieux sacrés !», argumente-t-il.

S’il y a consensus dans la préservation du chant châu van, les avis divergent quant aux approches ainsi qu’aux méthodes de préservation. Quoi qu’il en soit, le chant châu van fera bien partie des 12 nouveaux patrimoines culturels immatériels du Vietnam dont les dossiers de candidature seront préparés d’ici à 2016 en vue d’une inscription au patrimoine culturel immatériel et oral de l’humanité.
Linh Thao/CVN

http://lecourrier.vn/revenir-a-lessence-du-chant-chau-van/108071.html

Dân ca dân nhạc VN – Hát Chầu Văn

Dân ca dân nhạc VN – Hát Chầu Văn

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Ống/Hát Ví – Bắc Giang”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thể loại “Hát Chầu Văn” của miền Bắc, Việt Nam.

Hát Chầu Văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng. Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về. Hát văn làm cho buổi lễ sống động. Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thường kéo dài từ 4-8 tiếng.

Các nhạc cụ chính gồm: đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la, ngoài ra còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trống cái, sáo, đàn thập lục, đàn nhị, kèn bầu, chuông, mõ, đàn bầu,…

chauvan34_nhạc cụ hát chầu văn

Đàn Nhị

Kèn Loa và Kèn Bầu

Đàn Đáy

Đàn Thập Lục

chauvan40_trongcai

Chuông

Mõ

Sáo

Đàn Bầu

Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:

1. Mời thánh nhập
2. Kể sự tích và công đức
3. Xin thánh phù hộ
4. Đưa tiễn

Bài hát thường chấm dứt với câu: “Xa loan thánh giá hồi cung!”

Dưới đây mình có ba bài: “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” của Kim Dung, bài “Hát Chầu Văn” của Phong Vũ, và bài “Đàn nhạc – Làn điệu – Tiết tấu trong hát văn” của Kuangtuan, sẽ dẫn giải giúp các bạn tham khảo chi tiết hơn về bộ môn lễ nhạc khá độc đáo này. Đồng thời các bạn có thể đọc thêm bài “Chầu Văn” của anh Nguyễn Chí Thuận ở đây.

Cùng lúc mình có 6 clips Hát Chầu Văn do các nghệ nhân trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

chauvan11

Nghi lễ Chầu văn của người Việt

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực Tập quán xã hội và tín ngưỡng, ra đời và phát triển trước hết gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ, được thực hành ở nhiều vùng, miền của đất nước, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ.

Nam Định là một trong những trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ và thờ Đức Thánh Trần, là nơi Nghi lễ Chầu văn còn được bảo lưu và tiếp tục trình diễn khá phổ biến, với chủ thể là những cung văn, thanh đồng, thủ nhang (người trông coi di tích), người hầu dâng, con nhang, đệ tử…hiện phân bố trên khắp 10 huyện và thành phố thuộc tỉnh Nam Định.

Nghi lễ Chầu văn còn được gọi là Hát văn – hầu đồng, Hát văn – hầu Thánh, Bắc ghế hầu đồng, Ngự đồng, Loan giá ngự đồng…, là một nghi lễ quan trọng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Đức Thánh Trần.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt phát triển mạnh ở Nam Định từ thế kỷ XVII cùng với quá trình hình thành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản), phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc), đền Cố Trạch (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định)…, sau đó phát triển ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày càng lan tỏa ra nhiều vùng trên cả nước.

chauvan13

Giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) là thời kỳ thịnh vượng nhất của Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng, có sự tham gia của các quan lại địa phương và triều đình. Từ năm 1954 – 1990, vì nhiều lý do, Nghi lễ này không được công khai thực hành và bị mai một nhiều. Từ năm 2000 đến nay, cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, với các chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, Nghi lễ này được khôi phục, phát triển trở lại và nay còn được sân khấu hoá, trình diễn để phục vụ đời sống đương đại.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt là một hình thức biểu đạt văn hóa, tín ngưỡng phức hợp gồm nghi lễ hầu đồng gắn với hát văn hay hát chầu văn, do thủ nhang, thanh đồng (ông/bà đồng), cung văn và một số người hầu dâng (người giúp việc thanh đồng) tiến hành trước các ban thờ ở các đền, điện, phủ, miếu, … gắn với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tứ phủ.
Trong nghi lễ hầu đồng, trước mỗi vấn hầu, những người tham gia phải chuẩn bị lễ vật, trang phục, đạo cụ trong múa hầu đồng phù hợp với từng giá hầu, phản ánh tính cách của từng vị thánh được hầu.

