TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

tran-van-khe-phunuonline.com_.vn-dongnhacxua.com_

images

(ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT)

I. Thời thơ ấu

Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), tôi chào đời trong một gia

đình bốn đời nhạc sĩ.

Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công triều đình Huế. Ông nội là Trần

Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, chủ soái nhóm đờn ca tài tử Vĩnh Kim

(Tiền Giang). Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi là

Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu) và

đờn kìm (đàn nguyệt). Ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là « dây Tố

Lan », thường dùng để đờn Văn Thiên Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong

Nam đều biết và còn sử dụng.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược

Nam Kỳ. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh

tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và

Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri Khương, cậu thứ năm của

Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy tôi đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng

tác nhiều bản nhạc theo truyền thống.

Tôi chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội

ngoại đều là nhạc sĩ, mà lại còn được « thai giáo » một cách rất đặc biệt. Mỗi ngày

cậu Năm thổi sáo và đàn tranh cho thai nhi Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa,

chiều. Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như

« Nhị Thập Tứ Hiếu », « Gia Huấn Ca »… Sau khi chào đời, mỗi ngày tôi vẫn tiếp tục

được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân

cũng là người thổi ống tiêu rất hay.

Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần ông và hàng ngày nghe ông

đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, tôi đã sống trong một không khí đầy

âm nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thuỷ để cho tôi nhảy cà tưng trong tay

người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp, hễ ông đờn mau thì

nhảy mau, ông đờn chậm thì nhảy chậm.

Sáu tuổi tôi đã biết đờn kìm (đờn nguyệt). Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai

tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc.

Nhưng tôi lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm tuổi đến

phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba Viện nuôi

ba anh em tôi đến ngày khôn lớn.

II. Thời kỳ học tập

10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi.

Đến Tam Bình, Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba năm với nhà thơ và nhà

nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long đậu Sơ Học có

phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh đậu bằng chữ

Trung học

Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm

nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học Pháp văn với ông Champion, được

chấm đậu kỳ thi tuyển lựa một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du

lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938 từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan

Thiết, Tourane (Ðà Nẵng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh

là được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.

Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy

được Giải thưởng đặc biệt của đô đốc Decoux để đi viếng cả nước Cao Miên

(Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế

Thích. Và trên đường về Việt Nam ghé Hà Tiên, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu

nên được nhà thơ Ðông Hồ dẫn đi xem thập cảnh, mỗi nơi đến đều được nghe một

bài thơ hay do thi sĩ Ðông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp.

Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu

Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu

lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (Hội Đức Trí Thể Dục

Nam Kỳ). Tôi chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn

Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club

những bài hát Tây loại « Les Gars de la Marine », « Sunset in Vienna »… Tôi cũng

làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký

Hội Thể Thao, và giữ tủ sách của trường trong ba năm Tú Tài.

Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của Hội

SAMIPIC, tôi ra Hà Nội học y khoa.

Tôi đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, được các nhạc

sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. Tôi thừa dịp đó để có thể, ngoài những

bản thông thường của nhạc Tây phương như « La Veuve Joyeuse », « Marche

Turque », « Monument Musical »… thì giới thiệu những bài hát về thanh niên và lịch

sử của Lưu Hữu Phước.

Tôi và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát

« Thiếu Sinh », các cô trường Đồng Khánh hát bài « Thiếu Nữ Việt Nam », sinh viên

đại Học Hà Nội hát bài « La Marche des Etudiants », và đầu năm 1943, dựng ca

nhạc kịch « Tục Luỵ » (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh

trường Đồng Khánh Hà Nội và trường Gia Long.

Năm 1949, tôi sang Pháp, làm « phóng viên », lúc ấy thành ký giả chuyên

nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho.

Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự

Liên hoan thanh niên tại Budapest (Hungaria – Hung Gia Lợi). Cùng với anh

Nguyễn Ngọc Hà (hiện giờ đương tại chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương),

tổ chức chương trình văn nghệ giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự

do. Tôi dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đờn cò và đờn tranh, được giải nhì, sau

Liên Xô, đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi.

Tôi đi đờn mỗi tối thứ năm và tối chủ nhựt tại hiệu cơm « La Paillote ». Trong

năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng « Bồng Lai » của

ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA,

hơn 30 bài nhạc mới.

