MINH TRANG : Nghệ sĩ Nguyễn Á triển lãm ảnh đờn ca tài tử

Nghệ sĩ Nguyễn Á triển lãm ảnh đờn ca tài tử

20/09/2015 10:52 GMT+7

TTO – Sáng 20-9 buổi ra mắt sách và triển lãm Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc quê hương của nhiếp ảnh gia Nguyễn Á đã diễn ra tại Nhà Văn hóa Thanh Niên TP.HCM.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á và cuốn sách ảnh Đờn ca tài tử ra mắt tại Nhà văn hóa Thanh Niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á và cuốn sách ảnh Đờn ca tài tử ra mắt tại Nhà văn hóa Thanh Niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định

Nghệ sĩ Hải Phượng nói về nhiếp ảnh gia Nguyễn Á và tác phẩm này: “Tôi phải thừa nhận anh Á là một người cực kì say mê. Những tài tử không phải là người mặc trang phục đẹp lên sân khấu, cần được nổi tiếng, hay cần được báo chí săn đón… Họ là những người ở trong nghề ít nhất phải chục năm mới dám tự tin cầm lấy cây đàn. Vậy nên, đi theo họ để thực hiện được một bộ sách ảnh ghi nhận lại những cống hiến của họ phải thực sự là một người có tâm”.

Chia sẻ về « đứa con thứ 5 » của mình, Nguyễn Á cho biết đã phải siêng chụp ảnh cưới thêm ở nhà, rồi vay mượn tứ tung để thực hiện bộ ảnh này.

« Sợ nhất là khi cảm xúc của mình không còn để chụp nữa, chứ bây giờ “nó” còn đầy lắm nên cứ cố một tí, ráng một tí rồi cũng xong!” – tác giả Nguyễn Á chia sẻ.

Có lẽ chính sự hào sảng, phóng khoáng rặt chất Nam Bộ ấy trong người mà đi đâu, chụp về đề tài gì anh cũng được nhân vật thương mến, “rút ruột” trả lời, chịu khó cho chụp đi chụp lại.

Dự án này vừa mới xong hình hài thì anh đã tự “làm khó” mình bằng một dự án dài hơi khác. Đó là ấp ủ về việc ghi nhận và chụp lại những cựu binh Mỹ sang Việt Nam tìm lại vợ, bạn gái, những đứa con… khi cuộc chiến đã ngủ yên sau nhiều năm thất lạc.

“Tôi tin đó sẽ là những câu chuyện bằng hình ảnh xúc động, giàu tính nhân văn, thể hiện rõ nhất lòng vị tha của người Việt Nam” – nhiếp ảnh gia U50 đầy năng lượng nói về dự án mới của mình…

Cuốn sách Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc quê hương do NXB Thông Tấn phát hành, được in trên giấy láng, bìa cứng với giá bìa 500.000 đồng.

Một nữ nghệ sĩ đờn ca tài tử tươi cười khi xem bộ ảnh của mình được triển lãm tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Một nữ nghệ sĩ đờn ca tài tử tươi cười khi xem bộ ảnh của mình được triển lãm tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định
Một khách tham quan chụp lại các ảnh trong lễ khai mạc triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Một khách tham quan chụp lại các ảnh trong lễ khai mạc triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định
Một em nhỏ xem triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Một em nhỏ xem triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định
Một cụ già chụp lại các bộ ảnh được triển lãm tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Một cụ già chụp lại các bộ ảnh được triển lãm tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định
Không gian trưng bày triển lãm ảnh tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Không gian trưng bày triển lãm ảnh tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định
Một tiết mục đờn ca tài tử trong lễ khai mạc triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 - Ảnh: Quang Định
Một tiết mục đờn ca tài tử trong lễ khai mạc triển lãm ảnh Đờn ca tài tử của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á tại Nhà văn hóa Thanh niên, Q.1, TP.HCM sáng 20-9 – Ảnh: Quang Định

MINH TRANG

HÒA BÌNH : Ra mắt sách Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc, quê hương

Ra mắt sách Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc, quê hương

PLO 20/09/2015 16:33 6 liên quan

Sáng 20-9-2015, rất đông nghệ nhân, nghệ sĩ, người chơi đờn ca tài tử khắp nơi cùng nhiều nhiếp ảnh gia, văn nghệ sĩ, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng và các khán giả đã có mặt tại Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM để tham dự lễ ra mắt quyển sách ảnh Đờn ca tài tửi – Lời tự tình của dân tộc, quê hương do nhiếp ảnh gia Nguyễn Á thực hiện.

Nguyễn Á ký tặng bạn đọc

Có thể kể tên những người nổi tiếng tại buổi lễ như danh cầm Ba Tu, nghệ sĩ Hải Phượng, nghệ sĩ Kim Cương, nghệ sĩ Đinh Bằng Phi, nhiếp ảnh gia Đào Hoa Nữ, bà Tôn Nữ Thị Ninh, giáo sư sử học Nguyễn Khắc Thuần và phu nhân Lý Thị Mai, nhà nghiên cứu Võ Trường Kỳ…

Nhà cựu ngoại giao – nhà hoạt động xã hội bà Tôn Nữ Thị Ninh cho biết về tình cảm của mình khi có mặt tại buổi lễ: “Tôi không phải là người hiểu rõ về đờn ca tài tử, nhưng tôi đến đây với tinh thần ủng hộ việc làm duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc”.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Á đã cho biết anh mất hai năm để thực hiện quyển sách này với rất nhiều tình cảm và tâm huyết. Anh gửi lời tri ân đến những người giúp anh hoàn thành quyển sách, những người đã đến tham dự buổi lễ, đặc biệt là những nghệ nhân đàn ca tài tử từ miền Trung, miền Tây đã đi đêm đi hôm để về đến đây từ khuya, chờ sáng để dự lễ ra mắt quyển sách ảnh của anh. Buổi ra mắt khép lại với sự cảm động khi Nguyễn Á tặng sách cho các nhân vật của mình.