Lễ vật trong mỗi vấn hầu trước kia thường đơn giản. Vật phẩm cơ bản gồm xôi, thịt, hoa quả, trầu, cau, rượu, thuốc, vàng mã,… Ngày nay, lễ vật ngày càng phong phú, gồm cả những sản phẩm hàng hóa công nghiệp, thực phẩm đương thời, đắt tiền, dùng trong cả lễ mặn và lễ chay.

Trang phục của người trình diễn trong nghi lễ hầu đồng rất phong phú, đa dạng, thể hiện tính cách và thị hiếu thẩm mỹ của từng cá nhân thực hành cũng như của tộc người và vùng miền mà các vị thánh đại diện, cai quản.

chauvan12

Mỗi vấn hầu được thực hành qua 4 bước: Mời thánh nhập hay Thánh giáng (ca ngợi công đức), phán truyền, ban lộc và đưa tiễn (Thánh thăng, cung văn hát điệu xa giá hồi cung, âm nhạc sôi động, náo nhiệt). Cũng có khi một vấn hầu chỉ gồm 3 bước: Phụ đồng (còn gọi là kiều bóng), bắt đầu hát câu vỉa ở thể lục bát, sau miêu tả diện mạo ông hoàng, bà chúa; bước 2 là Thánh nhập (hay dùng trà, thuốc, rượu) và bước cuối là Đồng thăng.

Mở đầu mỗi vấn hầu, thủ nhang/pháp sư thường đăng đàn cúng Phật, Thánh, sau đó người hầu đồng vào xin phép loan giá ngự đồng. Ông/bà đồng ngồi vào giữa bốn người hầu dâng và được người hầu dâng trùm lên đầu một vấn khăn màu đỏ, gọi là khăn phủ diện, và bắt đầu vấn hầu. Thường là mở đầu bằng giá Tam tòa thánh Mẫu. Tiếp theo đó, người có căn Đức Thánh Trần thì hầu giá Đức Thánh Trần. Trong nghi lễ hầu đồng, có tất cả 36 giá đồng, mỗi giá thờ một vị Thánh, nhưng một buổi hầu không phải bao giờ cũng hầu đủ 36 giá, mà thường là từ 8 đến 15 giá, tùy thuộc vào tâm nguyện của ông/bà đồng.

Tuỳ theo sự tích, công trạng, tính cách của từng vị thánh, thần mà ông/bà đồng thực hiện các điệu múa khác nhau, người ta gọi đó là múa đồng (múa thiêng) như: múa tay không, gồm: múa bắt quyết, múa ra ấn, múa tung nước thánh, múa ban lộc; múa có đạo cụ, gồm: múa mở hay khai quang (dâng nhang, dâng đèn), múa quạt, múa kiếm, múa long đao, múa kích, múa cung, múa hèo, múa lân…

Cung văn phục vụ trong mỗi cuộc hầu đồng thường gồm từ 03 đến 05 nhạc công, sử dụng đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la, đồng thời là những người biết hát văn. Cung văn phải luôn nhạy bén, ứng tác kịp thời và phù hợp với các hành động của ông/bà đồng, góp phần tạo điều kiện cho sự thăng hoa của người hầu đồng. Hiện nay còn có nhiều nhạc cụ mới (nhị, kèn, sáo, đàn thập lục, trống cơm…) tham gia cung văn. Các nghệ nhân cao tuổi có kỹ năng hát và kỹ thuật vê đàn, rung trống, gõ thanh la điêu luyện, tạo âm thanh hòa quyện, rung động lòng người.

chauvan14

Hát chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả… và âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà,… cũng thể hiện rất rõ nét trong kết cấu giai điệu của âm nhạc trong hát chầu văn. Trên thực tế, hát văn hay hát chầu văn còn có thể tồn tại riêng biệt.

Ở Nam Định, hát văn biểu hiện chủ yếu dưới hình thức hát hầu trong các giá đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu và hát cửa đền ở các di tích thờ Đức Thánh Trần, diễn ra trong cả năm, nhưng tập trung nhất vào tháng Ba và tháng Tám Âm lịch. Những năm gần đây, còn có hát thi trong lễ hội Phủ Dầy. Một số làn điệu cơ bản của hát văn gồm: Vỉa (thường ở giai đoạn bắt đầu, lời văn thể lục bát), Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Kiều dương, Dọc, Cờn, Xá, Hãm, hay các điệu Lưu thuỷ, Dồn, Bỏ bộ…, với lời văn thường ở thể thơ lục bát và song thất lục bát.