Mùa hè năm 1950, tôi sang La Haye, Hoà Lan học về Luật quốc tế. Hè năm

1951, thi đậu ra trường Chánh trị khoa Giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5 nên

được tuyển vào ngạch thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp đại hội tại

Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau

khi đậu bằng Chánh trị, bị bịnh phải nằm nhà thương trong ba năm hai tháng. Ghi

tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris năm 1952.

Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và

chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile

Gaspardone, và André Schaeffner.

III. Ngoài ra tôi làm nhiều công việc để mưu sống, đáng kể nhứt là bốn

việc sau đây:

1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân đôn với

các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam.

2. Ðóng phim cho hãng « Arthur Rank Corporation » bên Anh. Phim tên là « A

Town Like Alice ».

3. Trong phim Pháp « La Rivière des Trois Joncques » (Ba chiếc thuyền trên

con rạch), phim gián điệp. Tôi đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam

trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean

Gaven và Dominiques Wilms.

4. Lồng tiếng phim « Gengis Khan » (Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thừa tướng

Kao Linh. Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói.

Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (môn Nhạc Học) đại học Sorbonne

hạng Tối ưu với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable avec

félicitations du Jury).

Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique vietnamienne

traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music).

Đề tài phụ:

1. Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music).

2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société

vietnamienne / Place of Music in the Vietnamese Society).

VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa

Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris.

Tham luận và Hoà nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar (Ấn Độ), Ebadi

và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ

gốc Nga, Danh cầm thế giới về violon / violin).

Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ

biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu

nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies in

Oriental Music) bao gồm nhạc truyền thống Trung quốc, Ấn độ, Ba tư (Persian), Ả

rập, Việt Nam. Giữ chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm

1979 Chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm

này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt động.

Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5

hướng chánh:

1. Nghiên cứu âm nhạc

Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre

National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research)

với chức Tuỳ viên nghiên cứu (attaché de recherche), 1964 lên chức lần lần đến

năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche).

Đề tài nghiên cứu: trước hết là “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” rồi đi lần

đến đề tài « đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn ngữ âm nhạc các nước Châu Á ».

Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng trong không gian. Trong thư

viện tìm thư mục, trong các bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát, làm phiếu, và

nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm, chụp ảnh

trên thực địa. Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp

chí chuyên môn.

Phải tham gia giảng trong các trường đại học và tham luận tại các hội nghị

Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:

– Đã đăng gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh,

có một số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rập, trong đó có

hơn 130 bài đăng từ hai ba chục đến cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng

trong tạp chí “Le Courrier de l’UNESCO” được dịch ra hơn 15 thứ tiếng (Phụ lục

Thư mục các bài đã được in trong các tạp chí chuyên môn).

– Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học

Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới

(Phụ lục: Danh sách các Hội nghị thế giới đã tham dự)

– Đã tự ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với các nghệ nhân, nghệ sĩ

Việt Nam. Thâu trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 tấm ảnh

dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều

nước đã qua. Thâu thập được gần 500 dĩa hát của các nước trên thế giới, thực hiện

được gần 30 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng

lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp năm 1960, 1970, dĩa hát Đức quốc năm 1969.

Đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển

Dhrupad (Ấn độ), về ống Sheng (Sanh hầu) Trung quốc, đàn Guqin (cổ cầm Trung

quốc), đàn tranh Việt Nam.

2. Giảng dạy trong các trường đại học

Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông Phương, dưới sự

bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris / Institute of

Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ngữ âm nhạc các nước

Châu Á. Đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy.

Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong

các truyền thống tại châu Á.

Từ năm 1970 đến sau dạy môn Dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học.

Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ

đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ luận văn cao học và luận án tiến

sĩ về nhạc châu Á, châu Phi.

Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des

Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris (lớp về

nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genevieve de Chambure), và được thỉnh giảng trên

20 đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại

Budapest, đại học Varsovie, đại học Vicenza, Venise, Iran (Ba Tư), Tây Nam Úc

châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần UCLA, Los

Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà Nội, và nhiều lần

tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc

và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng…

3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam

Tuy dạy về nhạc học, nhưng tôi vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống.

Trong các hội nghị quốc tế,tôi thường được mời tham dự với hai tư cách: người

nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và còn đàn như một nghệ sĩ.

– Tôi còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes,

Royan bên Pháp; Ajaccio tại đảo Corsica; Bá Linh (Berlin) bên Đức; Pamplona

bên Tây ban nha; Venise, Roma bên Ý; Bratislava và Brno (Tiệp Khắc); Shiraz (Ba

Tư); Sao Paulo bên Nam Mỹ; Wellington bên Tân Tây Lan (New Zealand), …

– Tôi đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết

quả rõ nhứt là hai người con của tôi, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều

biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp.