PLO mời đọc giả xem chùm ảnh ra mắt quyển sách rất được quan tâm, rất đáng giá với di sản Đờn ca tài tử Nam bộ đã được UNESCO công nhận:

Niềm vui của nhiếp ảnh gia Nguyễn Á khi chia sẽ về tác phẩm của mình.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh (áo trắng) ngồi giữa các tài tử đờn ca trong buổi lễ.

Nhiếp ảnh gia Đào Hoa Nữ đến chia vui cùng đồng nghiệp Nguyễn Á.

Nguyễn Á chụp ảnh cùng người hâm mộ.

Từ trái sang: NSND Đinh Bằng Phi, vợ chồng giáo sư Nguyễn Khắc Thuần có mặt trong buổi lễ

Danh cầm Ba Tu khoe ngón đàn tài tử điêu luyện của ông trên sân khấu.

Những tác phẩm của Nguyễn Á được triển lãm tại buổi ra mắt sách.

HÒA BÌNH

http://www.baomoi.com/Ra-mat-sach-Don-ca-tai-tu-Loi-tu-tinh-cua-dan-toc-que-huong/c/17545462.epi

Video đang được xem nhiều

HÒA BÌNH : Nguyễn Á kể chuyện đờn ca tài tử

20/09/2015 – 14:21

Nguyễn Á kể chuyện đờn ca tài tử

“Với quyển sách ảnh này, tôi sẽ là một “hạt cát nhỏ” trong cuộc hành trình lưu giữ những nét tinh hoa của văn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam” – Nguyễn Á chia sẻ

Tiếp sau “Họ đã sống như thế”, “Tâm – Tài, họ là ai?”, “Nick Vujicic và những ngày ở Việt Nam” rồi “Hoàng Sa, Trường Sa – Biển đảo Việt Nam”, Nguyễn Á tiếp tục tạo dấu ấn bằng công trình sách ảnh: “Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc, quê hương”. Quyển sách dày tới 288 trang in màu, song ngữ Việt – Anh vừa ra mắt công chúng.

Đờn ca tài tử, loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng đất Nam Bộ, ra đời cách đây hơn 100 năm, với sức lan tỏa tinh thần rất lớn, đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với phong cách biểu diễn đầy tính ngẫu hứng và hệ thống bài bản có quy mô rõ ràng cùng với việc sáng tạo những lời ca có thể phô diễn được mọi cung bậc tình cảm con người, đờn ca tài tử đã và đang có được sức sống mạnh mẽ trong đời sống văn hóa của cộng đồng, góp phần tạo nên sự phong phú trong kho tàng văn hóa Nam Bộ.

nguyen-a-ke-chuyen-don-ca-tai-tu

GS-TS Trần Văn Khê hướng dẫn sử dụng nhạc cụ dân tộc cho nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á. (Ảnh do nhiếp ảnh gia Nguyễn Á cung cấp)

“Nhiều người hỏi tôi đờn ca tài tử Nam Bộ có gì hay mà nhiều người mê chơi đến nỗi bất chấp nghèo khó?” – Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Dân gian Tư Bền kể, rồi tự sự: “Năm nay, tôi thọ được 95 tuổi, biết chơi đờn ca tài tử từ năm 11 tuổi, tính ra cũng được trên 80 năm tuổi nghề. Nay tai tôi vẫn nghe rõ, ngón tuy hơi run nhưng vẫn còn đờn được. Chỉ những ai hiểu, cảm sâu sắc giá trị nghệ thuật của đờn ca tài tử mới thấy sức hấp dẫn hơn cả mãnh lực tình yêu của nó”.

Theo giới chuyên môn, người chơi đờn ca tài tử phải có năng khiếu về âm nhạc, phải thuộc làu 20 bản Tổ theo cách ký xướng âm ngũ cung lòng bản, phải chọn cái không gian thích hợp thiên thời địa lợi nhân hòa rồi tâm tấu, ngẫu hứng sáng tạo, phải có tư cách đạo đức của một ông thầy đờn, là chơi đờn ca vì nghệ thuật và bất vụ lợi.

Có lẽ đã từ lâu âm thầm tìm đến và lặng nghe tiếng tri âm của đờn ca tài tử Nam Bộ mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á bị mê hoặc bởi bộ môn này. Từ yêu thương, mê đắm thưởng thức do “nhiễm từ nhỏ” (như anh tự sự) đến quyết tâm làm một bộ sách ảnh để đời, Nguyễn Á đã mất rất nhiều năm với bao công sức, tâm huyết, trí tuệ.

nguyen-a-ke-chuyen-don-ca-tai-tu (1)

Bìa quyển sách ảnh “Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc, quê hương”. (Ảnh do nhiếp ảnh gia Nguyễn Á cung cấp)

Không chỉ theo sát mọi diễn biến thời sự của đờn ca tài tử, ghi lại những khoảnh khắc được thế giới và trong nước vinh danh, Nguyễn Á có mặt trên từng cây số, bất cứ nơi đâu có hoạt động đờn ca tài tử. Rất nhiều bạn bè đã trố mắt ngạc nhiên khi gặp anh nhiếp ảnh khệ nệ vác máy xuống tận Trà Vinh – nơi diễn ra lễ vinh danh NSND Bảy Bá, soạn giả Viễn Châu tại quê nhà; rồi những đêm diễn, liên hoan ở Long An, Bạc Liêu, Cà Mau… và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác đều thấy anh xuất hiện. Nguyễn Á luôn sẵn sàng trên mọi ngả gắn bó với những nghệ sĩ lão làng như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo; GS-TS Trần Văn Khê; soạn giả – NSND Viễn Châu, nhạc sư Ba Tu… và hầu như tất cả “đệ tử chân truyền”, những gương mặt tạo dấu ấn trong hành trình lịch sử của đờn ca tài tử, miệt mài trên hành trình trả ơn tổ nghiệp hay ngay cả những nông dân mê âm nhạc dân tộc, những CLB nhỏ ở những miền sông nước xa xôi nhưng đã giữ lửa âm nhạc, sống trọn tình tri kỷ với di sản… để “săn” từng khoảnh khắc đẹp mà các nghệ nhân, nghệ sĩ đã hiện diện, đã khóc, đã cười, đã sống, đã sẻ chia, đã chung nhau tiếng đờn khúc hát để lại cho đời những cung bậc đẹp.