Trong Nghi lễ Chầu văn của người Việt, các hình thức biểu đạt, động tác múa, âm nhạc và lời hát văn đều mang dấu ấn lịch sử, ghi lại sự tích và ca ngợi công đức của những nhân vật lịch sử có công với dân, với nước. Về giá trị văn hóa, Nghi lễ Chầu văn của người Việt là tín ngưỡng bản địa, tích hợp các hình thức văn hoá dân gian khác nhau như: âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức dân gian, ca hát, nhảy múa, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, ẩm thực… trong một thể thống nhất hữu cơ hoàn chỉnh, trong đó yếu tố “sân khấu” kết hợp chặt chẽ với yếu tố tâm linh, phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên, xã hội của cộng đồng. Tín ngưỡng này vừa bảo tồn các giá trị truyền thống như “uống nước nhớ nguồn”, vừa được cộng đồng tái tạo, tích hợp các giá trị văn hoá mới, để thích ứng với điều kiện cuộc sống hiện đại, vì vậy nó có sức hấp dẫn cao đối với mọi người, nhất là những người theo tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ.

Nghi lễ Chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và đang phục hồi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ vẫn đang truyền dạy, chỉ bảo tại chỗ theo phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác. Theo kết quả kiểm kê bước đầu (năm 2012), riêng tỉnh Nam Định có 12 hội, bản hội, 06 câu lạc bộ, trong đó có 245 cung văn, 246 ông/bà đồng, 162 nhạc công, 16 người hầu dâng thường xuyên thực hành, gìn giữ di sản này tại 287 di tích trên toàn tỉnh. Tuy vậy, những cung văn, ông/bà đồng có kinh nghiệm, nắm giữ nhiều lời văn, làn điệu cổ… phần lớn đã tuổi cao, sức yếu nhưng kinh nghiệm, vốn kiến thức của họ chưa được khai thác kịp thời, tình trạng thương mại hoá, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh”, hiện tượng “đồng đua”, mua sắm nhiều lễ vật đắt tiền, đốt vàng mã nhiều gây tốn kém và ô nhiễm môi trường còn tồn tại khiến nghi lễ này có nguy cơ bị biến dạng…

(Kim Dung – Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

chauvan16_đầu bài

Hát Chầu Văn

Hát Chầu văn – thể loại âm nhạc truyền thống có đời sống khá phong phú trong xã hội hiện nay, từ những nghi lễ trong tín ngưỡng thờ mẫu đến các lễ hội… trong cuộc sống thường ngày.

Chầu văn đã ra đời trong môi trường tín ngưỡng dân gian, hình thành phong cách âm nhạc vừa độc đáo, bản sắc lại vừa tích hợp được những giá trị của các hình thức âm nhạc dân gian khác. Chầu văn đã được sáng tạo, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành di sản văn hóa của quốc gia.

Chầu văn, còn gọi là Hát văn hay Hát bóng là giai điệu tín ngưỡng của người Việt. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Các trung tâm của hát văn là Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội. Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.

chauvan21_đầu

Cuốn hút các kiểu Hát văn

Hát Chầu văn có ba kiểu là hát thi (văn thi), hát thờ (văn thờ) và hát lên đồng (văn hầu). Hát thi dùng trong các cuộc đua tài thi hát và thường là hát đơn, chỉ một người hát. Hát thờ được hát trước ngày tiệc, ngày sóc vọng đầu rằm, mồng một, ngày tất niên. Tuy nhiên, hát thờ trước khi vào các giá lên đồng là một trong những phần quan trọng nhất của chầu văn. Hát lên đồng hay còn gọi là hát hầu bóng, dùng trong quá trình thực hiện nghi lễ hầu đồng. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất của Chầu văn.

Phục vụ hát Chầu văn có các thành viên sau: Cung văn – người hát chầu văn và dàn nhạc phụ vụ hát văn. Người ca sĩ được gọi là cung văn, thường là người vừa hát giỏi, biết nhiều làn điệu, biết chơi cả nhạc cụ. Dàn nhạc hầu bóng gồm có một đàn nguyệt, một đàn nhị, một trống nhỏ (gọi là trống con), một cảnh đôi, một phách. Trong các loại nhạc cụ kể trên, đàn nguyệt, trống nhỏ và cảnh đôi đóng vai trò nòng cốt. Đây là những nhạc khí cơ bản, không thể thiếu được vì chúng tạo nên tính cách riêng biệt và đặc thù của dàn nhạc hát văn.

