LÔ VIẾT THẮNG : Nghệ thuật hát Then của người Tày Cao Bằng

Nghệ thuật hát Then của người Tày Cao Bằng

Chủ nhật 30/12/2012 14:00

Có thể nói, nghệ thuật dân gian ở Cao Bằng là một kho tàng phong phú, nhiều thể loại, trong đó, nổi bật nhất khi nói đến nghệ thuật dân gian của người Tày phải kể đến: Nghệ thuật hát Then, cây đàn tính, hát lượn…

Hát Then mang giá trị nghệ thuật độc đáo.

Nói đến sinh hoạt nghệ thuật của các dân tộc vùng miền núi Tây Bắc, Việt Bắc là phải nói đến Then. Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca, nhạc, múa và diễn trò. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, « Then » tiếng Tày tức là « thiên », chỉ trời. Vì thế, hiểu theo ngôn ngữ dân tộc thì điệu hát Then được coi là điệu hát thần tiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin điều gì đó. Không những Then có ở Cao Bằng mà hát Then còn có ở nhiều tỉnh khác, như: Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang. Ở Cao Bằng, hát Then có những nét riêng trong sự tương đồng của hát Then. Then Hòa An khác với Then ở các huyện miền Tây về phong cách âm sắc và làn điệu, điểm khác rõ nhất là Then Hòa An êm ái hơn so với Then miền Đông. Đặc điểm nổi bật của hát Then Cao Bằng là tính nhân dân của nó. Then được hát ở nhiều nơi, nhiều lúc, người ta hát trong nghi lễ, trong sinh hoạt, nam cũng như nữ, rất nhiều người biết đàn và hát rất điệu nghệ. Hát Then đã thành một yêu cầu quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Tày ở vùng này.

Nguồn gốc hình thành hát Then hiện nay chưa xác định được, nhưng theo lời truyền văn của các nghệ nhân ở nhiều nơi thì Then có xuất xứ từ Cao Bằng. Người ta cho rằng ông Bế Văn Phụng và ông Nông Quỳnh Văn là người sáng tạo ra thể loại này, nghệ thuật được ra đời dưới triều nhà Mạc (1594 – 1677). Then, giàng là hai phường hội hát vui phục vụ cung đình, giải sầu cho vua Mạc Kính Cung, sau này trở thành tục cúng lễ.

Thủy tổ của phường hát then là ông Tư thiên quản nhạc, tên là Bế Văn Phụng, người làng Bản Vạn, xã Nhượng Bạn, châu Thạch Lâm, nay là xã Bế Triều, huyện Hòa An. Nông Quỳnh Văn ở xã Nga Ổ (nay thuộc xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh), tục gọi là “Vua Ca đáng”. Theo một số công trình nghiên cứu Then ở Cao Bằng thì: ông không làm quan, nhưng kết bạn và giao ước với Bế Văn Phụng mỗi người lập ra một phường hát. Ông Quản nhạc lập ra phường Then nữ, còn ông Quỳnh Văn lập ra phường giàng nam hát rồi tuyển trai xinh, gái đẹp làm diễn viên tập luyện, khi thuần thục rồi được vua Mạc Kính Cung mời vào chầu múa, hát cho vua xem, được vua khen và từ đó lan truyền mãi trong dân.

Cả Then và giàng đều là các phường hát mua vui, khi hát đều có đàn tính đệm theo, một thứ nhạc cụ độc đáo của dân tộc Tày. Nhưng để phân biệt rõ là nam hay nữ người ta dùng từ “giàng” để chỉ nam hát, từ “then” để chỉ giọng nữ hát. Hai từ then và giàng còn chỉ rõ, xác định về âm điệu, tiết tấu, phong cách diễn của hai hệ khác nhau, kể cả nhạc cụ dân gian, nên đã có câu: “Tính vử tính sam sai – soong sai lẻ tính giàng” (có nghĩa là: Đàn tính của bụt là ba dây – đàn tính hai dây là đàn của giàng).

Hệ giàng thuộc miền Đông gồm ba vùng: Trùng Khánh, Quảng Uyên, Hạ Lang. Vùng trung tâm là Trùng Khánh quê hương ông vua Ca đáng Quỳnh Văn. Từ “then” để chỉ nữ hát. Hệ Then miền Tây Cao Bằng (then nữ) gồm ba vùng: Hòa An, Thạch An, Hà Quảng. Then Hà Quảng ảnh hưởng Then Hòa An. Vùng Then Hòa An được xác định là vùng trung tâm vì là quê hương của ông Tư Thiên quản nhạc Bế Văn Phụng. Then (vỉt) Hòa An nổi tiếng trong dân gian từ rất lâu bởi giọng Then nữ có tính chất trữ tình, đường nét mềm mại, uyển chuyển, thiết tha. Then là loại hình nghệ thuật vừa có yếu tố hiện thực sinh hoạt quần chúng, vừa mang tính chất hoạt động tín ngưỡng nghi lễ.

Hát Then với nhạc cụ đàn tính biểu hiện hình tượng âm thanh, âm điệu độc đáo của nền dân ca dân tộc Tày được bà con yêu thích vì nó mang yếu tố âm nhạc dân gian, nó tồn tại mãi với thời gian. Cái hay của Then là giọng hát hay, tiếng đàn du dương, dìu dặt, mà lời cứ êm ru, ngọt ngào nói lên được tiếng nói của quần chúng nhân dân. Then có tình tiết phong phú, có những ảnh hưởng quen thuộc, có nhiều tứ đã thành ước lệ. Hát then là loại hình dân ca mang tính chất tổng hợp của nhiều hình loại. Xuất xứ thủa xưa là lối kể chuyện bằng văn vần, dùng đàn để nâng đỡ lời ca, ở giai đoạn đầu sự hình thành bước đầu của Then về giai điệu, tiết tấu, lời Then còn đơn giản, hầu như chưa thoát khỏi âm thanh ngôn ngữ bình thường, dần dần các yếu tố như sinh hoạt, tập quán, ngôn ngữ được phát triển, đưa Then tới mức phát triển hơn. Dần dần, hát Then đạt tới trình độ điêu luyện qua những người trí thức chuyên nghiệp kết hợp với nghệ sĩ dân gian.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám (1945) trở về đây, hát Then được biến hóa gọi là Then mới; nhất là từ năm 1960 đến nay, âm nhạc Then và giàng biến hóa dần theo phương châm dân tộc, khoa học và đại chúng; do nhu cầu phản ánh cuộc sống mới đã có nội dung mới, âm nhạc mới. Then là một sinh hoạt văn hóa dân gian đã xuất hiện từ lâu đời, từ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, đã có quá trình phát triển và đang tồn tại. Then tồn tại vì tính nhân dân của những khúc hát Then, của cây đàn tính, của những sinh hoạt văn hóa thỏa mãn nhu cầu quảng đại nhân dân.