Ông Vi Kiến Thành – Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm – đánh giá về tác giả công trình: “Nguyễn Á luôn muốn tìm tòi đến tận cùng của vấn đề thông qua các bức ảnh với đủ cung bậc, tình cảm của nhân vật và không gian bối cảnh để làm bật lên những giá trị văn hóa”.

“Tôi quan niệm đờn ca tài tử là mảnh đất tốt, rất cần những hạt giống tốt để nó phát triển…” – NSƯT Ba Tu nói. Chính vì đồng cảm với quan điểm này nên không mấy người lạ lẫm khi thấy các em thiếu nhi của cuộc thi “Giọng ca nhí Hò xự xang xê cống” vây lấy “chú Nguyễn Á” – người đã gắn bó với ngôi nhà chung của các em từ nhiều ngày để có được những bức ảnh đẹp về thế hệ yêu mến và tiếp nối của đờn ca tài tử.

“288 trang in màu, song ngữ, “Đờn ca tài tử – Lời tự tình của dân tộc, quê hương” (NXB Thông tấn, ra mắt tháng 9-2015) xứng đáng là món quà vô giá, thể hiện sự tri ân đối với các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ đờn ca tài tử Nam Bộ” – nhà nghiên cứu Võ Trường Kỳ nhận định.

Quyển sách ảnh là cả tâm huyết với môn nghệ thuật di sản, được nhiếp ảnh gia Nguyễn Á ghi lại những khoảnh khắc “độc”, đẹp, sáng bừng rạng rỡ những giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc.

Hòa Bình/nld.com.vn

http://baolongan.vn/nguyen-a-ke-chuyen-don-ca-tai-tu-a7106.html

KIỀU KHẢI : Quảng bá vẻ đẹp hát then

Quảng bá vẻ đẹp hát then

Cập nhật: 07:40, Thứ 4, 16/09/2015

Then xuất phát từ chữ “thiên” – tức là trời. Bởi vậy, điệu hát then vẫn được coi là điệu hát thần tiên và thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc…

CLB hát then ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang

CLB hát then ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang

Liên hoan “Bảo tồn, phát huy nghệ thuật Hát then – Đàn tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam lần thứ V, năm 2015 trong thời kỳ xây dựng và phát triển bền vững đất nước” với sự tham dự của 14 tỉnh thành sẽ được tổ chức tại tỉnh Tuyên Quang từ ngày 23-26/9.

Đây là thông tin được Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Tuyên Quang chia sẻ trong cuộc họp báo được tổ chức sáng 15/9 tại Hà Nội.

Món ăn tinh thần

Hát then – Đàn tính của 12 tỉnh miền núi phía Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp.

Trong đó, Việt Nam đăng ký với UNESCO hai loại hình là Nghi lễ lễ hội (nghi lễ cổ truyền) và Nghệ thuật trình diễn (hiện đại). Vì vậy, Liên hoan lần thứ V này là cơ hội để di sản Hát then – Đàn tính một lần nữa bước chân ra tiếp cận với các nhà khoa học thế giới.

Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Then xuất phát từ chữ “thiên” – tức là trời. Bởi vậy, điệu hát then vẫn được coi là điệu hát thần tiên và thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc…

Nguồn gốc của hát then hiện chưa có sự thống nhất. Có tỉnh cho rằng then xuất hiện từ thời nhà Mạc. Nơi khác lại lý giải then xuất hiện từ thời Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII)…

Dẫu chưa có sự thống nhất về nguồn gốc, nhưng trong nhiều thế kỷ qua, hát then là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở miền núi phía Bắc nước ta. Then có sức sống mãnh liệt và vững bền. Nói như ông Hoàng Đức Hậu, Vụ trưởng Vụ Văn hóa Dân tộc – Bộ VH-TT&DL: “Người Tày, người Nùng, người Thái đi đến đâu là then đi đến đấy”.

Ngôn ngữ – lời then, mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường. Đó là ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Nội dung các khúc hát then đều toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên (cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mong muốn nhân an vật thịnh, con người mạnh khỏe…), tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước… Giai điệu then mượt mà, sâu lắng. Âm hưởng then mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

Trước đây, hát then chỉ dùng trong nghi lễ, giao tiếp với thần linh trong như: Lễ khẩu mẩu (lễ cốm), lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa…

Trong lễ hát then, người ta có thể hát cả giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm. Ngày nay, ngoài những làn điệu then cổ còn giữ lại thì các bài then mới cũng được ra đời dựa trên nền nhạc cổ truyền và đặt lời mới. Nội dung chủ yếu của then hiện đại là bài hát ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động…

Phát huy giá trị di sản

Trong 4 ngày tổ chức Liên hoan, ông Nguyễn Hải Anh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, cho biết sẽ có nhiều hoạt động văn hóa diễn ra. Đó là, khai mạc Hội chợ Nông nghiệp và Thương mại vùng Tây Bắc năm 2015 (ngày 23/9); Triển lãm ảnh “Di sản văn hóa then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” (24/9); Lễ hội thành Tuyên (25/9); Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam” (26/9)…

Ngoài hoạt động biểu diễn, giới thiệu các thể loại di sản hát, múa then, đàn tính, trong đó du khách sẽ được trực tiếp thưởng thức tại thôn Trung Quang, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang – một trong những cái nôi của nghi lễ hát then cổ truyền – thì Hội thảo quốc tế thu hút hơn 60 nhà khoa học thế giới đến từ các quốc gia: Anh, Pháp, Malaysia, Thái Lan và các chuyên gia UNESCO chuyên nghiên cứu tín ngưỡng Văn hóa dân gian ở Đông Nam Á cũng là điểm nhấn quan trọng.

Then là một kho tàng quý báu tàng trữ những giá trị văn học nghệ thuật song cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với 12 tỉnh miền núi phía Bắc, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Tày, Nùng, Thái trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật di sản văn hóa dân gian độc đáo này.