Lời văn trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, có khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bốn chữ. Giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi. Chất thơ của bài văn đó được nâng lên cao tuyệt đỉnh trong không khí tâm linh thành kính, khấn vái xuýt xoa, khói hương nghi ngút, có dàn nhạc, lời ca phụ hoạ, đưa đẩy và các điệu múa thiêng của Thánh thể hiện qua người hầu đồng. Với tính chất này hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và có thể đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng.

chauvan19

Điêu luyện âm nhạc nghi lễ tín ngưỡng

Hát Chầu văn không chỉ khó mà còn đòi hỏi người cung văn phải linh hoạt để vừa có thể chuyển lời, giọng và nhạc cho ăn khớp mà vẫn hay, vẫn sát vai của người ngồi đồng, thậm chí phải hát lặp lại, luyến láy, kéo dài câu ca, tiếng nhạc trong thời gian chuyển tiếp giữa hai giá hầu. Khi hát, cung văn phải hát sao cho thể hiện tâm lý tình cảm của các nhân vật nên giọng hát phải chuyển đổi luôn luôn.

Thông thường, cung văn chơi đàn nguyệt đảm nhiệm vai trò hát chính. Tiêu chuẩn tối thiểu của một cung văn là phải vừa đánh nhịp vừa hát. Do lễ thức này thường kéo dài, có khi tới 6 – 8 tiếng đồng hồ nên cần có thêm vài cung văn khác cùng tham gia tiếp sức, hỗ trợ. Họ có thể hoán đổi vị trí, thay nhau đàn hoặc hát sao cho vẫn đảm bảo sự liền mạch của bài văn và âm nhạc. Nói vậy để thấy được sự đa năng của các nghệ nhân hát văn.

Ở những nhóm cung văn thuộc đẳng cấp “nghệ nhân”, nhiều làn điệu họ có thể hát song ca hay đồng ca. Theo các nghệ nhân lão thành, trong nhiều trường hợp, 4 cung văn có thể cùng đồng ca thật ăn khớp. Nếu muốn đồng ca, các nghệ sĩ phải có sự tập luyện, phối hợp rất công phu để khi diễn xướng, sao cho tác phẩm chỉ xuất hiện dưới dạng một dị bản duy nhất. Điều đó có nghĩa các cung văn phải lập thành nhịp điệu từng câu, từng từ trong đường tuyến giai điệu thống nhất. Trong một bộ môn nghệ thuật đầy tính ngẫu hứng như hát văn thì đây là điều không dễ thực hiện.

Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách), mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo.

chauvan24

Về kỹ thuật thanh nhạc, nhìn chung, có hai phong cách hát điển hình trong nghệ thuật hát văn. Đó là phong cách Hát văn Nam Định – lối hát không sử dụng nhiều hệ thống kỹ thuật nẩy hạt trong thanh nhạc cổ truyền, thiên về chất giọng thô mộc, giản dị, mang đậm đặc điểm của lối hát dân dã, khá phổ biến trên các miền thôn quê. Phong cách Hát văn Hà Nội, Hải Phòng sử dụng nhiều kỹ thuật nảy hạt, đề cao sự hoa mỹ, bay bướm và tinh tế trong việc điều tiết âm lượng, câu chữ. Cách ém hơi ở đây rất giống với Chèo hay Ca trù.

Gắn liền với sắc màu tín ngưỡng của người Việt, hát Chầu văn đã xây dựng được nhiều kiểu gõ nhịp và một hệ thống làn điệu, bài bản phong phú với những quy ước về cách vận dụng cho từng hàng thánh và từng loại phủ. Nhịp điệu và bộ gõ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sinh hoạt tín ngưỡng này. Chúng tạo nên một không khí hưng phấn, kết hợp với yếu tố tâm linh góp phần tạo nên một trạng thái tinh thần đặc biệt khiến người ta có thể thực hiện những việc mà ở trạng thái bình thường khó có thể làm nổi.

Bên cạnh ba hệ thống làn điệu của riêng mình – Cờn, Dọc, Xá, Hát Chầu văn còn có thể mượn các làn điệu nhạc cổ truyền khác như ca trù, quan họ, hò Huế và kể cả những điệu hát của các dân tộc thiểu số. Tuỳ theo khu vực mà tên gọi các điệu văn cũng có khác nhau.

Với sự đề cao những mô hình nhịp điệu có chu kỳ, âm nhạc Hát văn giống như những vũ điệu của thánh thần, dìu dặt và mê hoặc lòng người. Giai điệu tiếng đàn, giọng hát Chầu văn có một sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên nền nhịp phách lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân thương, rất nữ tính của Thánh Mẫu trong Tứ phủ.