– Tôi đã thực hiện những dĩa hát mà trong đó có nhạc sĩ đờn độc tấu, hoặc vừa đờn

vừa ca những bản xưa.

– Tôi đã nhận lời thuyết trình cho thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các

đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.

– 43 nước trên thế giới đã mời tôi thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống

4. Nhiệm vụ quốc tế

Tôi là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong các nước Pháp, Mỹ,

Trung Quốc, và trên trường quốc tế:

– Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)

– Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)

– Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d’Ethnomusicologie) (Pháp)

– Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)

– Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)

– Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )

– Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific

– Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)

– Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc

với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for

Traditional Music) – nguyên là Phó chủ tịch (Mỹ)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO),

Nguyên Ủy viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội

trưởng danh dự (Pháp)

– Viện sĩ thông tấn Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ

Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế

giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc).

Từ 27 năm nay, thành viên, và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của

Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức.

Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề

xướng và tài trợ).

Với nhiều nhiệm vụ đó, tôi đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và

Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giới.

Xin đơn cử một số thí dụ:

+ Hội nghị của các hội quốc tế

1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco), Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962;

Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973;

Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979;

Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.

2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo

1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987;

Schladming (Áo) 1989.

3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg

(Pháp) 1982.

4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc, Perth 1979; Varsovie 1980.

5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu, Berlin 1965,

1967, 1971, 1986, 1989

6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975;

Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) 1983; Ulan

Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố Hồ Chí Minh 1990; Bombay 1993.

+ Đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc

Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila

1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982;

Madagascar 1985; Dakar 1985.

+ Đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc

Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden

(Đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.

+ Đề tài: Giáo dục âm nhạc

Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie1982; Budapest

1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.

Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự:

* 1938: Bổng du lịch Saigon-Hà Nội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt cho học

sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam.

*1941: Bổng Toàn quyền đô đốc Decoux cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần

nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị

* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.

* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l’Academie

du Disque Français) Giải thưởng đại Học Pháp (Prix des Universites de France).

Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.

* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát Đức quốc cho dĩa về

Nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung, dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30

LD 2022. Dĩa UNESCO Collection .

* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de

l’Academie du Disque Français), Prix de l’Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc

nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.

Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam Cộng Hoà

* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa tại Đại học

Ottawa (Canada)

* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco – Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix

Unesco Ơ.CIM de la Musique)

* 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de

l’Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn

Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).

* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật.

Viện Sĩ thông tấn (Membre correspondant de l’Académie européenne des Sciences,

des Lettres et des Arts).

* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến

công du của Tổng thống tại Việt Nam.

* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher

Schallplatten Kritik Preis)

* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize

for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)

* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)

* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau

Brunswick, Canada)

* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần

đức Lương cấp (CHXHCNVN)

Danh sách dĩa hát do tôi đờn hay thu thanh điền dã:

– 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên

Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc. Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.

– 1959: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD

365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l’Academie du Disque Français 1960.

Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960).

– 1969: « Viet Nam 1 », hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng),

collection Unesco, Kassel, Đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng

dĩa hát Đức 1969), Grand Prix de l’Acad’mie du Disque Français 1970 Prix

d’ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 – Giải thưởng

Dân tộc nhạc học).

– 1970: « Viet Nam 2 », hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33

vòng), collection Unesco, Kassel, Đức.

– 1972: « Musique du Viet Nam , Tradition du Sud » (Nhạc Việt Nam, truyền thống

miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/

33 vòng), Paris.

– 1972: « South Viet Nam, Entertainment Music » (Miền Nam Việt Nam,

Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 (30cm/33

vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hoà Lan.

– 1972: « Inde du Nord / Pandit Ram Narayan / Le Sarangi » (Ấn Độ miền Bắc /

Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33

vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1972: « Narendra Bataju, Sitar/Surbahar » (Nhạc sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và

Surbahar), hãng CETO SELAF ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn

– 1976: « Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle » (Việt Nam: Nhạc cổ truyền

kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa

OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng), Paris.

– 1978: « Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ » hãng EMI ODEON số 064-183113

(30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

– 1979: « Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre », hãng Philips số 658

6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà

– 1983: « Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle » (Việt

Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33

– 1985: « Viet Nam, Court Theatre Music » (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng gia, hãng

EMI ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas

– 1985: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de

Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng), Paris.