Hát Then đã đi qua những bước phát triển từ xa đến gần, từ đơn giản đến phức tạp để có những tinh hoa nghệ thuật góp phần xây dựng nền nghệ thuật dân tộc chung hòa hợp với cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Lô Việt Thắng

Độc đáo điệu Then Tuyên Quang

02/07/2012
Độc đáo điệu Then Tuyên Quang

Đồng bào dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang có 160 nghìn người, chiếm 24% dân số. Về văn nghệ dân gian, người Tày có chuyện kể truyền miệng, âm nhạc, múa, ca dao, hát lượn, hát ru… nhưng đáng chú ý nhất vẫn là hát Then- “món ăn” tinh thần, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt văn hoá cộng đồng dân cư và đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Nguồn gốc điệu Then

Ông Ma Văn Đức, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang- Chủ nhiệm đề tài “Then Tày Tuyên Quang” cho biết: Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của dân tộc Tày. Then xuất phát từ chữ “Thiên” – tức là Trời. Bởi vậy, điệu hát Then vẫn được người Tày tỉnh Tuyên Quang coi là điệu hát thần tiên.

Cũng theo ông Đức, nguồn gốc của hát Then tỉnh Tuyên Quang hiện chưa có sự thống nhất. Theo như cố nghệ nhân Hà Phan, xã Tân Mỹ, huyện Chiêm Hóa, Then xuất hiện từ thời nhà Mạc. Quân nhà Mạc thua trận, Vua suy nghĩ quá nhiều sinh ốm. Các quần thần biết Vua ốm do tư tưởng chứ không phải do bệnh tật nên cử đội nhạc hát cung đình tổ chức múa hát Then suốt 3 ngày 3 đêm, Vua thấy vui và khỏi bệnh. Từ đó ai ốm đều tìm những người biết hát múa Then đến biểu diễn… Còn theo cố nghệ nhân Ma Thanh Cao, xã Tri Phú, huyện Chiêm Hóa, hát Then có từ thế kỷ thứ VIII…

Dẫu chưa có sự thông nhất về nguồn gốc, nhưng trong nhiều thế kỷ qua, hát Then là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang. Theo điều tra khảo sát của tỉnh Tuyên Quang, vùng hát Then hiện tập trung chủ yếu ở các huyện Chiêm Hoá, Nà Hang, Lâm Bình và một số xã của các huyện Sơn Dương, Yên Sơn và Hàm Yên. Trong đó, số người biết hát Then theo nghi lễ phong tục cổ truyền toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có 21 người; số người biết hát Then theo lời mới, từ phong trào văn nghệ quần chúng có 72 người (50 nam, 22 nữ)… Then ra đời trong lao động sản xuất, từ nhu cầu đời sống tinh thần và tín ngưỡng phản ánh trí tuệ, nhận thức, tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, phong tục tập quán, là tiếng nói của nhân dân lao động, chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng, tình yêu lứa đôi, tình yên thiên nhiên, tình yêu lao động, đề cao giá trị đạo đức lối sống…

Điệu hát mượt mà, đằm thắm

Theo nghệ nhân Hà Thuấn, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa – người dân tộc Tày đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phong tặng nghệ nhân văn hóa dân gian, cho biết: Then Tuyên Quang có đặc trưng là giai điệu mượt mà, đằm thắm và mở đầu câu hát bao giờ cũng có từ « ới la ». Từ “ới la” có nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật. Cấu trúc âm nhạc của Then Tuyên Quang là các quãng âm nhạc gần nhau hơn tạo âm hưởng đầm ấm của con người xứ Tuyên. Then Tuyên Quang có một số làn điệu cổ như Then cấp sắc công nhận một người đủ điều kiện làm thầy cúng, lo việc tâm linh của bản làng; Then kỳ yên (cầu điều lành và điều tốt) và Then lễ hội.

Theo giải thích của ông Thuấn, Then kỳ yên có nội dung chủ yếu, cầu chúc, chữa bệnh. Lễ cầu yên được tổ chức vào dịp cuối năm hoặc đầu năm tùy thuộc vào từng nơi để thiết đãi tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ: Hộ cho tín chủ bình yên/ Sống lâu trường thọ xiên niên tuổi già/…Từ nay phúc lộc hữu dư/Vinh hoa phú quý xuân, thu, đông, hè. (bài “Phủ đẳm tiên”).

Còn Then lễ hội thiên về giải quyết tinh thần cho vui vẻ, xua tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống để thỏa mãn ước vọng con người và muôn vật sinh linh. Nhóm khúc hát này thường gặp là Then lễ vào nhà mới, cấp sắc, cầu mùa, lễ cốm… với mong muốn cầu mong mùa màng tốt tươi, mong thần Nông mưa thuật gió hòa.

Một điều đáng chú ý nữa, theo các nghệ nhân, Then là tổng hợp các bộ môn văn học, nghệ thuật dân gian. Trong then có các thể loại truyện (thần thoại, cố tích, truyền thuyết, ngụ ngôn). Nhiều tích truyện có nội dung giải thích nguồn gốc một sộ sự vật, hiện tượng về vũ trụ, thiên nhiên… cách giải thích đơn giản, mộc mạc, nhưng khá ly kỳ, phản ánh thế giới quan của người Tày xưa.

Theo thầy Then Hà Ngọc Vịnh, huyện Chiêm Hóa, ngày xưa, hát Then chỉ dùng để cúng bái, giao tiếp với thần linh trong các cuộc lễ như: lễ khẩu mẩu (lễ cốm), lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa… người ta có thể hát cả giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm. Còn bây giờ ngoài những làn điệu Then cổ còn giữ lại thì các bài Then mới chủ yếu là bài hát ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động.

Ông Nguyễn Vũ Phan, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang cho biết: Hát Then là món ăn tinh thần, nó đã được ngấm vào máu và hồn của người Tày. V iệc Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý về chủ trương với đề nghị của tỉnh Tuyên Quang về việc lập hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu hát Then của dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang và một số tỉnh khu vực Việt Bắc để đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đ ây thực sự là cơ hội lớn để hát Then của dân tộc Tày nói chung và ở Tuyên Quang nói riêng được cả thế giới biết đến, là cú huých cho phát triển du lịch. Cũng theo ông Phan, trong thời gian tới, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang sẽ làm việc với ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang để giới thiệu bộ môn hát Then vào các trường học, bảo đảm thế hệ trẻ là người dân tộc Tày, Nùng, Thái được tiếp thu làn điệu Then, góp phần tích cực đưa hát Then sống trong lòng quần chúng nhân dân. Đồng thời, tổ chức sưu tầm, tập hợp tư liệu, sách cổ về hát Then đang lưu giữ trong nhân dân để dịch ra tiếng phổ thông làm tài liệu tuyên truyền…/.

(Theo TTXVN)

[TT: NTV]

http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=Print&mid=6036

TÌM HIỂU CHUNG VỀ HÁT THEN

Transcription de HÁT THEN TUYÊN QUANG

HÁT THEN Ở
1. TÌM HIỂU CHUNG VỀ HÁT THEN.
1.1. Hát Then là gì?
“Then” theo tiếng đồng bào dân tộc là Thiên tức là Trời, vì
thế hiểu theo ngôn ngữ dân tộc thì điệu hát Then được coi là
điệu hát thần tiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc
tín ngưỡng thuật lại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu
xin một điều gì đó.

Hát then là một thể loại ca nhạc tín ngưỡng của người Tày, Nùng.
1.1.1. khái niệm

cô gái Tày
1.1.2. Nguồn gốc
nội dung
Tìm hiểu chung về hát Then
1.
Hát Then ở Tuyên Quang
Bảo tồn và phát huy Hát Then ở Tuyên Quang
3.

Nguồn gốc của hát Then hiện chưa có sự thống nhất
Then xuất hiện từ thời nhà Mạc.
Then xuất hiện từ thời Hùng Vương…..
Then bắt nguồn từ niềm tin « vạn vật hữu linh » và chính từ cuộc sống lao động tập thể cộng đồng người Tày cổ
Có ở 5 tỉnh miền núi Việt Bắc
Cao Bằng
Then Cao Bằng dìu dặt tha thiết
Lạng Sơn
Then Lạng Sơn tươi vui, rộn ràng
Bắc Kạn
Then Bắc Kạn như chuyện kể thầm thì
Tuyên Quang
Then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận
Hà Giang
Then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một
Hiện tại đã xuất hiện ở Tây Nguyên khi người Tày và người Nùng di cư đến.
1.3. Phân bố
2.
1.2. Đặc điểm của hát Then

1.2.1. Nội dung hát Then
Theo quan niệm của người Tày có ba tầng trời, mỗi Mường đều có người sinh sống, trần sao âm vậy và họ tin khi tiếng đàn tính cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc hành trình với từng đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời
3.1. Thực trạng hát Then trong cộng đồng người Tày, Nùng
3.2. Bảo tồn và phát huy hát Then

Hát Then – món ăn tinh thần của người Tày, Tuyên Quang

Hát Then – món ăn tinh thần của người Tày, Tuyên Quang

10 Tháng Mười 2012

(TQ- DTV) – Không biết từ bao giờ mà hát Then đã trở thành món ăn tinh thần, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt văn hoá của người Tày ở Tuyên Quang.

Đặc sản văn hóa dân gian

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hầu như huyện nào, nơi nào cũng có hát Then, nhưng vùng hát Then đậm đặc, được duy trì và bảo tồn nguyên giá trị chủ yếu ở các huyện Chiêm Hóa, Nà Hang và Lâm Bình.

Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của dân tộc Tày. Then xuất phát từ chữ “Thiên” – tức là Trời. Bởi vậy, điệu hát Then vẫn được người Tày tỉnh Tuyên Quang coi là điệu hát thần tiên và thường được sử dụng trong các nghi lễ: Cầu mùa, cầu yên, cấp sắc…

Nguồn gốc của hát Then hiện chưa có sự thống nhất. Có người thì cho rằng Then xuất hiện từ thời nhà Mạc. Quân nhà Mạc thua trận, Vua suy nghĩ quá nhiều sinh ốm. Các quần thần biết Vua ốm do tư tưởng chứ không phải do bệnh tật nên cử đội nhạc hát cung đình tổ chức múa hát Then suốt 3 ngày 3 đêm, Vua thấy vui và khỏi bệnh. Từ đó ai ốm đều tìm những người biết hát múa Then đến biểu diễn… còn theo người già kể lại và sách chép ra của người đã quá cố, những người am hiểu về Then, như cố nghệ nhân Ma Thanh Cao, ở xã Tri Phú, cố nghệ nhân Hà Phan, ở xã Tân An (Chiêm Hóa), ông Nguyễn Mạnh Thẩm, ở xã Thanh Tương (Nà Hang), thì Then xuất hiện từ thời Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII)… Dẫu chưa có sự thông nhất về nguồn gốc, nhưng trong nhiều thế kỷ qua, hát Then là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang.

Hát then là món ăn tinh thân không thể thiếu của người dân tộc Tày

Ngôn ngữ – lời then, mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường, sử dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Nội dung các khúc hát then đều toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên (mong muốn nhân an vật thịnh, cầu cho mưa thuận gió hòa, con người mạnh khỏe, mùa màng tươi tốt…), tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước… giai điệu mượt mà, sâu lắng, âm hưởng mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

Then có đặc trưng là giai điệu mượt mà, đằm thắm và mở đầu câu hát bao giờ cũng có từ « ới la ». Từ “ới la” có nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật. Cấu trúc âm nhạc của Then Tuyên Quang là các quãng âm nhạc gần nhau hơn tạo âm hưởng đầm ấm của con người xứ Tuyên.

Có thể thấy trong Then Tày nói chung và Then Tày Tuyên Quang nói riêng, không chỉ có các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp thi pháp, tu từ, ẩn dụ… của nghệ thuật ngôn từ; tìm thấy những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất; những điệu múa đã song hành với hát then không biết bao năm tháng. Vì thế mà Then là một kho tàng quý báu tàng trữ những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của ông cha.

Then kỳ yên và Then lễ hội

Nội dung hát Then Tuyên Quang được chia thành hai nhóm: Then kỳ yên và Then lễ hội. Theo thống kê chưa đầy đủ của nhóm khảo sát Bảo tàng Tuyên Quang, Then kỳ yên và Then lễ hội gồm khoảng 60 bài Then cổ, cung, phủ được sử dụng hát trong các nghi lễ. Nhóm Then kỳ yên (đồng bào Tày thường gọi là làm then) được sử dụng trong các nghi lễ: Cúng cầu yên (yên lành), cầu chúc (chúc phúc, chúc năm mới), chữa bệnh… Then kỳ yên phải trải qua nhiều công đoạn gồm: Cung thổ công, cung phát pang (phát lễ cho họ nội, ngoại), cung thần linh, cung mồ mả, cung vua bếp (táo quân), cung tổ tiên (gia tiên), cung bắc cầu, cầu va (cái cẩu cầu va), cung mụ, cung giải hạn (me khoăn) – cầu mong tránh khỏi tai họa, phủ hội đồng, cung tam bảo, cung vua, cung khảm hải (vượt biển). Then kỳ yên bao giờ cũng tổ chức vào ban đêm yên tĩnh, khi mọi sự sống đã lắng đọng vào giấc ngủ, chỉ còn vang vọng tiếng hát của then, giúp mọi người nghe và cảm nhận từng lời hát một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất.

Nhóm Then lễ hội là những khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm phấn chấn, vui vẻ, xua tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống, lao động sản xuất để thỏa mãn ước vọng về một cuộc sống đầy đủ hơn, muôn vật sinh linh. Nhóm Then lễ hội thường được sử dụng trong các nghi lễ: Lễ cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ cấp sắc, lễ cốm. Then lễ hội gồm nhiều cung, phủ: Giải uế, khảm hải (vượt biển), tứ bách hoặc phủ thu quạt, pụt luông (chúa của thần nông), nhà phép, hội đồng, tam bảo, chợ tam quang, vua cha…

Bên cạnh đó, có thể nói Then còn là tổng hợp các bộ môn văn học, nghệ thuật dân gian. Trong then có các thể loại truyện (thần thoại, cố tích, truyền thuyết, ngụ ngôn). Nhiều tích truyện có nội dung giải thích nguồn gốc một sộ sự vật, hiện tượng về vũ trụ, thiên nhiên… cách giải thích đơn giản, mộc mạc, nhưng khá ly kỳ, phản ánh thế giới quan của người Tày xưa.

Ngày xưa, hát Then chỉ dùng để cúng bái, giao tiếp với thần linh trong các cuộc lễ như: lễ khẩu mẩu (lễ cốm), lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa… người ta có thể hát cả giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm. Còn bây giờ ngoài những làn điệu Then cổ còn giữ lại thì các bài Then mới chủ yếu là bài hát ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động.

Hát Then Tuyên Quang và các tỉnh vùng Việt Bắc đang được chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là cơ hội lớn để di sản văn hóa dân tộc Tày Tuyên Quang được cả thế giới biết đến. Song cũng đặt ra đối với Tuyên Quang những thách thức không nhỏ trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật di sản văn hóa dân gian độc đáo này.

 

Xem thêm

http://dantocviet.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=60847&sitepageid=81

Hát Then – điệu hát “thần tiên” của đồng bào Tây Bắc

Hát Then – điệu hát “thần tiên” của đồng bào Tây Bắc

Theo quehuongonline.vn

Hình ảnh của Hát Then - điệu hát “thần tiên” của đồng bào Tây Bắc

Hát Then là văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái vùng Tây Bắc. Then có thể hiểu là Thiên tức là Trời, vì thế điệu hát Then vẫn được người Tày, người Nùng, người Thái coi là điệu hát thần tiên.

Di sản đặc sắc

Hát Then là một loại hình nghệ thuật dân gian diễn xướng nguyên hợp, vừa bao gồm nhiều yếu tố văn hoá – nghệ thuật, vừa mang cả yếu tố tâm linh. Hát Then gắn bó khá sâu sắc với đời sống tinh thần và tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái tại một số tỉnh Tây Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh…. Xuất xứ nguồn gốc của Then là từ tín ngưỡng của đồng bào về một thế giới thần bí, nơi đó có những nhân vật và sức mạnh diệu kỳ như: Bụt, Giàng, Trời, mà chỉ có bà Then, ông Then mới có đủ bản lĩnh và khả năng đến được thế giới đó. Khi các bà Then, ông Then này dâng lên Mường Trời những sản vật của con người thì họ hát. Lúc đầu hát Then chỉ có một người: tay đệm đàn, miệng hát, chân sóc nhạc. Chính lời bài hát Then, hoà trong nhịp đàn tính dìu dặt, cùng tiếng xóc lúc khoan nhịp, lúc dồn dập sẽ đưa bà Then, ông Then đến với Mường Trời để cầu xin các vị thần linh cứu giúp con người. Do đó, người hát Then trong những dịp lễ, tết là những người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no, hạnh phúc.

Hát Then không chỉ là một làn điệu dân ca thông thường mà nó còn tổng hòa nhiều môn nghệ thuật và phong tục khác như hát, múa, đàn và giao duyên.

Lời hát Then vốn là những câu chữ được dân gian chắt lọc, gọt giũa, vừa là những câu thơ trữ tình, giàu nhạc điệu, vừa là lời khuyên răn, khích lệ, vừa là những kinh nghiệm về đối nhân xử thế… Cho nên khi giới trẻ lắng nghe những lời hát Then sẽ chắt lọc được những bài học quí về cuộc sống, về cách ứng xử với thiên nhiên và mọi người xung quanh. Ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát Then khác nhau, nhưng nhìn một cách tổng thể, Then có một số loại hình thể hiện với những chức năng chính sau: Then Kỳ Yên (cầu an), Then cầu mùa, Then chúc tụng, Then chữa bệnh, Then cấp sắc (Lẩu Then).

Thế hệ trẻ tiếp nối nghệ thuật hát Then- đàn Tính của cha ông

Để lời ca, tiếng hát Then thấu tới cả cõi Trời còn có sự góp mặt của âm thanh từ chiếc đàn Tính. Nói đến hát Then người ta không thể quên vai trò của chiếc đàn này. Bầu của chiếc đàn Tính được làm bằng quả bầu khô, hai dây tơ được chuốt từ ruột tằm. Bầu đàn được hình dung như quả đất, nối với cần đàn, đầu đàn- coi như trời, như thiên đường. Vì thế, người Tày có câu tục ngữ: « Ðàn Tính ba năm, kéo Nhị ba buổi », với hàm ý nghe một lần kéo nhị chỉ nhớ ba ngày, còn nghe một lần đàn Tính thì nhớ đến ba năm.