(Phong Vũ – Theo Tạp chí Làng Việt)

chauvan31

Đàn nhạc – Làn điệu – Tiết tấu trong hát văn

Đàn nhạc hầu bóng gồm có một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, một trống nhỏ, một cảnh đôi, một phách. Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác. Nhưng đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi là các nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của dàn nhạc nên không thể thiếu được.

Các Làn điệu và Tiết tấu

Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo. Hát văn có rất nhiều làn điệu trải qua thời gian nhiều làn điệu dân ca đã được đưa vào hát chầu văn nhưng tôi chỉ kể ra đây 13 điệu thường dùng, hay còn gọi là lối hát. Đó là: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn, HãmDồn.

Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để hát trước khi chính thức vào một bản văn thờ hoặc văn thi. Có 2 cách hát: Bỉ 4 câu và Bỉ 8 câu. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách.

Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi.

chauvan30

Thổng chỉ giành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba.

Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3.

Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3.

Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.

Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi.

Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách.

chauvan28

Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau).

Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất – lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất – lục bát thì gọi là “Dọc gối hạc” hay “Dọc nhị cú”.

Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa).

Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôihttp://cvdvn.net/2015/07/07/dan-ca-dan-nhac-vn-hat-chau-van/, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy.

Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3.

(Tư liệu: Kuangtuan)

http://cvdvn.net/2015/07/07/dan-ca-dan-nhac-vn-hat-chau-van/

WIKIPEDIA : Chầu văn

Chầu văn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Vào thời gian này, thường có các cuộc thi hát để chọn người hát cung văn. Từ năm 1954, hát văn dần dần mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan. Đến đầu những năm 1990, hát văn lại có cơ hội phát triển. Các trung tâm của hát văn là Hà Nam, Nam Định và một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Nghệ thuật chầu văn đang được quan tâm bảo tồn và lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể[1]. Hiện tại, Nghi lễ chầu văn của người Việt ở Hà Nam, Nam Định đã được đưa vào danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam (đợt 1).

Mục lục

Phân loại

Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu (hát phục vụ hầu đồng, lên đồng), và hát văn nơi cửa đền:

  • Hát thờ: được hát vào các ngày lễ tiết, những ngày tiệc thánh (ngày thánh đản sinh, ngày thánh hóa…) và hát trước khi vào các giá văn lên đồng.
  • Hát hầu, trong hát hầu theo tín ngưỡng tứ phủ thì ba giá tam tòa Thánh Mẫu là bắt buộc và hầu tráng bóng chứ không tung khăn. Các giá tung khăn bắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống. Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, người ta có thể kết hợp hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu kết hợp với tứ phủ thì thường thỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, còn nếu hầu riêng thì mới thỉnh đức Thánh Vương Trần Triều đầu tiên. Một số tác phẩm tiêu biểu như « Cô Đôi Thượng Ngàn« ,…
  • Hát văn nơi cửa đền: thường gặp tại các đền phủ trong những ngày đầu xuân, ngày lễ hội. Các cung văn hát chầu văn phục vụ khách hành hương đi lễ. Thường thì cung văn sẽ hát văn về vị thánh thờ tại đền, và hát theo yêu cầu của khách hành hương. Nhiều khi lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương. Một đoạn văn thường hát thí dụ như:
Con đi cầu lộc cầu tài.
Cầu con cầu của gái trai đẹp lòng.
Gia trung nước thuận một dòng.
Thuyền xuôi một bến vợ chồng ấm êm.
Độ cho cầu được ước nên.
Đắc tài sai lộc ấm êm cửa nhà.
Lộc gần cho chí lộc xa.
Lộc tài lộc thọ lộc đà yên vui.

Hầu đồng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ đó, hát vǎn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc này cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước v.v. Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cuông (khai quang) cho thanh sạch.

Trình bày

Chầu văn là một thể hát do cung văn hát trong nghi thức hầu bóng lên đồng. Cung văn ngồi một bên mé trong khi người hầu bóng, gọi là đệ tử thánh, ngồi trước bàn thờ. Hai bên cung văn là nhạc công tấu nhạc cùng ban phụ họa hát theo. Hai bên đệ tử thánh thì có người phụ việc sửa soạn khăn áo để khi thánh nhập thì trang phục ăn khớp với giá đồng. Người phụ việc cũng lo các lễ vật dâng cúng cùng lộc thánh để phát cho các người đến cung nghinh.