– 1990: « Viet Nam / Hat Cheo », hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection

Unesco, Paris. Tái bản của dĩa « Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre »

của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này được

xuất bản cùng một lúc.

– 1991: « Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho », hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD),

collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-

183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một

– 1994: « Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », dĩa

OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải Diapason d’Ór. Tái bản của dĩa

OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972).

– 1994: « Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc »

(Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris.

– 1995: « Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d’Hier et d’Aujourd’hui » (Việt Nam /

đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện tại » với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn

Khê, hãng OCORA số 560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique

Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de la

– 1996: « Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », hãng

AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.

– 1998: « Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi

Thuy Ngoc », hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA

số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).

– 1997: « Viet Nam Ca Tru », hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1997: « Viet Nam: Tradition de Hue » (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung

đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1998: « Viet Nam: Tradition du Sud » (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng

AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn

giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba.

– 1998: « Viet Nam: Musique bouđhique » (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng

INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

Một số phim do tôi thực hiện và một số phim về tôi:

1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ, điệu thức Raga Todi do hai anh

em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông

Pierre Schaeffer), Paris , 1964 thực hiện. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura

Ấn độ, một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với

12 đơn vị. Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhrupad và

những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.

2. Phim « Histoire du riz », phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt

Nam, phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Diier Mauro

và Hồ Thuỷ Tiên. Sản xuất: Orchidees.

3. Phim « Dis moi, Philippines » do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin

thực hiện. Sản xuất: Orchidees.

Tài liệu băng thu thanh:

1. Les Traditions musicales de l’Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu), nói tiếng

2. Le Dhrupad: un art vocal de l’Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ

miền Bắc), nói tiếng Pháp.

3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và

chu kỳ tiết tấu trong nhạc Ấn theo trường phái Hindoustane), nói tiếng Pháp.

4. La musique arabe (Nhạc Á rập), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon

Shiloah, nói tiếng Pháp.

Băng Video:

Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học Paris Đauphine, INALCO

(Viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh Đông phương), đặc biệt với Guy Senelle,

Didier Tauin và Paul Hervé.

1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ

Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn

Khê. Khái quát về « Sanh Hầu ở Á châu ».

2. Le Qin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có

nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một

vài bài cổ điển của Đàn Tranh, Cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.

3. Le « Dan Tranh », cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây)

với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Quá trình lịch sử, miêu tả, kỹ thuật đàn,

một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối

chiếu với các loại đàn tranh Trung Quốc, Nhựt Bổn, Đại Hàn và Mông Cổ.

4. Le « Dan Tranh », cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của

Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê, thực

hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương.

Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:

1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982

– Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP. Hồ Chí Minh (29/09/1982)

– Trích đoạn tuồng « Thần nữ dựng ngũ linh kỳ »(29/09/1982)

– Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nam, Trang điểm, động tác, đấu võ (25/10/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Bình Định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ động tác, những

cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)

– Tuồng dân gian Hát Bài chòi. Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền

(18/10/ 1982)

– Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)

2. Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987

– Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh

– Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đờn tranh 12 dây và 2

đờn kìm 4 dây do Mác Tuyên sáng tạo. Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các

nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà Nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và

Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987).

– Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi và trường Lê Lợi

(TP HCM) (27 /11/1987)

– Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý

Hoan, giáo sư trường Âm nhạc TP.HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn

Khê (29/11/1987)

– Độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của

Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)

– Nhóm nhạc gõ Phù Đổng tại TP HCM (04/12/1987)

– Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ « Tiếng Hát Quê Hương »,

« Tao đàn », « Bình Thạnh » (06/12/1987)

– Dạ hội Nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần

giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê (07/12/1987)

– Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4,

3. Thu hình video năm 1989:

– 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và

múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần

Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và

nhóm Phù Đổng (nhạc cụ gõ).

– Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức

vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)

– Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê

với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP.HCM) vào hai

ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)

– Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai

tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)

– Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh

« International Reception of  Music in Vietnamese Traditional (22/07/1990), tham

gia bàn tròn về « International Recepion in Music » (24/07/1990) (phim video

– Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7,

1990) (phim video NTSC)

– Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ gia đình Quỳnh Dao, nhà thơ

nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP.HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video

– Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình, đài truyền

hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16

tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại

tại Thuỳ Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của Trần văn Khê tại phường Bửu

Hội, tỉnh Biên Hoà (Đồng Nai) (2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

– Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình

TP.HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

w

Connexion à %s