Tiếng trầm bổng ngân nga từ cây đàn tính quyện với những lời ca, tiếng hát của Then như đưa ta vào một thế giới hư ảo, huyền bí. Lời then lúc thủ thỉ, sôi động, lúc lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi đoạn một tâm trạng, một sắc thái. Có khi căng thẳng, lo lắng, có khi hồ hởi, vui tươi, tiếng đàn, tiếng hát quyện với nhau lung linh huyền diệu.

Thách thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của hát Then

Hát Then là sản phẩm sáng tạo của rất nhiều thế hệ đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái. Trải qua thời gian, hát Then đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Loại hình nghệ thuật này luôn có sức sống mãnh liệt trong đời sống đồng bào và cũng là niềm tự hào của các dân tộc này… Hiện nay, một số đồng bào người Tày, Nùng, Thái ở khu vực phía Bắc, di chuyển đến sinh sống ở những vùng quê mới ở các tỉnh phía cực Nam của Tổ quốc đã mang theo nghệ thuật truyền thống này và ở đó, hát Then – đàn Tính đã có sức sống của nó.

Tuy nhiên, trên thực tế, hát Then cũng như nhiều di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đứng trước nguy cơ mai một nghệ nhân, thiếu người kế cận. Đặc biệt chúng ta không tranh thủ khai thác các nghệ nhân còn giữ được làn điệu Then cổ để truyền dạy cho thế hệ sau thì giá trị đặc sắc của nghệ thuật này sẽ bị mai một. Một thực tế cũng đáng buồn là ở hầu hết các bản làng vùng cao giờ đây chỉ còn các nghệ nhân cao tuổi đánh được đàn Tính, thuộc nhiều bài hát Then, còn thế hệ trẻ thì chỉ biết qua loa hoặc không mấy quan tâm. Các nghệ nhân còn lưu giữ được những bài hát Then cổ là rất hiếm.

Ông Nguyễn Vũ Phan, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tỉnh Tuyên Quang, tâm sự: Sở VHTTDL Tuyên Quang cũng như cá nhân ông rất lo lắng vì chứng kiến cảnh hát Then đang dần bị quên lãng ngay trên quê hương mình. Để cứu vãn, hàng năm tỉnh tổ chức nhiều lớp học dành cho con em dân tộc Tày, Nùng ở địa phương và mời các nghệ nhân đến để dạy, nhưng cũng chả được mấy người theo, nhất là những người trẻ. Riêng tỉnh Tuyên Quang có tất cả 4 nghệ nhân nắm giữ làn điệu Then cổ thì đã mất đi 2 người. Hát Then giờ cũng bị trẻ hóa rất nhiều. Lời Then giờ đa phần được đặt lại. Lời cổ không còn mấy người giữ. Đáng lo ngại hơn là một bộ phận người dân tộc Tày không còn nói được tiếng mẹ đẻ. Thực trạng này là thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Then.

Ở Lạng Sơn, theo ông Hoàng Thành Khởi, Trưởng phòng Văn hóa Thể thao huyện Văn Quan (Lạng Sơn), cho biết đã mấy lần làm đề án bảo tồn hát Then nhưng rồi phải bỏ ngang vì thiếu kinh phí, nhưng nếu có tiền cũng không có người truyền dạy. Xã Bình Phú, nơi hiếm hoi của tỉnh còn duy trì được đội hát Then truyền thống thì mỗi năm đội văn nghệ xã cũng chỉ biểu diễn được 3 – 4 buổi.

Không riêng gì Lạng Sơn, Tuyên Quang mà các tỉnh khác có nghệ thuật hát Then như Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Đắk Lắk… đều có chung số phận.

Về yêu cầu đặt ra đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Then, ông Nguyễn Vũ Phan cho biết: Yếu tố quyết định là phải coi trọng vai trò của các nghệ nhân, hạt nhân văn hóa dân tộc Tày. Từ trước tới nay, mới chỉ là sự coi trọng về mặt tinh thần, động viên, cổ vũ, đến giờ cần phải quan tâm vật chất, dành một phần kinh phí thỏa đáng hỗ trợ hoạt động của các nghệ nhân để họ truyền dạy làn điệu Then cho thế hệ trẻ và đào tạo người kế nghiệp. Không ai có thể thay các nghệ nhân đào tạo người kế nghiệp mà phải do chính các nghệ nhân đảm nhiệm. Đồng thời, hằng năm các địa phương cần tổ chức hội nghị tôn vinh các nghệ nhân, hạt nhân văn hóa dân gian để động viên, cổ vũ những người có đóng góp tích cực đối với đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Ở góc độ nghệ nhân, bà Võ Thị Thi (bản Sầm, xã Bình Phú, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn) mong muốn: Nhà nước sớm có chính sách đãi ngộ thỏa đáng với nghệ nhân để họ yên tâm truyền dạy, bồi dưỡng cho các thế hệ sau.

Nhạc sỹ Lương Nguyên, người từng làm Tổng Đạo diễn Liên hoan hát Then – đàn Tính, nhấn mạnh: Muốn bảo tồn hát Then phải để cho nó được sống trong cộng đồng. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ giữ vai trò định hướng chứ không thể làm thay.

http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/4217-hat-then-dieu-hat-than-tien-cua-dong-bao-tay-bac.aspx

Hát then, đàn Tính – “đặc sản văn hóa dân gian”

Hát then, đàn Tính – “đặc sản văn hóa dân gian”
Hát then không biết có nguồn gốc xuất xứ từ thời gian nào, chỉ biết là nó tồn tại lâu đời trong đời sống xã hội. Hát then không những là loại hình văn hoá, văn nghệ đặc sắc mà còn gắn một phần tâm linh trong đời sống xã hội.
Hát Then là loại hình nghệ thuật văn hoá dân gian luôn có sức sống khá mạnh mẽ trong đời sống cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Thái… Ngày ngày đi lên nương làm rẫy, đêm đêm lại quay quần bên bếp lửa cùng nhau hát lên những bài Then cổ như Cốc tính, Sự tích mác ngỏa, then kì yên giải hạn, cáp tơ hồng…Hát then là loại hình văn hoá phi vật thể vừa mang tính động, hàm chứa tính nhân văn cao, mang âm hưởng của loại hình văn hoá dân gian và gắn liền với từng bản sắc dân tộc.
Trải qua thời gian, những sản phẩm văn hóa này đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng báo các dân tộc miền núi phía Bắc. Hát Then luôn có sức sống mãnh liệt trong đời sống nhân dân. Là niềm tự hào đối với người dân tộc Tày, Nùng, Thái. Hát Then là nghệ thuật có sức lan toả mạnh mẽ. Hiện nay, một số đồng bào người Tày, Nùng, Thái ở khu vực phía Bắc, chuyển đến sinh sống ở những vùng quê mới ở các tỉnh phía cực Nam của Tổ quốc đã mang theo nghệ thuật truyền thống này và ở đó, hát Then – đàn Tính đã có sức sống của nó.
Hòa trong vẻ đẹp hùng vĩ của rừng núi điệp trùng là hình ảnh các chàng trai, cô gái Tày trong trang phục dân tộc áo chàm váy tơ, tay cầm đàn tính, nô nức say mê xướng lên những câu hát then trong trẻo, vi vút cùng mây gió. Với người Tày, then không chỉ là khúc hát đầu xuân cầu an lành, may mắn mà còn gắn liền với sinh hoạt tín ngưỡng trong năm. Then có nghĩa là “thiên”, người Tày quan niệm khúc hát then là khúc hát thần tiên, là cầu nối tâm linh chở theo lời thỉnh cầu, mong ước của con người thấu tới tai thần thánh.
Vì thế, mỗi dịp người Tày cúng cầu an, giải hạn, cúng tổ tiên, hay mừng nhà mới, mừng thọ ông bà, cha mẹ… đều không thể vắng bóng những giai điệu then mượt mà. Không gian Việt Bắc chính là nơi tổng hòa của nhiều vùng then nức tiếng cả nước như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang. Giống như mỗi nốt nhạc trong một bản nhạc, từng vùng then lại góp vào những giai điệu, cách thể hiện rất riêng.
Nếu then Lạng Sơn da diết, đằm thắm; then Hà Giang chậm rãi, dìu dặt; then Bắc Cạn thủ thỉ tâm tình; thì then Tuyên Quang lại dồn dập, mạnh mẽ như tiếng trống xuất quân… Tất cả quyện lấy nhau, mang theo từng cung bậc cảm xúc, hòa cùng tiếng suối đại ngàn tuôn chảy dạt dào qua bao thế hệ.
Người Tày vẫn hay rỉ tai kể cho nhau nghe truyền thuyết xa xưa về cây đàn tính: vốn đàn có chín dây, mỗi khi cất lên, tiếng đàn lại làm ngẩn ngơ muông thú cỏ cây, đến nỗi “Cá nghe chết chín đoạn suối. Chuột nghe chết mười quãng rừng. Trai gái nghe chết chín cõi lòng” (Trích bài “Thau tính”), nên Ngọc Hoàng đã tước bớt số dây đi, chỉ để lại hai đến ba dây như bây giờ.
Nhưng không vì thế mà những thanh âm của đàn tính mất đi sức ám ảnh, mê hoặc lòng người. Hòa theo điệu đàn cao vút, ngân xa, lời hát của những ông then, bà then như đưa người nghe lạc vào không gian nguyên sơ của rừng núi từ thuở hồng hoang, cùng gia nhập đoàn quân hùng hậu với cả binh tướng, ngựa xe, vũ khí rầm rập tiến lên trời gặp thánh thần giải trừ kiếp nạn.
Trên hành trình từ cõi Mường đất lên cõi Mường trời, có biết bao gian truân, thử thách mà đoàn quân phải vượt qua. Lời then, tiếng tính lúc gấp gáp, khẩn trương khi phải băng rừng, lội suối; lúc quyết liệt, dứt khoát khi phải đương đầu với giặc cướp hung hăng; lúc da diết, xót xa khi gặp phải những thân phận éo le, cùng quẫn; lúc lại tha thiết ngọt ngào khi phải cầu xin người lái đò giúp đỡ băng sông,…
Phải xem và nghe then mới thấy nể, thấy phục những người hát then làm lễ. Giống như một diễn viên phải thể hiện nhiều vai cùng lúc, người được gọi là ông then, bà then miệng vừa hát theo những giai điệu biến chuyển linh hoạt, mặt vừa diễn theo những cung bậc cảm xúc, tay múa lúc chậm lúc nhanh, chân đi nhạc ngựa lúc khoan lúc nhặt, thỉnh thoảng lại diễn tả những động tác cưỡi ngựa, phất quạt, nhai chén,… Người Tày cho rằng những ông then, bà then chính là sứ giả của thần thánh, là người giúp họ gửi vía cầu thần, chuyển tải tâm tư, nguyện vọng của gia chủ tới thần linh.
Vì thế, những thầy then, đặc biệt là những thầy đã đạt đủ 13 quai – thang bậc cao nhất của những người biết hát then làm lễ luôn được dân làng tin tưởng, kính trọng. Là một loại hình diễn xướng tổng hợp được thể hiện trong không gian nghi lễ nhuốm mầu sắc tâm linh, thần thoại, nhưng kỳ thực những lời ca, điệu hát then lại vô cùng bình dị, khi là lời tri ân hướng tới ông bà tổ tiên, khi tái hiện cuộc sống gần gụi, chân thực của người dân buôn làng từ lúc ở chốn Mường người đến khi về cõi Mường ma…Có lẽ chính điều này đã làm then mãi gắn bó và trở thành “đặc sản” tinh thần của người Tày ở Việt Bắc.
Nhằm phát huy giá trị và vẻ đẹp văn hóa của lời then, tiếng tính, các tỉnh miền núi phía bắc nước ta thời gian qua đã có những hoạt động gìn giữ và quảng bá hát then thông qua việc tổ chức những hội diễn văn nghệ, tham gia các liên hoan đàn tính – hát then. Nhiều đoàn ca múa nhạc dân tộc cũng đã có ý thức sưu tầm và đặt lời mới cho then xoay quanh nội dung ca ngợi Ðảng, Bác Hồ, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước…
Khoa Dân tộc của Trường cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc đã đưa hát then vào chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, cũng như nhiều loại hình âm nhạc dân tộc khác, tính chất phức hợp và lan tỏa bằng phương thức truyền miệng đang đặt hát then đứng trước nguy cơ mai một. Các nghệ nhân còn thuộc được những điệu then cổ giờ đã ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, còn những nghệ nhân có khả năng truyền dạy hát then chỉ đếm được trên đầu ngón tay, bên cạnh đó là sự lấn sân và tác động mạnh mẽ của các loại hình âm nhạc giải trí mới.
Theo GS, TS Khoa học Tô Ngọc Thanh, then vốn dĩ ra đời để thực hiện chức năng thờ cúng, chữa bệnh, dùng để cầu tự (cầu con), cầu duyên, hay nối số (kéo dài tuổi thọ). Song những chức năng này không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại, vì thế trong bối cảnh mới, chỉ có thể lưu giữ then cấp sắc mà điển hình là lẩu then – một hình thức nâng cấp bậc cho then. Muốn then mãi là then chứ không phải bất kỳ thứ gì “nhái then”, cần đặt then trong sự toàn vẹn của nó.
Trải qua thời gian, điệu hát Then đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu là linh hồn trong đời sống văn hóa của bà con nơi đây. Nhưng để điệu hát Then phát triển đến ngày hôm nay, một phần lớn nhờ công của những con người đã gìn giữ, thổi hồn vào điệu hát Then độc đáo này. Thiết nghĩ, để then đến gần hơn với công chúng đương đại, đã đến lúc phải đa dạng hóa phương thức bảo tồn then trên cơ sở lưu giữ những giá trị nguyên gốc. Muốn làm được điều đó, bên cạnh công tác sưu tầm, phục dựng các điệu then cổ, các cơ quan, ban, ngành nước ta phải đặc biệt quan tâm tới các nghệ nhân hát then – những “báu vật sống” có khả năng truyền đạt cả giai điệu lẫn tình yêu, niềm say mê then tới giới trẻ. Tại các vùng then, nhất thiết cần thành lập những lớp học hát then, câu lạc bộ hát then, những đội văn nghệ then sinh hoạt đều đặn hằng tuần, hằng tháng.
Bên cạnh đó, Ðảng và Nhà nước ta nên tập trung đầu tư hơn cho việc tổ chức các liên hoan, hội diễn hát then cấp quốc gia, cấp vùng, tỉnh để tăng độ cọ xát, nâng cao tinh thần giao lưu và nhân rộng hơn tình yêu then tới nhân dân cả nước. Ngoài ra, then cũng cần được quảng bá đồng bộ trên các phương tiện truyền thông đại chúng thông qua các chương trình giới thiệu âm nhạc, đồng thời lồng gắn vào các tiết học giảng dạy ngoại khóa trong nhà trường để nâng cao sự hiểu biết, gắn bó với các loại hình văn nghệ dân gian của giới trẻ.
Mới đây, đề nghị về việc lập hồ sơ gửi UNESCO công nhận hát then của dân tộc Tày khu vực Việt Bắc là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã được Chính phủ phê duyệt. Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ xem xét, hướng dẫn các tỉnh khu vực Việt Bắc hoàn tất hồ sơ trong quý bốn năm nay. Tin rằng, với nỗ lực gìn giữ, quảng bá những giá trị trân quý của hát then, những lời then tiếng tính sẽ không chỉ là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn đồng bào dân tộc Tày, mà còn trở thành niềm tự hào về vốn văn hóa đa dạng, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của người dân đất Việt.
Hát Then vốn sản phẩm sáng tạo của rất nhiều thế hệ đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái. Trải qua thời gian, những sản phẩm văn hóa này đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng báo các dân tộc miền núi phía Bắc. Hát Then luôn có sức sống mãnh liệt trong đời sống nhân dân. Là niềm tự hào đối với người dân tộc Tày, Nùng, Thái. Hát Then là nghệ thuật có sức lan toả mạnh mẽ. Hiện nay, một số đồng bào người Tày, Nùng, Thái ở khu vực phía Bắc, chuyển đến sinh sống ở những vùng quê mới ở các tỉnh phía cực Nam của Tổ quốc đã mang theo nghệ thuật truyền thống này và ở đó, hát Then – đàn Tính đã có sức sống của nó.
Hát then, đàn Tính – “đặc sản văn hóa dân gian” vùng cao phía Bắc. Trải qua thời gian, điệu hát Then đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu là linh hồn trong đời sống văn hóa của bà con nơi đây. Nhưng để điệu hát Then phát triển đến ngày hôm nay, một phần lớn nhờ công của những con người đã gìn giữ, thổi hồn vào điệu hát Then độc đáo này.
Then là “cuộc sống” của người Tày, bởi ngày xưa, Then là những khúc hát sử dụng trong việc cúng chữa bệnh, giải hạn, cầu mùa, cấp sắc…Tiếng Then như làm cho con người quên ăn, chim ngừng hót. Giai điệu của hát Then mênh mang, chứa đựng nỗi lòng của người hát. Trải qua thời gian, tiếng Then không hề mất đi tính đặc trưng vốn có mà càng làm cho sức sống của người Tày căng tràn.

HOÀNG CHIẾN THẮNG : Hát Then trong đời sống cộng đồng Tày-Nùng

Hát Then trong đời sống cộng đồng Tày-Nùng

(ĐHVH) – Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca, nhạc, múa và diễn trò. Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời. Về nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần có cùng nhận định: hát Then có xuất xứ từ Cao Bằng, khi  nhà Mạc bị thất sủng. Hầu hết trong các lễ cúng của người Tày đều có hát Then, hát Then không chỉ đơn thuần là một loại hình âm nhạc hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng.

Hát then được sân khấu hoá

Trong cộng đồng Tày, các ông Then, Tào, Pụt, Mo là những người có khả năng liên hệ với thần linh, tiếp cận với thế giới siêu nhiên, là cầu nối giữa người trần với các đấng tự nhiên. Chính bởi đó họ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng. Then được hát trong hầu hết các nghi lễ, hội với nhiều đường Then khác nhau tùy thuộc vào mục đích của lễ cúng. Ngoài phần thuộc lễ nghi, diễn xướng then còn có phần mang tính chất vui chơi mang đậm yếu tố sân khấu. Ông Then là người thuộc nhiều đường Then và có căn Then. Người làm Then phải là người có Mình pang Then(1) thích hợp cho việc làm thầy cúng, được cộng đồng tín nhiệm, nể trọng. Cũng giống như Hầu đồng của người Việt, Then của người Tày mượn lời ca, tiếng đàn cùng chùm xóc nhạc dẫn đường đến với các đấng siêu nhiên để thỉnh cầu hay cảm tạ.

Trong Then có nhiều đường then như: Pang Khoăn, Thống Đẳm, Cấp Sắc hay Cầu Hoa… Về dạng Then cũng lắm, trong mỗi dạng lại có nhiều điệu hát khác nhau ví như cúng lễ có: Điệu khẩu tu (vào cửa trời); Pây mạ (đi ngựa); Điệu đông mèng đông quảng (vào rừng ve); gọi vía; chèo thuyền vượt khái… dùng trong các buổi Then chữa bệnh, hát hái hoa, nối số, tiêu hao tàn (dành cho người chết), Then kỳ yên giải hạn… Với dạng hát vui như: Then vào nhà mới, Then chúc thơ, Then tảo mộ, Then trong đám cưới (được đệm bằng hồ hoặc đàn tính). Trong Then đại lễ, người ta thường thấy có hát múa, hát điệu bốn, múa chầu, cùng với một số trò vui như Pắt phu (Bắt chồng), Pắt slao báo (Bắt trai gái)…về nhạc dùng cho nhạc cụ của Then trong các nghi lễ hay hội bao gồm: Khúc tính pây tàng, khúc tính tàng nặm, tàng bốc, khúc tính chầu, khúc hoà tấu đàn tính và tam thập lục, khúc hoà tấu đàn tính và hồ trung, khúc tính giã bạn. Các khúc Then được tạo nên một cách có hệ thống, bài bản theo trình tự nội dung trình diễn. Không gian biểu diễn, hát Then thường được trình diễn chủ yếu trong một không gian nhỏ hẹp như trong nhà (trước bàn thờ) tuy nhiên đôi khi cũng được trình diễn trong một không gian rộng như ngoài cánh đồng, phổ biến ở Lễ hội Lồng tồng vào dịp giêng hai.

Hát then trong sinh hoạt văn hoá thường nhật

Khi vui người ta mời then, khi nhà có chuyện mời Then, người có bệnh mời Then, người hiếm muộn mời Then, Then không thể thiếu trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Tày, nó đã trở thành một trong số tín ngưỡng đặc thù của cộng đồng tộc người này. Theo quan niệm của người Tày có ba tầng trời, mỗi Mường đều có người sinh sống, trần sao âm vậy và họ tin khi tiếng đàn tính cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc hành trình với từng đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời. Trong tàng Then Thống Đẳm (đưa đười chết về Mường trời), hay Pang Khoăn, Cấp Sắc, Cầu Hoa…đều thể hiện rất rõ quan niệm ấy. Qua lời Then người nghe có thể biết được quan quân của Then đã đến đâu trên Mường trời. Lời then cũng chỉ rõ đặc điểm của từng bản ở Mường Trời nơi quan quân Then đang qua. Điệu then khi trầm khi bổng, đôi lúc sôi động gấp gáp kết hợp với động tác mô phỏng cùng tiếng hò reo tạo khí thế quyết tâm của quan quân Then đồng thời xuất hiện yếu tố thiêng. Đặc biệt là trong Thống Đẳm, điệu hát cùng động tác lên ngựa hay đánh nhau với thủy quái, vượt Khái… khiến người xem hồi hộp, nín thở. Khi lên ngựa Then hát rằng: Phạt cờ khửn bưởng lăng tứn mạ/ Phạt cờ khửn bưởng nả tứn loan (phất cờ về phía sau lên ngựa/ phất cờ về phía trước xuất quân) đồng thời tay Then mô phỏng theo câu hát. Tiếng kèn mạy loi, tiếng trống mạy tảng reo lên, rồi cứ thế đoàn quan quân Then đi hết từ pá nhả khâm thai đét (bãi trà may chết nắng), rồi pá nhả lẹp thai mươi (bãi rau hẹ chết sương), đến ruộng rồi đến các bản trong Mường trời. Lời then cứ thế thủ thỉ, sôi động rồi lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi bản một tâm trạng, một sắc thái, không khí. Có khi căng thẳng lo lắng, có lúc hồ hởi vui tươi, tiếng đàn tiếng hát quyện với nhau hư ảo, tiếng xáu mạ rộn vang đưa Then dần vào trạng thái tự thôi miên kiểu Shaman giáo của người Tungus ở vùng Sibiri của Nga. Toàn bộ cuộc hành trình đưa linh hồn người chết về Mường Đẳm đều gắn với đường Then Thống Đẳm, câu then khắc họa những vất vả khó khăn của quan quân trên cuộc hành trình đó. Lời then khi đến chợ Tam Quan thể hiện khát vọng một cuộc sống ấm no, đầy đủ, câu hát rộn rã, tấp nập, hồ hởi, lạc quan, thấm vào từng cá thể đang sống nơi trần thế. Lời Then cho người sống an tâm về linh hồn người đã mất. Những linh hồn ấy đã được Then đưa về mường Tổ tiên, được mua sắm đầy đủ, ấm nó, có ruộng có vườn, có trâu, có của. Còn với Pang Khoăn lời Then tạo niềm tin cho người bệnh, những người đang gặp hoạn nạn khó khăn để vượt lên số phận, cải tạo số phận, là liều thuốc giúp họ vượt qua mọi trở ngại bệnh tật để sống.

Then gắn với đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người Tày, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của cộng đồng Tày – Nùng. Hát Then, đàn tính là linh hồn cho các lễ nghi, hội hè. Tiếng đàn tính vang vọng, lời Then ngọt ngào nồng ấm cùng yêu tố thiêng là món ăn tinh thần hơn tất thảy các món ăn tinh thần khác. Trước hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể có tính nguyên hợp  hay một nghi lễ tôn giáo được diễn xướng bằng hình thức hát, hát kể có kèm theo nhạc và nhảy múa, cùng những biểu tượng tôn giáo mang tính tượng trưng như hát Then đã đặc biệt gây được sự quan tâm và chú ý không chỉ với cộng đồng Tày – Nùng mà cả với các tộc người khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Điều đó được khẳng định qua Liên hoan hát then, đàn tính lần I và II tại Thái Nguyên năm 2005, Cao Bằng 2007. Và vừa qua Liên hoan hát then, đàn tính lần III tại Bắc Kạn đã được nhiều người háo hức đón nhận. Hy vọng với sức hấp dẫn của hát Then, đàn tính, loại hình nghệ thuật này sẽ không bị mai một và ngày phát triển hơn.

Bài và ảnh: Hoàng Chiến Thắng

STLLPBVH K10

Admin3

http://huc.edu.vn/chi-tiet/1178/Hat-Then-trong-doi-song-cong-dong-Tay-Nung.html