Phần lời của chầu văn

Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất (có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ), hát nói…

Động tác người lên đồng luôn phải ăn khớp với bài hát văn

Các thí dụ minh họa: – Thể thất ngôn: (trích đoạn bỉ của văn công đồng)

森森鶴駕從空下

Sâm sâm hạc giá tòng không hạ

顯顯鸞輿滿坐前

Hiển hiển loan dư mãn tọa tiền

不舍威光敷神力

Bất xả uy quang phu thần lực

證明功德量無邊

Chứng minh công đức lượng vô biên

– Thể song thất lục bát: (Trích văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên) Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt

Cảnh bầu trời gió quyện hương bay

Cửu trùng tọa chín tầng mây

Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Gió đông phong hây hây xạ nức

Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai

Dập dìu nơi chốn trang đài

Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang

– Thể lục bát: (Trích văn Chầu Đệ Nhị) Trên ngàn gió cuốn rung cây

Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào

Gập ghềnh quán thấp lầu cao

Khi ra núi đỏ lúc nào ngàn xanh

Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh

Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

Phục trang của người hầu đồng Mẫu Thoải

– Thể song thất nhất bát (Trích văn Cô Bơ Thoải)

Nhang thơm một triện,trống điểm ba hồi

Đệ tử con, dâng bản văn mời

Dẫn sự tích thoải cung công chúa

Tiền duyên sinh ở:thượng giới tiên cung

Biến hóa lên về Động Đình trung

Thác sinh xuống,con vua thoải tộc

Điềm trời giáng phúc,thoang thoảng đưa hương

Mãn nguyệt liền,hoa nở phi phương

Da tựa tuyết ánh hường tươi tốt

– Thể hát nói: (Trích văn Quan Đệ Nhị) Nhác trông lên tòa vàng san sát,

Không đâu bằng Phố Cát, Đồi Ngang

Đá lô xô nước chảy làn làn

Điều một thú cỏ hoa như vẽ

Nhạn chiều hôm bay về lẻ tẻ,

Trên sườn non chim sẻ ríu ran.

nước dưới khe tung tính tiếng đàn,

Trên đỉnh núi tùng reo điểm trống

Ngần ngật Sòng Sơn kiêu dĩ lộng

Thanh thanh chi thủy chiếu trần tâm

Sơn chi cao hệ thủy chí thâm

Đây thực chốn non nhân nước trí

Âm nhạc

Hát văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng. Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về. Hát văn làm cho buổi lễ sống động. Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thường kéo dài từ 4-8 tiếng[2]

Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la, ngoài ra còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trống cái, sáo, đàn thập lục, đàn nhị, kèn bầu, chuông, , đàn bầu,…

Thứ tự trình diễn

  • Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:
  1. Mời thánh nhập
  2. Kể sự tích và công đức
  3. Xin thánh phù hộ
  4. Đưa tiễn

Bài hát thường chấm dứt với câu: « Xa loan thánh giá hồi cung! »

Các làn điệu và tiết tấu

Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo.

Hát chầu văn sử dụng nhiều làn điệu (hay còn gọi là lối hát, cách hát). Người xưa còn gọi làn điệu là cách 格. Thí dụ như điệu bỉ thì gọi là bỉ cách, điệu dọc thì gọi là dọc cách…

Các làn điệu hát văn cơ bản gồm: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú rầu (phú dầu), Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn Xá, Kiều Dương, Hãm, Dồn, điệu kiều thỉnh, Hát Sai (Hành Sai), ngâm thơ. Ngoài ra còn sử dụng nhiều làn điệu khác như hát nói trong ca trù, hát then, hò Huế, hồ quảng, hát canh …..

  • Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để mở đầu cho hình thức hát văn thờ. Thông thường điệu Bỉ được hát trên thể thơ thất ngôn tứ cú (bốn câu mỗi câu bảy chữ) hoặc thất ngôn bát cú (tám câu mỗi câu bảy chữ) nhưng cũng có khi điệu này có thể hát trên các thể thơ khác như song thất lục bát, lục bát, song thất nhất bát. Trong các bản sự tích chư thánh được hát thờ thì đoạn bỉ thường là đoạn giới thiệu tóm tắt nội dung chính của cả bản văn. Các đoạn bỉ cũng thường sử dụng nhiều câu đối nhau (biền ngẫu). Một điều đặc biệt nữa đó là điệu bỉ chỉ có trong hát văn thờ mà tuyệt nhiên không có trong hát văn hầu đồng. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách.
  • Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi.
  • Thổng chỉ dành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba.
  • Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3.
  • Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
  • Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.
  • Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi.
  • Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách.
  • Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau).
  • Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất – lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất – lục bát thì gọi là « Dọc gối hạc » hay « Dọc nhị cú ».
  • Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa).
  • Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy.
  • Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
  • là một trong những điệu hát quan trọng nhất khi hát văn hầu bóng (cùng với Cờn, Dọc, Phú nói). Điệu Xá đặc trưng cho các giá nữ thần miền thượng.