Kiều Khải

http://m.nongnghiep.vn/quang-ba-ve-dep-hat-then-post149503.html

 

TRẦN QUANG HẢI : A FEW WORDS ON MY FATHER TRẦN VĂN KHÊ, ceremony of 100 days after Prof. Trần Văn Khê ‘passing away, October 3rd 2015 in Taverny, FRANCE

A FEW WORDS ON MY FATHER TRẦN VĂN KHÊ

images

Ladies and Gentlemen,

First, I would like to express my thanks to Phương Oanh, a musical companion of mine for 60 years (since the day we first met at the National Conservatory in Saigon in the mid-50s of the last century) who has kindly organized the 100th-day remembrance after the passing of my father, under the form of an ethno-musical program with the participation of many students of my father in Vietnam, France, Norway,etc.

Talking about the teaching career of my father, who had passed the musical torch to several generations at the Sorbonne University in Paris (from 1958 to 1987), at the Centre of Studies for Oriental Music (from 1959 to 1987) and at many Universities around the world, I was very fortunate to have worked closely with my father for more than 50 years, learning abundantly in the process about the history of music of Vietnam and of other Asian countries, and together we have introduced the music of Vietnam to many countries. Thousands of students have had the opportunity to learn about the music of Vietnam and the music of other countries in Asia. In addition, a great number of students and musicians in Vietnam also had many opportunities to directly or indirectly learn from my father over the past many years, especially since the day my father came back to Vietnam in 2005 until his passing on June 24, 2015 in the district of Bình Thạnh, Ho Chi Minh City.

A TRADITION TO BE CONTINUED

At his death, my father has left behind a voluminous treasure of books, memoirs, research articles, etc. All of these are being carefully kept in Vietnam. The process of educating the young generations consists of two forms:

  1. Teaching and Playing Vietnamese Musical Instruments

In France, Phương Oanh and the Phượng Ca Folksong and Traditional Music, School of Vietnamese traditional music, Hồ Thụy Trang and the Tiếng Tơ Đồng ensemble, have been introducing with great success the traditional music of Vietnam thanks to several performances on stage and many classes throughout Europe teaching students how to play Vietnamese musical instruments, with branches in Norway, Canada and Australia. Nguyệt Ánh of Orsay and the FAVIC band have also contributed in the introduction of folk music of Vietnam.

In Vietnam, Mrs. Phạm Thúy Hoan and the Tiếng Hát Quê Hương group have frequently organized several musical activities and musical classes over the past several years to teach many young students how to play traditional instruments. Hải Phượng has performed in many countries, and has introduced the Vietnamese zither at many international music festivals around the globe. Mrs. Thúy Hoan and Hải Phượng have greatly helped my father over the past 10 years (2005-2015) organizing regular activities at the Trần văn Khê Centre in Saigon. Dr. Nguyễn Nhã and Hồ Nhựt Nam have also made their contributions on folk and traditional music of the southern region of Vietnam.

/

  1. Doing Research and Teaching Music at Schools

Bạch Yến and I have introduced Vietnamese traditional music in musical programs at many public schools, high schools and universities in Norway (Rikskonsertene), Belgium (Jeunesses Musicales Belges JMB), France (Jeunesses Musicales de France JMF), Switzerland (Jeunesses Musicales Suisses JMS) with more than 1,500 school concerts over the past 30 years. We have participated in more than 150 International Festivals on Traditional Music in 45 countries since 1978 until now. In the future, we will continue to carry on this task.

For myself, I have taken the place of my father since 2011 in international symposiums for the preparation of UNESCO files honoring the intangible cultural heritage, because my father could not move around easily during the last years of his life. I have participated in international meetings on Hát Xoan Phú Thọ in 2011, on Hát Ví Dặm Nghệ Tỉnh in 2013, on Hát Bài Chòi Nam Trung Bộ in 2015, on Hát Then Tày Nùng Thái in 2015, and will be present at the international colloquial on Hát Văn in 2016. As a board member of the International Council for Traditional Music since 2005, I have helped a number of Vietnamese researchers to become members of this organization in order for them to participate in the international conferences to present the results of their research on the world stage. In the future, I will continue to encourage the young researchers to actively participate in these international conferences to widen their fields of research and to exchange information with researchers from other countries.

Finally, I would like to thank Phương Oanh and Tùng and the Phượng Ca Folksong and Traditional Music, School of Vietnamese Traditional Music, as well as my friends Hồ Thụy Trang, Hải Phượng, Khánh Vân, Thanh Hiệp, Nguyệt Ánh, Vân Anh, Ngọc Dung, Thu Thảo and many other participants who have greatly contributed to the success of the tonight’s program.

The blog on Professor Trần Văn Khê is: https://tranvankhe1921.wordpress.com

BIOGRAPHY OF FORMER PROFESSOR TRẦN VĂN KHÊ

TVK ĐỜN TY BA

Professor Trần Văn Khê was born on 24 July 1921 at the Vĩnh Kim village, in the county of Châu Thành in the province of Mỹ Tho (currently named Tiền Giang). He was:

– Director of Research at the National Centre for Scientific Research of the Republic of France.

– Member of the UNESCO’s International Council on Music, in which he held for 10 years the title of President of the International Selection Committee for the forum on music of Asia.

– Member of the Academy for Science, Literature and European Arts.

He was born to a family of 4 generations of musicians. Both of his paternal and maternal families had good musicians and good composers. Trần Văn Khê started to play “đàn kìm” moon shaped lute (đàn nguyệt) at 6, “đàn cò” 2 stringed fiddle (đàn nhị) at 8, and the zither and the drums at 12.

After completing the baccalaureate with excellent marks in 1941 in Saigon, Trần Văn Khê received a scholarship from the government to go to Hanoi to study medicine (1941-1944). That was the time when he and his high school friend Lưu Hữu Phước (both had attended the Trương Vĩnh Ký high school in Saigon) became soul-mates on such matters as music and the responsibilities of students toward the mother country.

From 1944 to 1949 Trần văn Khê worked as professor at private schools in Saigon and in Cần Thơ, and at the same time worked as reporter for the Thần Chung and Việt Báo newspapers.

In 1949, Trần Văn Khê went to France as a press reporter, and started multi-year academic formation, then a long career in France. He graduated from the prestigious School for Political Sciences, International Relations Branch, in Paris in 1951. Then he was grounded for 3 consecutive years in hospital because of a grave illness. After leaving the hospital, he pursued his study on musicology at the University of Paris. In June 1958, he was the first Vietnamese to obtain the Doctorate in Musicology from Sorbonne University with a highest citation together with several felicitations and praises from the board of examiners. The theme of Tran Văn Khê’s thesis was “Traditional Music of Vietnam”, in which the music of the Imperial Huế and the Amateur Music in the southern part of the country were greatly emphasized.

After obtaining his Doctorate in Musicology, Trần Văn Khê started his university teaching career in France and in more than 20 countries around the world, and at the same time, continuously provided great contributions through his research on traditional music, as follows:

  • He founded the Centre of Studies for Oriental Music in Paris, specializing in teaching traditional music of Asia through singing and playing the instruments (in 1959). At this Centre, Trần Văn Khê assumed the position of Director of Arts specializing in teaching the playing of instruments (zither, kim, cò) and the singing on an amateur basis, with the cooperation of his two children Trần Quang Hải and Trần Thị Thủy Ngọc. Over a period of 30 years, this Centre has educated more than 150 students from France and from other countries where Vietnamese amateur music is known and appreciated.
  • He worked at the National Centre for Scientific Research in France starting as a research officer and climbing the rank to become a Director of Research, specializing in Vietnamese musicology, in particular Amateur Playing and Singing and other Metaboles. He also compared the Vietnamese Amateur Playing and Singing with the chamber music of other countries in Asia such as China, Japan, Korea, Mongolia, India, Indonesia, Malaya, Burma, Thailand, Kampuchia, Laos and Philippines.
  • Thanks to an international assistance, he had for the the first time, cut a disk on music of the Imperial Huế and a disk on amateur music of Southern Vietnam, in which there were songs of Tứ Đại Oán and Vọng Cổ.
  • As an international musicology researcher, Trần Văn Khê had been invited to teach musicology at the Faculty specializing in folk music of the Sorbonne University in Paris and at many other universities around the world. In the years of 1968-1972, he focussed his research on theatrical plays in Asia such as Chinese opera; Nôh and Kabuki in Japan; Pansori in Korea; Hát Chèo, Hát Bội and Hát Cải Lương in Vietnam.
  • He has published more than 200 articles on Vietnamese music and Asian music in many musicology magazines around the world. Specially, the papers he wrote for the “Courrier de l’Unesco” have been translated into 14 different languages.
  • He has completed twenty five 23-LP disks and CDs on music in Vietnam and in a few Asian countries to be distributed around the world.
  • He was Special Advisor to a Unesco’s Committee for the establishing of the files on international Amateur Singing and Playing (he has made recommendations to accurately fix the errors in several Amateur Singing and Playing films, and provided to the Committee several disks issued by Unesco in which there are several items on Amateur Singing and Playing).

Since 2006, Professor Trần Văn Khê had permanently returned to his native land. The authorities of Ho Chi Minh City had arranged for his disposition a property located at 23 Huỳnh Đình Hai Street in the district of Bình Thạnh for him to live and work during the last years of his life. At this location, he had used many of his own valuable researches in the form of books, notes and disks to work with officials specializing in cultural affairs of Ho Chi Minh City and many closed collaborators in the effort to build a Trần Văn Khê Library which will support future research requirements on folk music. Also at this location, together with his closed partners, he had organized hundreds of seminars, mini shows, information exchanges with the general public, especially with the young generation, to cover such subjects as Vietnamese folk music with special features of various regions of the country. He had also greeted at this location many political, cultural and diplomatic officials of Vietnam and of foreign countries.

ACHIEVEMENTS IN VIETNAM AND ELSEWHERE

Professor Trần Văn Khê had received numerous titles and rewards from Vietnam and from other countries for his skills and his valuable contributions to folk music on the international scale, as follows:

Before 1975:

  • Purple Medal Class 1
  • Cultural Purple Medal Class 1

After 1975:

  • UNESCO – CIM Prize on Music (1981)
  • Art and Literature Medal from the Ministry of Culture of France (1991)
  • Member of the European Academy of Science, Literature and Arts (1993)
  • Koizumi Fumio Prize on International Music, Japan (1994)
  • Medal of Palm Knight Academy, Ministry of Education, France (1999)
  • Medal of First Class Labor, Vietnam (1999)
  • Prize on Honoring Vietnam (2003)
  • Đào Tấn Prize (2005)
  • International Prize of San Francisco for “lifelong contribution to the research on Vietnamese traditional music” 2013
  • Phan Châu Trinh Prize on Culture (2013)
  • Armorial of Ho Chi Minh City (2013)

Many thanks to anh Nghiêm Phú Phúc for the translation

 

 

TRẦN QUANG HẢI : VÀI LỜI VỀ THÂN PHỤ TRẦN VĂN KHÊ, nhân dịp lễ 100 ngày GS Trần Văn Khê quá vãng, 3 tháng 10, 2015 tại âm nhạc viện Taverny, Pháp

Trần Quang Hải

VÀI LỜI VỀ THÂN PHỤ TRẦN VĂN KHÊ

11796270_741871555923730_1111102894237188961_n

Kính thưa Quý vị,

Trước hết tôi cám ơn Phương Oanh , người bạn đồng hành âm nhạc từ 60 năm nay (kể từ ngày quen nhau tại trường quốc gia âm nhạc Saigon vào giữa thập niên 50 của thế kỷ trước) đã có nhã ý tổ chức buổi lễ 100 ngày cho thân phụ tôi dưới hình thức một chương trình nhạc dân tộc quy tụ các môn sinh của thân phụ tôi từ Việt Nam, Pháp, vv…tới tham dự buổi lễ này .

Nói về sự nghiệp của thân phụ tôi , người đã truyền lửa cho nhiều thế hệ tại trường đại học Sorbonne Paris (từ 1958 tới 1987), tại trường nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) (từ năm 1959 tới 1987), tại nhiều trường đại học khắp năm châu, tôi được may mắn sát cánh với thân phụ tôi từ hơn 50 năm , học hỏi rất nhiều về lịch sử nhạc Việt và Á châu và cùng đi quảng bá nhạc Việt tại nhiều quốc gia. Số sinh viên cả mấy ngàn người đã có dịp học hỏi nhiều về nhạc Việt Nam và Á châu . Ngoài ra, một số đông sinh viên và nhạc sinh Việt Nam cũng có dịp thọ giáo trực tiếp hay gián tiếp với thân phụ tôi qua nhiều năm qua , nhứt là từ khi thân phụ tôi trở về sống ở Việt nam từ năm 2005 cho tới lúc từ trần vào ngày 24 tháng 6, năm 2015 tại quận Bình Thạnh, TP HCM.

MỘT TRUYỀN THỐNG ĐANG ĐƯỢC TIẾP NỐI

Thân phụ tôi đã ra đi, để lại một gia tài đồ sộ về số lượng sách vở , hồi ký, bài viết về công trình nghiên cứu hiện đang được tàng trữ tại Việt Nam . Sự truyền lửa lại cho đám hậu sinh được tiếp nối dưới hai lĩnh vực :

  1. Phần giảng dạy và trình diễn nhạc cụ Việt Nam

Ở Pháp Phương Oanh và, Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc, trường âm nhạc dân tộc VN,Hồ Thụy Trang với ban Tiếng Tơ Đồng đã, đang và sẽ tạo nhiều thành tích tốt đẹp với sự quảng bá nhạc dân tộc Việt Nam qua các buổi trình diễn , các lớp dạy đàn ở Âu châu, với những chi nhánh ở Canada, Úc châu. Nguyệt Ánh ở Orsay, ban FAVIC đóng góp việc phổ biến dân ca Việt

Ở Việt Nam , chị Phạm Thúy Hoan và Tiếng hát quê hương đã thực hiện nhiều buổi sinh hoạt thường kỳ từ nhiều năm qua và đã đào tạo nhiều nhạc sinh trẻ qua các lớp nhạc cụ . Hiện đang tiếp tục quảng bá rộng rãi và đưọc nhiều thành công trong giới trẻ . Hải Phượng trình diễn nhiều xứ mang tiếng đàn tranh đi khắp các lễ hội quốc tế. Chị Thúy Hoan và Hải Phượng đã giúp thân phụ tôi rất nhiều trong 10 năm qua (2005-2015) ở những sinh hoạt định kỳ tại trung tâm Trần Văn Khê ở Saigon . TS Nguyễn Nhã , Hồ Nhựt Nam cũng có đóng góp về dân nhạc và nhạc truyền thống miền Nam .

  1. Phần nghiên cứu và phổ biến nhạc ở học đường

Bạch Yến và tôi đã giới thiệu nhạc Việt tại những chương trình nhạc ở các trường tiểu, trung và đại học tại các quốc gia Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales belges JMB) Pháp (Jeunesses musicales de France JMF), Thụy Sĩ (Jeunesses musicales suisses JMS) với hơn 1500 buổi từ 30 năm nay. Chúng tôi đã tham gia hơn 150 lễ hội quốc tế nhạc truyền thống (Festivals internationaux de musique traditionnelle) tại 45 quốc gia từ năm 1978 tới nay . Trong tương lai sẽ còn tiếp tục việc làm này

Riêng về phần tôi, tôi đã thay thế Ba tôi từ năm 2011 trong những kỳ hội thảo chuẩn bị hồ sơ Unesco để vinh danh di sản văn hóa phi vật thể vì Ba tôi không thể di chuyển dễ dàng trong những năm chót của cuộc đời . Tôi đã tham dự hội thảo hát xoan phú thọ (2011), hội thảo hát ví giặm nghệ tĩnh (2013), hội thảo hát bài chòi nam trung bộ (2015), hội thảo hát then tày nùng thái (2015), hội thảo hát văn (2016). Với tư cách thành viên của ban chấp hành của ICTM (International Council for Traditional Music – Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), từ năm 2005 tôi đã giúp cho một số nhà nghiên cứu Việt Nam trở thành thành viên để tham gia những hội nghị quốc tế công bố những thành quả nghiên cứu nhạc dân tộc tại các thao trường quốc tế. Tôi sẽ tiếp tục khuyến khích trong tương lai những nhà nghiên cứu trẻ tham gia tích cực vào những hội thảo quốc tế để nới rộng tầm nghiên cứu cùng trao đổi với các nhà nghiên cứu hải ngoại .

Trưóc khi dứt lời , tôi cám ơn Phương Oanh và Tùng và Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc, trường âm nhạc dân tộc VN, cùng với các bạn Hồ Thụy Trang, Hải Phượng, Khánh Vân, Thanh Hiệp, Nguyệt Ánh , Vân Anh, Ngọc Dung , Thu Thảo , Trực, và những cộng sự viên đã đóng góp tích cực để chương trình tối nay được thành công tốt đẹp .

Trang blog về GS Trần Văn Khê : https://tranvankhe1921.wordpress.com

 FILE TVK 4

TIỂU SỬ cố GSTS TRẦN VĂN KHÊ

Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê sinh ngày 24 – 7 – 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận

Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang).

+ Nguyên Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của

nước Cộng hòa Pháp.

+ Thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền là Chủ tịch

Ban tuyển chọn Quốc tế của Diễn đàn âm nhạc Châu Á.

+ Viện sĩ Thông tấn Viện hàn lâm Khoa học, Văn Chương và Nghệ thuật Châu

Âu.

Ông sinh ngày 24 – 07 -1921, trong một gia đình bốn đời là nhạc sĩ. Cả hai bên

nội ngoại của Trần Văn Khê đều có nhiều người thạo chơi nhạc, viết nhạc.Trần

Văn Khê từ sáu tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị),

mười hai tuổi biết đàn tranh và đánh trống nhạc.

Sau khi hoàn thành xuất sắc chương trình tú tài vào năm 1941 tại Sài Gòn, Trần

Văn Khê nhận học bổng của chính phủ thuộc địa ra Hà Nội học đại học y khoa

(1941-1944). Chính vào thời gian này đã hình thành mối tâm giao về âm nhạc,

về trách nhiệm của thanh niên với nước nhà giữa ông với sinh viên – nhạc sĩ

Lưu Hữu Phước, người bạn học của ông ở trường trung học Trương Vĩnh Ký Sài

Gòn.

Từ năm 1944 – 1949, Trần Văn Khê vừa làm giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Cần Thơ, vừa làm ký giả báo Thần Chung và Việt Báo.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp với nhiệm vụ phóng viên, từ đó bắt đầu

quá trình học tập và làm việc lâu dài tại Pháp. Ông đã tốt nghiệp Trường Chính

trị Paris, Khoa quan hệ Quốc tế vào năm 1951.Vì bị bệnh nặng ông phải nằm

bệnh viện suốt ba năm sau đó. Ngay sau khi ra viện, Trần Văn Khê đã theo học

Khoa âm nhạc Đại học Paris và tháng 6 năm 1958 trở thành người Việt Nam đầu

tiên đậu bằng Tiến sĩ Nghệ thuật Âm nhạc tại Đại học Sorbonne hạng Tối ưu với

lời khen ngợi của hội đồng chấm thi. Luận án Tiến sĩ của Trần Văn Khê với đề

tài “ Âm nhạc truyền thống Việt Nam” trong đó nhấn mạnh đến âm nhạc Cung

đình Huế và Âm nhạc Tài tử miền Nam.

Từ sau khi đậu bằng Tiến sĩ về Âm nhạc học, Trần Văn Khê đã liên tục hoạt

động và có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá âm

nhạc dân tộc tại Pháp và hơn 20 trường đại học của các quốc gia trên thế giới:

+ Thành lập Trung tâm Học nhạc Đông phương tại Paris chuyên dạy các môn

âm nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón

(năm 1959). Tại đây, Trần Văn Khê làm nhiệm vụ Giám đốc Nghệ thuật và

chuyên dạy Đờn ca Tài tử ( tranh, kìm, cò) với sự cộng tác của hai con là Trần

Quang Hải và Trần Thị Thủy Ngọc. Suốt 30 năm, Trung tâm này đã đào tạo

được trên 150 sinh viên Pháp và các nước am hiểu về nhạc tài tử Việt Nam.

+ Làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp từ chức vụ khởi

đầu là tùy viên đến Giám đốc Nghiên cứu với chuyên ngành Ngôn ngữ Âm nhạc

Việt Nam, đặc biệt trong Đờn ca Tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole); So

sánh âm nhạc Đờn ca Tài tử với âm nhạc thính phòng của nhiều nước khác ở

châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông cổ, Ấn Độ, Indonesia, Mã

Lai, Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia, Lào, Philippin.

+ Với sự trợ giúp quốc tế, đã xuất bản (gần như đầu tiên) 1 đĩa hát về nhạc Cung

đình Huế và 1 đĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam – trong đĩa đó có bài Tứ đại oán và bài Vọng cổ.

+ Với chức vụ Nhà nghiên cứu âm nhạc quốc tế, Trần Văn Khê đã được mời

giảng dạy nhạc học trong chuyên khoa Dân tộc nhạc học của Đại học Sorbonne

Paris và nhiều đại học trên thế giới. Từ những năm 1968-1972 đặt trọng tâm

nghiên cứu các kịch nghệ châu Á như: Kinh kịch của Trung Quốc; Nôh, Kabuki

của Nhật Bản; Pansori (Hàn quốc); hát Chèo, hát Bội, hát Cải lương của Việt

Nam.

+ Đã có trên 200 bài viết về Âm nhạc Việt Nam và âm Nhạc châu Á được đăng

trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt là những bài viết của

Trần Văn Khê cho tờ Courrier de L’Unesco được dịch ra 14 ngôn ngữ khác

nhau.

+ Đã thực hiện 25 đĩa hát 33 vòng và CD về Âm nhạc Việt Nam và vài nước

châu Á để phổ biến trên thế giới.

+ Cố vấn đặc biệt cho Ủy ban Thành lập hồ sơ về Đờn ca Tài tử để gửi

UNESCO (đã góp ý sửa chữa một cách chính xác các cuộn phim về Đờn ca Tài

tử của Hồ sơ và cung cấp cho Ủy ban Hồ sơ những đĩa hát mang nhãn hiệu

Unesco trong đó có nhiều tiết mục Đờn ca Tài tử).

Từ năm 2006, Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê về ở hẳn trong nước. Chính quyền

thành phố Hồ Chí Minh đã bố trí căn nhà 32 Huỳnh Đình Hai quận Bình Thạnh

để ông sống, làm việc trong những năm cuối đời.

Tại đây, với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng

dĩa, Trần Văn Khê đã cùng các cán bộ của ngành văn hóa thành phố Hồ Chí

Minh và những người cộng sự gần gũi xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục

vụ cho nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc; đã cùng các cộng sự tổ chức hàng

trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng – nhất là công chúng

trẻ về âm nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều loại hình đặc trưng cho các vùng

miền; đã tiếp đón nhiều nhân vật chính trị, văn hóa, ngoại giao của Việt Nam và các nước. Nơi ở của ông gần 10 năm qua đã thực sự trở thành một địa chỉ văn

hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều người trong và ngoài

nước..

THÀNH TÍCH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê đã được tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng

của thế giới và Việt Nam vì tài năng và những đóng góp về âm nhạc dân tộc

mang tính quốc tế :

Trước 1975:

+ Huân chương Bội tinh hạng I.

+ Văn hóa Bội tinh hạng I.

Sau năm 1975:

+ Giải thưởng UNESCO – CIM về Âm nhạc (1981).

+ Huân chương Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hóa Pháp (1991).

+ Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Văn chương Nghệ thuật Châu Âu

(1993).

+ Giải thưởng Âm nhạc quốc tế Koizumi Fumio của Nhật Bản (1994).

+ Huân chương Hiệp sĩ Cành cọ Hàn lâm của Bộ Giáo dục Pháp (1999).

+ Huân chương Lao động Hạng Nhất của Việt Nam (1999).

+ Giải thưởng Vinh danh nước Việt (2003).

+ Giải thưởng Đào Tấn (2005).

+ Giải thưởng Quốc tế của San Francisco “Đã cống hiến trọn đời cho việc

nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam” (2011)

+ Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (2013).

+ Huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh (2013).

Đám cưới lại có ca trù

Đám cưới lại có ca trù

TP – Ca trù biểu diễn phục vụ đám cưới! Việc tưởng như không tưởng trong thời đại này vừa diễn ra tại một đám cưới theo phong cách truyền thống ở Hà Nội. Gần một thế kỷ qua, ca trù mới xuất hiện trở lại nơi đám cưới.
Ông Nguyễn Sỹ Tuyên ở số 125B phố Nguyễn Khuyến là người nảy ra ý định mời phường ca trù về hát tại đám cưới của con gái mình. Ông Tuyên chuyên sưu tập, nghiên cứu đồ cổ và chế tác đồ giả cổ.

dam-cuoi-co-ca-tru

Khách dự tiệc bước qua cái rạp chừng 10m2, vào nhà chính, ai cũng ngỡ ngàng bởi những vật dụng trong nhà ông như bàn, ghế, bình hoa, tủ đựng đồ, lục bình, sập tiếp khách… không màu nâu thì cũng có sắc vàng, đầy tinh thần hoài cổ.

Ông Tuyên chia sẻ việc mời nghệ nhân ca trù biểu diễn tại đám cưới của con gái mình: « Chúng tôi là những con người Việt Nam, từng nghe ông cha nói nhiều về loại hình văn hóa – hát ca trù. Trước khi giáo phường Thăng Long biểu diễn hôm nay, tôi đã mời họ về đây ít ngày để diễn như thật nhằm kiểm định chất lượng. Và tôi đã bị thuyết phục hoàn toàn bởi tiếng ca, nhịp phách mà các nghệ sĩ đem đến. Tôi không sử dụng âm nhạc hiện đại vì ít nhiều bị lai căng, ồn ào không đúng tính chất của một lễ trọng như đám cưới! ».

Trong tiệc cưới, các nghệ sĩ của giáo phường ca trù Thăng Long được bố trí ngồi trên một cái sập gần trung tâm của ngôi nhà. Quan khách dự tiệc ngồi sát nghệ sĩ biểu diễn.

Ranh giới giữa người diễn và người thưởng thức dường như không có, đặc biệt ca nương hát mộc mà không qua bất kỳ hệ thống xử lý âm thanh nào. Các nghệ sĩ sẽ cũng đối mặt trực tiếp với áp lực, nhất là khi gặp phải khán giả sành ca trù.

Vì họ sẵn sàng đưa ra những yêu cầu, thậm chí khen chê đào nương tại trận. Nếu ca nương không có nhiều vốn nghề, trải nghiệm và đủ tỉnh táo để đáp ứng được những « đơn đặt hàng » từ khán giả thì rất dễ « vỡ trận ».

Trước một không gian không theo ý mình, trong tiếng nói chuyện ồn ào của khách dự đám cưới, người qua kẻ lại…, ca nương vẫn phải tập trung vận khí để giọng hát vang và truyền tải được « cái hồn » của ca trù tới người thưởng thức.

Ca nương hát chính trong buổi diễn tại đám cưới kể trên là Phạm Thị Huệ và Phạm Thị Mận. Cả hai cô đào cũng như các nghệ sĩ giáo phường Ca trù Thăng Long biểu diễn tại đám cưới hôm đó, đã thể hiện được đẳng cấp cũng như tính chuyên nghiệp của mình.

Bởi lẽ, nhiều vị khách tới yêu cầu và « bắt bẻ » đào Huệ hát những bài được xem là kinh điển như: Kiếp nhân sinh (Nguyễn Công Trứ), Tự tình (Cao Bá Quát), Đào Hồng đào Tuyết (Dương Khuê), Gặp xuân (Tản Đà), Duyên nợ (Nguyễn Khuyến)…

Bằng kinh nghiệm và tài năng, họ đã đem đến những bản ca trù rất có hồn bằng một giọng thanh, cao, vang, ém hơi nhả chữ thuần thục. Hát tròn vành rõ chữ, nảy hạt, đổ con kiến đâu ra đấy. Các ca nương vừa hát vừa gõ phách, tiếng phách vừa chắc vừa giòn, lời ca và tiếng phách ăn khớp khiến cho quan khách bị thu hút, lắc lư theo.

Sau buổi diễn, ông Đinh Trọng Cân – giám đốc một công ty vận tải bày tỏ: « Ca trù hay thật. Trước đây tôi chỉ được nghe trên sóng phát thanh, giờ mắt thấy tai nghe lại càng thấm thía ».

Anh Nguyễn Xuân Thủy, một trí thức trẻ thì nói: « Đây là lần đầu tiên tôi được nghe hát ca trù trực tiếp. Hay và ý nghĩa hơn khi tiếng hát, nhịp phách ca trù lại vang lên ở trong không gian là buổi tiệc cưới. Tuy nhiên tôi thấy hơi tiếc, bởi nếu sắp xếp chương trình ở một không gian tách biệt thì sẽ chất lượng hơn, tránh được tiếng ồn ào, đúng với tính chất của ca trù. Dù sao nên nhân rộng cách làm này để bảo tồn và phát huy ca trù ».

Khoảng 70 năm trước, nghệ nhân Phạm Phú Đệ (90 tuổi) thầy của đào Huệ cũng từng đi đàn hát đám cưới, khao vọng thời đó. Nghĩa là, trải qua gần một thế kỷ, ca trù mới xuất hiện trở lại nơi đám cưới. Có thể thấy đây là tín hiệu đáng mừng, vì ca trù xem ra đã bắt đầu trở lại với đời sống của người dân Hà thành.

Sự tái hợp này không chỉ góp phần tiếp sức cho ca trù mà còn là cơ hội để nhiều khán giả được tiếp xúc với loại hình âm nhạc vẫn đang trong nguy cơ thất truyền này.

http://catruthanglong.com/vi/Tin-tuc/dam-cuoi-lai-co-ca-tru.html