Ngoài ra hát chầu văn còn có thể mượn các làn điệu nhạc cổ truyền khác như ca trù, quan họ, hò Huế và cả những điệu hát của dân thiểu số[3]

Xen kẽ những đoạn hát là đoạn nhạc không lời, gọi là lưu không.

Thông tin thêm

Chầu văn cũng được nhắc tới trong các bộ phim và bài hát Việt Nam như trong bài Nghe em câu hát văn chiều nay của nhạc sĩ Nguyễn Cường

Một số tác phẩm

Chú thích

  1. ^ “Đạo Mẫu Việt Nam”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  2. ^ Phần giới thiệu hát văn tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
  3. ^ Đàm Quang Minh & Patrick Kersalé. Viêt-Nam du Nord: Chants de Possession. Paris: Buda Musique, 1995.

Liên kết ngoài

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A7u_v%C4%83n

TRANG NHÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM

Thứ Năm, ngày 30 tháng 7 năm 2015

Đền Ông Chín Cờn

Đền Ông Chín Cờn xã Quỳnh phương Huyện Quỳnh lưu Nghệ an. Nơi đây là vùng biển đẹp đầy tiềm năng về du lịch. Dưới đây là một vài hình ảnh Đền Ông Chín Cờn.

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ không cầu kỳ về kiến trúc, với chiều dọc chừng 20m, rộng chừng 8m nhưng với kiến trúc trình bày các cung bậc thơ đã mang đầy ý nghĩa tâm linh.

Đền Đồng Bằng

Đền Đồng Bằng tọa lạc trên đất An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày nay, xưa là Hoa Đào Trang Chính Sơn Nam thời cổ sau gọi là Trang Đào Động. Đền Đồng Bằng là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình-Người có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp, xây dựng giang sơn xã tắc từ buổi sơ khai. Đây là ngôi đền đã tồn tại gần 4000 năm (từ thời Vua Hùng) trên đất Thái Bình.

Thứ Tư, ngày 13 tháng 8 năm 2014

SỰ TÍCH CÔ ĐÔI THƯỢNG NGÀN

Cô Đôi Thượng Ngàn . Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả. Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn.

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 12 năm 2013

CHẦU BÉ BẮC LỆ LÀ AI

       Chầu Bé Bắc lệ là ai xin các bạn tham khảo bài viết sau đây: 

       Chầu Bé Bắc Lệ. Chầu Bé vốn gốc người Nùng, dưới thời Lê Thái Tổ, chầu giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Lạng Sơn

 Chầu cũng là vị có công giúp dân, giúp nước. Có tài liệu cho rằng Chầu Bé tuy là một vị chầu bà người Nùng trên Lạng Sơn, nhưng chầu lại chính là do Mẫu Thượng Ngàn hóa thân, giúp vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh, và sau này được vua phong là Lê Mại Đại Vương. Vậy nên đôi khi Chầu Bé cũng được đồng nhất với Bà Chúa Sơn Trang. Chầu dạo chơi khắp chốn thắng cảnh hữu tình, dạy dân chúng trồng trọt chăn nuôi, lên rừng làm ruộng bậc thang, xuống sông suối đánh bắt cá tôm. Tương truyền, Chầu Bé có phép thần thông do Đức Thái Tổ ban quyền có thể lay núi chuyển ngàn, đôi lúc rong chơi chầu lấy tàu lá giả làm hàng bán để trêu đùa người trần gian. Tuy đành hanh sắc sảo nhưng chầu cũng hết sức nhân hậu, có việc dữ lành chầu đều mách bảo cho người trần.

Thứ Tư, ngày 25 tháng 9 năm 2013

ĐỀN VOI PHỤC

          Ngày 20 tháng 9 năm 2013, đền Voi Phục – Thụy Khuê đã làm lễ Trấn trạch sau gần 3 năm Trùng tu.  Dưới đây là một số hình ảnh của buổi lễ.

Ảnh

Thứ Bảy, ngày 21 tháng 9 năm 2013

ĐỀN MẪU KỲ ANH

Vùng đất huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) có đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu, một di tích lịch sử, đã được dựng lên cách đây trên sáu trăm năm tại xã Kỳ Ninh – Kỳ Anh – Hà Tĩnh. Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương và đạo hữu gần xa đã hành hương về đền thờ Thánh Mẫu để dâng hương và tổ chức tế lễ.

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 8 năm 2013

NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN THỊ NGHI NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

        Sáng ngày 18/8/2013, tại hội trường Ủy ban Nhân dân xã Lạc Long – Kinh Môn – Hải Dương, Đảng ủy và Ủy ban Nhân Dân xã Lạc Long đã tổ chức buổi lễ  » Kỷ niệm 68 năm Cách mạng Tháng tám – Quốc Khánh 2/9 và trao Huân Chương Lao động hạng 3 cho Bà Nguyễn Thị Nghi ».
Sau buổi lễ trao Huân Chương Lao động Hạng ba cho Bà Nguyễn Thị Nghi, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doạn đã chụp ảnh chung với Bà Nguyễn Thị Nghi và một số đại biểu tham dự 

Thứ Ba, ngày 13 tháng 8 năm 2013

TỨ PHỦ LÀ GÌ – TAM PHỦ LÀ GÌ

          Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): Mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): Mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): Mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ là hệ thống ba vị Mẫu đệ nhất, Mẫu đệ nhị, và Mẫu đệ tam (không bao gồm Mẫu đệ tứ). Mẫu đệ tứ thường  được thờ riêng. Riêng Tam phủ Thánh Mẫu gần như các đền đều thờ. Mẫu đệ tứ các đền thờ ít hơn và  thường thờ nơi quàn các vong linh.

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 8 năm 2013

CÁC BAN TRONG ĐIỆN THỜ THÁNH MẪU

          Có 9 ban thờ trong điện thánh mẫu. Tuy nhiên các đền  chỉ thờ một số ban. Các ban thường không thờ đủ các vị thánh.

1. BAN THỜ NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ

  Ngọc Hoàng, vị Thánh cao nhất trong đạo Mẫu, có ban thờ riêng trong các đền và phủ. Đứng hai bên ngài là Quan Nam Tào và Quan Bắc Đẩu

2. BAN THỜ TAM TÒA THÁNH MẪU VÀ TỨ PHỦ THÁNH MẪU

Tứ phủ thánh Mẫu gồm:

  •  Mẫu đệ nhất Thuợng Thiên mặc áo đỏ
  •  Mẫu đệ nhị Thuợng Ngàn mặc áo xanh
  •  Mẫu đệ tam Thoải phủ mặc áo trắng
  • Mẫu Địa

Thường 3 ngôi đầu được thờ tại một ban gọi là ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Địa được thờ riêng.  Tam tòa Thánh Mẫu đều là hóa thân của 3 làn giáng trần của Mẫu Liễu Hạnh

CÔ CHÍN SÒNG SƠN

           Cô Chín Sòng Sơn :Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng , lại có tài xem bói,1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh , ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .
Cung thờ Cô Chín – Đền Sòng Sơn

Còn có truyền thuyết về cô : Cô là Tiên Nữ hầu Mẫu trong đền Sòng , quản cai chín giếng , cô dạo chơi bốn phương khắp ngả trời Nam , sau về đến đất Thanh Hóa cảnh lạ vô biên , cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát , lấy gỗ cây sung làm nhà ,còn cây si thì cô mắc võng , nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa , cách đền Sòng Sơn khoảng 30km.Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai , có khi cô máu quạt tiến Mẫu , múa cờ tiến Vua , cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa , rồi lại múa cánh tiên .Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật : Nón đỏ hài hoa vòng hồng để dâng cô đều được cô chứng minh .Ở một số địa phương đều thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng , Cô Chín Suối nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng.

TỨ PHỦ THÁNH CẬU

          Là các vị Thánh với hình tượng nam niên thơ ấu, tinh nghịch, thường phù hộ cho bách gia bác nhân, nhất là các em nhỏ. Sự tích các Cậu thường theo môtip « Các hoàng tử thiên cung » theo lệnh Ngọc Hoàng giáng hạ hộ dân, dẹp giặc, dạy dân nghề nghiệp…. và về trời vào tuổi niên thiếu. Tứ Phủ Thánh Cậu gồm thập nhị vị (mười hai Thánh Cậu). Mười hai là con số tượng trưng bao quát . Thông thường người ta thường hầu các Cậu đại diện:

TỨ PHỦ CHẦU BÀ

      Cũng như các vị Chúa Mường , các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ cũng là những người phụ nữ nhân đức hay các nữ tướng có công với dân với nước nên khi từ trần được nhân dân thờ phụng và được tôn thành các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ , được Vua Mẫu giao cho cai quản sông núi và mọi việc nhân gian.  Hàng Tứ Phủ Chầu Bà có 12 vị tuy nhiên cũng như ở một số nơi có sự khác nhau , thêm 2 vị nữa vào hàng thứ 3 và thứ 5.Ảnh: Chầu Bà Đệ Nhị

QUAN HOÀNG MƯỜI LÀ AI

       

                Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An. 

Quan ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

             Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu. Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội.