TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

TIỂU SỬ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

tran-van-khe-phunuonline.com_.vn-dongnhacxua.com_

images

(ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT)

I. Thời thơ ấu

Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), tôi chào đời trong một gia

đình bốn đời nhạc sĩ.

Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công triều đình Huế. Ông nội là Trần

Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, chủ soái nhóm đờn ca tài tử Vĩnh Kim

(Tiền Giang). Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi là

Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu) và

đờn kìm (đàn nguyệt). Ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là « dây Tố

Lan », thường dùng để đờn Văn Thiên Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong

Nam đều biết và còn sử dụng.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược

Nam Kỳ. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh

tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và

Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn. Ông Nguyễn Tri Khương, cậu thứ năm của

Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy tôi đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng

tác nhiều bản nhạc theo truyền thống.

Tôi chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội

ngoại đều là nhạc sĩ, mà lại còn được « thai giáo » một cách rất đặc biệt. Mỗi ngày

cậu Năm thổi sáo và đàn tranh cho thai nhi Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa,

chiều. Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như

« Nhị Thập Tứ Hiếu », « Gia Huấn Ca »… Sau khi chào đời, mỗi ngày tôi vẫn tiếp tục

được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân

cũng là người thổi ống tiêu rất hay.

Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần ông và hàng ngày nghe ông

đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, tôi đã sống trong một không khí đầy

âm nhạc. Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thuỷ để cho tôi nhảy cà tưng trong tay

người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp, hễ ông đờn mau thì

nhảy mau, ông đờn chậm thì nhảy chậm.

Sáu tuổi tôi đã biết đờn kìm (đờn nguyệt). Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai

tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc.

Nhưng tôi lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời. Năm tuổi đến

phiên ông nội. Mẹ mất năm 9 tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần. Cô Ba Viện nuôi

ba anh em tôi đến ngày khôn lớn.

II. Thời kỳ học tập

10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi.

Đến Tam Bình, Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba năm với nhà thơ và nhà

nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long đậu Sơ Học có

phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh đậu bằng chữ

Trung học

Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm

nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học Pháp văn với ông Champion, được

chấm đậu kỳ thi tuyển lựa một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du

lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938 từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan

Thiết, Tourane (Ðà Nẵng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh

là được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều.

Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy

được Giải thưởng đặc biệt của đô đốc Decoux để đi viếng cả nước Cao Miên

(Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế

Thích. Và trên đường về Việt Nam ghé Hà Tiên, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu

nên được nhà thơ Ðông Hồ dẫn đi xem thập cảnh, mỗi nơi đến đều được nghe một

bài thơ hay do thi sĩ Ðông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp.

Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu

Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu

lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (Hội Đức Trí Thể Dục

Nam Kỳ). Tôi chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn

Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club

những bài hát Tây loại « Les Gars de la Marine », « Sunset in Vienna »… Tôi cũng

làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký

Hội Thể Thao, và giữ tủ sách của trường trong ba năm Tú Tài.

Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của Hội

SAMIPIC, tôi ra Hà Nội học y khoa.

Tôi đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, được các nhạc

sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học. Tôi thừa dịp đó để có thể, ngoài những

bản thông thường của nhạc Tây phương như « La Veuve Joyeuse », « Marche

Turque », « Monument Musical »… thì giới thiệu những bài hát về thanh niên và lịch

sử của Lưu Hữu Phước.

Tôi và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát

« Thiếu Sinh », các cô trường Đồng Khánh hát bài « Thiếu Nữ Việt Nam », sinh viên

đại Học Hà Nội hát bài « La Marche des Etudiants », và đầu năm 1943, dựng ca

nhạc kịch « Tục Luỵ » (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh

trường Đồng Khánh Hà Nội và trường Gia Long.

Năm 1949, tôi sang Pháp, làm « phóng viên », lúc ấy thành ký giả chuyên

nghiệp, có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho.

Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự

Liên hoan thanh niên tại Budapest (Hungaria – Hung Gia Lợi). Cùng với anh

Nguyễn Ngọc Hà (hiện giờ đương tại chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương),

tổ chức chương trình văn nghệ giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự

do. Tôi dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đờn cò và đờn tranh, được giải nhì, sau

Liên Xô, đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi.

Tôi đi đờn mỗi tối thứ năm và tối chủ nhựt tại hiệu cơm « La Paillote ». Trong

năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng « Bồng Lai » của

ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA,

hơn 30 bài nhạc mới.

Mùa hè năm 1950, tôi sang La Haye, Hoà Lan học về Luật quốc tế. Hè năm

1951, thi đậu ra trường Chánh trị khoa Giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5 nên

được tuyển vào ngạch thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp đại hội tại

Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau

khi đậu bằng Chánh trị, bị bịnh phải nằm nhà thương trong ba năm hai tháng. Ghi

tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris năm 1952.

Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và

chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile

Gaspardone, và André Schaeffner.

III. Ngoài ra tôi làm nhiều công việc để mưu sống, đáng kể nhứt là bốn

việc sau đây:

1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân đôn với

các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam.

2. Ðóng phim cho hãng « Arthur Rank Corporation » bên Anh. Phim tên là « A

Town Like Alice ».

3. Trong phim Pháp « La Rivière des Trois Joncques » (Ba chiếc thuyền trên

con rạch), phim gián điệp. Tôi đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam

trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean

Gaven và Dominiques Wilms.

4. Lồng tiếng phim « Gengis Khan » (Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thừa tướng

Kao Linh. Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói.

Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (môn Nhạc Học) đại học Sorbonne

hạng Tối ưu với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable avec

félicitations du Jury).

Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique vietnamienne

traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music).

Đề tài phụ:

1. Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music).

2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société

vietnamienne / Place of Music in the Vietnamese Society).

VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa

Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris.

Tham luận và Hoà nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar (Ấn Độ), Ebadi

và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ

gốc Nga, Danh cầm thế giới về violon / violin).

Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ

biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris. Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu

nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies in

Oriental Music) bao gồm nhạc truyền thống Trung quốc, Ấn độ, Ba tư (Persian), Ả

rập, Việt Nam. Giữ chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam. Từ năm

1979 Chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm

này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt động.

Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5

hướng chánh:

1. Nghiên cứu âm nhạc

Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre

National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research)

với chức Tuỳ viên nghiên cứu (attaché de recherche), 1964 lên chức lần lần đến

năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche).

Đề tài nghiên cứu: trước hết là “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” rồi đi lần

đến đề tài « đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn ngữ âm nhạc các nước Châu Á ».

Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rộng trong không gian. Trong thư

viện tìm thư mục, trong các bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát, làm phiếu, và

nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm, chụp ảnh

trên thực địa. Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp

chí chuyên môn.

Phải tham gia giảng trong các trường đại học và tham luận tại các hội nghị

Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:

– Đã đăng gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh,

có một số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rập, trong đó có

hơn 130 bài đăng từ hai ba chục đến cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng

trong tạp chí “Le Courrier de l’UNESCO” được dịch ra hơn 15 thứ tiếng (Phụ lục

Thư mục các bài đã được in trong các tạp chí chuyên môn).

– Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học

Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới

(Phụ lục: Danh sách các Hội nghị thế giới đã tham dự)

– Đã tự ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với các nghệ nhân, nghệ sĩ

Việt Nam. Thâu trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 tấm ảnh

dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều

nước đã qua. Thâu thập được gần 500 dĩa hát của các nước trên thế giới, thực hiện

được gần 30 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng

lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp năm 1960, 1970, dĩa hát Đức quốc năm 1969.

Đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển

Dhrupad (Ấn độ), về ống Sheng (Sanh hầu) Trung quốc, đàn Guqin (cổ cầm Trung

quốc), đàn tranh Việt Nam.

2. Giảng dạy trong các trường đại học

Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc đông Phương, dưới sự

bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris / Institute of

Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ngữ âm nhạc các nước

Châu Á. Đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy.

Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong

các truyền thống tại châu Á.

Từ năm 1970 đến sau dạy môn Dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học.

Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ. GS Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ

đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ luận văn cao học và luận án tiến

sĩ về nhạc châu Á, châu Phi.

Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des

Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris (lớp về

nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genevieve de Chambure), và được thỉnh giảng trên

20 đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện List tại

Budapest, đại học Varsovie, đại học Vicenza, Venise, Iran (Ba Tư), Tây Nam Úc

châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại đại học Hawaii, 2 lần UCLA, Los

Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà Nội, và nhiều lần

tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc

và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng…

3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam

Tuy dạy về nhạc học, nhưng tôi vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống.

Trong các hội nghị quốc tế,tôi thường được mời tham dự với hai tư cách: người

nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và còn đàn như một nghệ sĩ.

– Tôi còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes,

Royan bên Pháp; Ajaccio tại đảo Corsica; Bá Linh (Berlin) bên Đức; Pamplona

bên Tây ban nha; Venise, Roma bên Ý; Bratislava và Brno (Tiệp Khắc); Shiraz (Ba

Tư); Sao Paulo bên Nam Mỹ; Wellington bên Tân Tây Lan (New Zealand), …

– Tôi đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết

quả rõ nhứt là hai người con của tôi, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều

biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp.

– Tôi đã thực hiện những dĩa hát mà trong đó có nhạc sĩ đờn độc tấu, hoặc vừa đờn

vừa ca những bản xưa.

– Tôi đã nhận lời thuyết trình cho thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các

đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.

– 43 nước trên thế giới đã mời tôi thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống

4. Nhiệm vụ quốc tế

Tôi là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong các nước Pháp, Mỹ,

Trung Quốc, và trên trường quốc tế:

– Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)

– Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)

– Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d’Ethnomusicologie) (Pháp)

– Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)

– Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)

– Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )

– Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific

– Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)

– Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc

với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for

Traditional Music) – nguyên là Phó chủ tịch (Mỹ)

– Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO),

Nguyên Ủy viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội

trưởng danh dự (Pháp)

– Viện sĩ thông tấn Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ

Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế

giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc).

Từ 27 năm nay, thành viên, và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của

Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức.

Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề

xướng và tài trợ).

Với nhiều nhiệm vụ đó, tôi đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và

Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giới.

Xin đơn cử một số thí dụ:

+ Hội nghị của các hội quốc tế

1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco), Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962;

Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973;

Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979;

Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.

2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo

1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987;

Schladming (Áo) 1989.

3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg

(Pháp) 1982.

4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc, Perth 1979; Varsovie 1980.

5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu, Berlin 1965,

1967, 1971, 1986, 1989

6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975;

Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) 1983; Ulan

Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố Hồ Chí Minh 1990; Bombay 1993.

+ Đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc

Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila

1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982;

Madagascar 1985; Dakar 1985.

+ Đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc

Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden

(Đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.

+ Đề tài: Giáo dục âm nhạc

Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie1982; Budapest

1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.

Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự:

* 1938: Bổng du lịch Saigon-Hà Nội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt cho học

sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam.

*1941: Bổng Toàn quyền đô đốc Decoux cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần

nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị

* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.

* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l’Academie

du Disque Français) Giải thưởng đại Học Pháp (Prix des Universites de France).

Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.

* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát Đức quốc cho dĩa về

Nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung, dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30

LD 2022. Dĩa UNESCO Collection .

* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de

l’Academie du Disque Français), Prix de l’Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc

nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.

Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam Cộng Hoà

* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa tại Đại học

Ottawa (Canada)

* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco – Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix

Unesco Ơ.CIM de la Musique)

* 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de

l’Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn

Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).

* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật.

Viện Sĩ thông tấn (Membre correspondant de l’Académie européenne des Sciences,

des Lettres et des Arts).

* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến

công du của Tổng thống tại Việt Nam.

* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher

Schallplatten Kritik Preis)

* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize

for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)

* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)

* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau

Brunswick, Canada)

* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần

đức Lương cấp (CHXHCNVN)

Danh sách dĩa hát do tôi đờn hay thu thanh điền dã:

– 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên

Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc. Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.

– 1959: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD

365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l’Academie du Disque Français 1960.

Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960).

– 1969: « Viet Nam 1 », hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng),

collection Unesco, Kassel, Đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng

dĩa hát Đức 1969), Grand Prix de l’Acad’mie du Disque Français 1970 Prix

d’ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 – Giải thưởng

Dân tộc nhạc học).

– 1970: « Viet Nam 2 », hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33

vòng), collection Unesco, Kassel, Đức.

– 1972: « Musique du Viet Nam , Tradition du Sud » (Nhạc Việt Nam, truyền thống

miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/

33 vòng), Paris.

– 1972: « South Viet Nam, Entertainment Music » (Miền Nam Việt Nam,

Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 (30cm/33

vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hoà Lan.

– 1972: « Inde du Nord / Pandit Ram Narayan / Le Sarangi » (Ấn Độ miền Bắc /

Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33

vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

– 1972: « Narendra Bataju, Sitar/Surbahar » (Nhạc sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và

Surbahar), hãng CETO SELAF ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn

– 1976: « Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle » (Việt Nam: Nhạc cổ truyền

kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa

OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng), Paris.

– 1978: « Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ » hãng EMI ODEON số 064-183113

(30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

– 1979: « Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre », hãng Philips số 658

6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà

– 1983: « Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle » (Việt

Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33

– 1985: « Viet Nam, Court Theatre Music » (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng gia, hãng

EMI ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas

– 1985: « Musique du Vietnam » (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de

Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng), Paris.

– 1990: « Viet Nam / Hat Cheo », hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection

Unesco, Paris. Tái bản của dĩa « Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre »

của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này được

xuất bản cùng một lúc.

– 1991: « Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho », hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD),

collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-

183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một

– 1994: « Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », dĩa

OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải Diapason d’Ór. Tái bản của dĩa

OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972).

– 1994: « Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc »

(Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris.

– 1995: « Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d’Hier et d’Aujourd’hui » (Việt Nam /

đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện tại » với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn

Khê, hãng OCORA số 560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique

Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de la

– 1996: « Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe », hãng

AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.

– 1998: « Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi

Thuy Ngoc », hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA

số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).

– 1997: « Viet Nam Ca Tru », hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1997: « Viet Nam: Tradition de Hue » (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung

đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn

giải: Trần Văn Khê.

– 1998: « Viet Nam: Tradition du Sud » (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng

AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn

giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba.

– 1998: « Viet Nam: Musique bouđhique » (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng

INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

Một số phim do tôi thực hiện và một số phim về tôi:

1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ, điệu thức Raga Todi do hai anh

em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông

Pierre Schaeffer), Paris , 1964 thực hiện. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura

Ấn độ, một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với

12 đơn vị. Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhrupad và

những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.

2. Phim « Histoire du riz », phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt

Nam, phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Diier Mauro

và Hồ Thuỷ Tiên. Sản xuất: Orchidees.

3. Phim « Dis moi, Philippines » do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin

thực hiện. Sản xuất: Orchidees.

Tài liệu băng thu thanh:

1. Les Traditions musicales de l’Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu), nói tiếng

2. Le Dhrupad: un art vocal de l’Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ

miền Bắc), nói tiếng Pháp.

3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và

chu kỳ tiết tấu trong nhạc Ấn theo trường phái Hindoustane), nói tiếng Pháp.

4. La musique arabe (Nhạc Á rập), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon

Shiloah, nói tiếng Pháp.

Băng Video:

Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học Paris Đauphine, INALCO

(Viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh Đông phương), đặc biệt với Guy Senelle,

Didier Tauin và Paul Hervé.

1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ

Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn

Khê. Khái quát về « Sanh Hầu ở Á châu ».

2. Le Qin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có

nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một

vài bài cổ điển của Đàn Tranh, Cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.

3. Le « Dan Tranh », cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây)

với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Quá trình lịch sử, miêu tả, kỹ thuật đàn,

một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối

chiếu với các loại đàn tranh Trung Quốc, Nhựt Bổn, Đại Hàn và Mông Cổ.

4. Le « Dan Tranh », cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của

Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê, thực

hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương.

Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:

1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982

– Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP. Hồ Chí Minh (29/09/1982)

– Trích đoạn tuồng « Thần nữ dựng ngũ linh kỳ »(29/09/1982)

– Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nam, Trang điểm, động tác, đấu võ (25/10/1982)

– Hát Tuồng, truyền thống Bình Định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ động tác, những

cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)

– Tuồng dân gian Hát Bài chòi. Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền

(18/10/ 1982)

– Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)

2. Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987

– Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh

– Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đờn tranh 12 dây và 2

đờn kìm 4 dây do Mác Tuyên sáng tạo. Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các

nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà Nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và

Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987).

– Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi và trường Lê Lợi

(TP HCM) (27 /11/1987)

– Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý

Hoan, giáo sư trường Âm nhạc TP.HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn

Khê (29/11/1987)

– Độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của

Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)

– Nhóm nhạc gõ Phù Đổng tại TP HCM (04/12/1987)

– Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ « Tiếng Hát Quê Hương »,

« Tao đàn », « Bình Thạnh » (06/12/1987)

– Dạ hội Nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần

giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê (07/12/1987)

– Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4,

3. Thu hình video năm 1989:

– 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và

múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần

Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và

nhóm Phù Đổng (nhạc cụ gõ).

– Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức

vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)

– Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê

với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP.HCM) vào hai

ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)

– Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai

tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)

– Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh

« International Reception of  Music in Vietnamese Traditional (22/07/1990), tham

gia bàn tròn về « International Recepion in Music » (24/07/1990) (phim video

– Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7,

1990) (phim video NTSC)

– Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ gia đình Quỳnh Dao, nhà thơ

nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP.HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video

– Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình, đài truyền

hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16

tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại

tại Thuỳ Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

– Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của Trần văn Khê tại phường Bửu

Hội, tỉnh Biên Hoà (Đồng Nai) (2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

– Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình

TP.HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)

TRẦN VĂN KHÊ : TIỂU SỬ TIẾNG VIỆT

TVK HDH 8

TIỂU SỬ GS-TS TRẦN VĂN KHÊ

Ngày sinh : 24-07-1921

Quê quán : Làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

Nơi ở hiện nay :   32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí

Công việc hiện nay:

Hưu trí, thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO.

Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Nhạc Truyền Thống (International Council for

Điện thoại : ĐT nhà riêng : (08) 3.551.1249

+ Được cấp bằng Tiến sĩ Văn chương, Khoa Âm Nhạc học, ĐH Sorbonne Paris

+ Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1967.

Quá trình học tập/công tác :

1941-1944 : Trường Đại học Đông Dương Hà Nội, Y khoa.

1944-1949 : Giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Hậu Giang ; Ký giả báo Thần Chung và

1949-1988 : Học tập, nghiên cứu và tham gia giảng dạy tại hơn 20 Trường Đại học trên

1959-1988 : Giám đốc Nghiên cứu tại Trung Tâm Quốc gia Pháp Nghiên cứu Khoa

Minh

Traditional Music) vào năm 2013

E-mail : trantruongca@yahoo.com.vn

Việt Báo.

khắp thế giới.

học (Directeur de Recherche au Centre National de la Recherche

Scientifique)

1969-1988 : Giáo sư Khoa Dân tộc Nhạc học tại Đại học Sorbonne Paris.

1999-2003 :  Giáo sư Đại học Dân lập Hùng Vương (TP.HCM).

2006 đến nay : Giáo sư Đại học Dân lập Bình Dương. Cố vấn đặc biệt Hội đồng

Thành viên của nhiều Hội quốc tế về Âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như : Hội

đồng âm nhạc quốc tế thuộc UNESCO, Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Hội

đồng quốc tế Giáo dục âm nhạc, Hội đồng quốc tế Nghiên cứu âm nhạc, Hội Âm

nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội Dân tộc Âm nhạc học Mỹ,

Hội Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội Nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ.

Những đóng góp chủ yếu cho Việt Nam và thế giới :

– Đã có trên 200 bài viết về Âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Châu Á đã được đăng

trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt những bài viết cho

Courrier de l’UNESCO được dịch ra 14 ngôn ngữ khác nhau.

– Đã thực hiện trên 25 đĩa hát 33 vòng và CD về Âm nhạc Việt Nam và vài nước

Khoa học Đại học Bình Dương.

– Đã lồng tiếng cho trên 100 phim từ tiếng Anh ra tiếng Pháp, diễn viên điện ảnh

cho 6 phim quảng cáo tại Pháp và làm diễn viên cho 2 phim lớn là : “La Rivière

des trois Joncques” (Pháp) và “A town like Alice” (Anh).

– Viết bài về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều báo chí, tạp chí trong nước

và trên thế giới. Giúp các cơ quan trong nước giới thiệu âm nhạc Việt Nam tại các

Hội nghị quốc tế, trong các Diễn đàn âm nhạc Châu Á, các Cơ quan quốc tế như:

UNESCO, Hội đồng Âm nhạc quốc tế.

– Giới thiệu các bộ môn Ca trù, Múa rối nước, Hát bội miền Nam, Nhã nhạc (Cung

đình Huế), Nhạc Phật giáo Việt Nam, đàn Tài tử, ca nhạc Huế bằng những buổi

thuyết trình, dĩa hát, băng video, làm cho ngoại quốc hiểu thêm về các di sản văn

hóa phi vật thể của Việt Nam.

– Đặc biệt đã giới thiệu Đờn ca tài tử trong và ngoài nước :

+ 1949 : Tại Budapest Hung-ga-ri trong cuộc thi về nhạc khí dân tộc do Liên

hoan Thanh Niên tổ chức : Giới thiệu 2 nhạc khí đờn Cò và đờn Tranh Việt

Nam trong những bài bản Đờn ca tài tử, giải nhì thế giới.

+ 1949 – 1951 : Giới thiệu trong nhiều dịp cho các đoàn thể Thanh niên Pháp và

những người yêu nhạc Đông phương những chương trình về Đờn ca tài tử,

được tổ chức trong các nhà Văn hoá Pháp.

+ 1953 : Bắt đầu soạn Luận án Tấn sĩ văn chương khoa Nhạc học tại Trường Đại

học Văn khoa Paris – Sorbonne với đề tài “Âm nhạc truyền thống Dân tộc Việt

Nam”, bảo vệ thành công năm 1958 – Ưu hạng với lời khen của Ban giám

khảo. In ra năm 1962 với sự ủng hộ tài chánh của Trung tâm quốc gia nghiên

cứu khoa học Pháp và Bảo tàng viện Guimet. Tuy là một luận án về Âm nhạc

truyền thống nói chung nhưng các tư liệu phong phú nhứt có liên quan đến Âm

nhạc Cung đình Huế và Âm nhạc Tài tử miền Nam.

+ 1959 : Thành lập Trung tâm Học nhạc Đông phương chuyên dạy các môn Âm

nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón.

Trong Trung tâm đó lãnh trách nhiệm Giám đốc Nghệ thuật và chuyên dạy

Đờn ca tài tử (Tranh, Kìm, Cò) với sự cộng tác của hai con (Trần Quang Hải &

Trần Thị Thuỷ Ngọc), hoạt động 30 năm và đào tạo trên 150 sinh viên Pháp và

quốc tế biết nhạc tài tử, trong số đó nổi bật nhứt là 3 sinh viên : Kim Lý (dạy

đờn Tranh cho trẻ em Việt Nam nhiều nơi tại Pháp) – Andre Lantz (GS điện tử,

đờn Tranh rất mùi, đi nghĩa vụ quân sự tại châu Phi, nhân ngày Tết Việt Nam

đã đờn bài Tứ đại làm rơi nước mắt bao nhiêu kiều bào Việt ở châu Phi) –

Nelly Felz (GS dạy cấp Tú tài chuyên về Âm nhạc, bắt buộc tất cả sinh viên

phải biết đờn Tranh mới được thêm điểm trong cuộc thi, chuyên Đờn ca tài tử

và đặc biệt thích nhứt là hơi Xuân và hơi Oán).

+ 1959 – 1963 : Được tuyển vào Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học

Pháp với cấp bực “Tuỳ viên Nghiên cứu” để nghiên cứu về ngôn ngữ âm nhạc

Việt Nam đặc biệt trong Đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole)

+ 1959 – 1965 : Giới thiệu Đờn ca tài tử trong tiết mục dành riêng cho tôi tại 2

hiệu ăn lớn : hiệu ăn La Table du Mandarin của anh Phạm Văn Mười và hiệu

ăn Bồng Lai của anh Bùi Văn Tuyền tại Vùng Champs-Elysees.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ).

Nhờ bà De Chambure trong lúc thăm Việt Nam bà có máy ghi âm tối tân bằng

âm thanh nổi hiệu Nagra ghi âm Đờn ca tài tử dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn

Hữ Ba và nhờ tiền tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Học nhạc với phương

pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh làm ra được 1 dĩa hát về nhạc Cung đình Huế

và 1 dĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam, xuất bản dưới nhãn hiệu dĩa hát của

Unesco, trong dĩa đó có những bài Tứ đại oán và Vọng cổ do Bạch Huệ ca,

trong dàn đờn người giữ cây đờn Kìm là bác Sáu Tửng.

+ 1963 – 1967 : So sánh âm nhạc Đờn ca tài tử với  Âm nhạc thính phòng của

nhiều nước khác trên châu Á (Trung Quốc – Nhựt Bổn – Triều Tiên – Ấn Độ)

+ 1968 – 1972 : Chức vụ Nghiên cứu sư, đã được mời dạy nhạc học trong

chuyên khoa Dân tộc nhạc học. Trong những năm này đặt trọng tâm nghiên

cứu vào các Kịch nghệ châu Á: Jing Xi (Kinh kịch Trung Quốc), Nôh, Kabuki

(Nhựt Bổn), Pansori (Triều Tiên), Hát chèo, hát bội, hát cải lương (Việt Nam)

+ 1972 : Trường Đại học Carbondale (Mỹ) có mời Nhạc sư Vĩnh Bảo, tôi và

Nhạc sĩ Phạm Duy sang dạy một khoá 3 tháng cho sinh viên. NS Vĩnh Bảo dạy

về cách đóng đàn và cách đờn theo truyền thống Đờn ca tài tử, tôi dạy về Lịch

sử và lý thuyết của âm nhạc Việt Nam nói chung và Đờn ca tài tử nói riêng,

Phạm Duy dạy về Dân ca Việt Nam (cả 3 miền). Trường tổ chức nhiều buổi

hoà nhạc Đờn ca tài tử cho sinh viên, kể cả các tổ chức Văn hoá của vùng do

NS Vĩnh Bảo và tôi đảm nhận.

+ 1973 : Trước khi trở về Việt Nam NS Vĩnh Bảo ghé Pháp và ở tại nhà tôi. Hai

anh em góp sức giảng dạy về Đờn ca tài tử cho Trường Đại học Sorbonne và

những trường Trung học cấp III ở vùng ngoại ô.

Trung tâm học nhạc Đông phương tổ chức nhiều buổi hoà nhạc cho Việt

kiều, trong dịp này hãng dĩa Ocora (thuộc Đài phát thanh Paris) mời NS Vĩnh

Bảo và tôi ghi âm một dĩa hát Đờn ca tài tử. Các chuyên gia Unesco sau khi

nghe dĩa hát Ocora rất thích và phái một chuyên gia ghi âm là Hubert de

Frayssex thực hiện một dĩa hát đặc biệt do Unesco tài trợ và được phát hành

dưới nhãn hiệu dĩa hát của Unesco, mục “Musical Sources” (Nguồn gốc âm

nhạc) đây là dĩa giới thiệu Đờn ca tài tử: NS Vĩnh Bảo đờn Tranh, tôi đờn Tỳ

Bà 2 bản Tây Thi, Cổ bản. NS Vĩnh Bảo độc tấu 3 bài Nam Xuân, Nam Ai,

Đảo ngũ cung và một phần bài Tứ đại oán, có đủ cả phần rao đầu.

+ 2010 : Cố vấn đặc biệt cho Uỷ Ban Thành lập Hồ sơ về Đờn ca tài tử để gửi

Unesco. Đã góp ý và sửa những sai lầm trong các cuộn phim về Đờn ca tài tử

của hồ sơ. Cung cấp những dĩa hát mang nhãn hiệu Unesco, trong đó có nhiều

tiết mục Đờn ca tài tử.

– Chương Mỹ Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Văn Hóa Bội Tinh hạng I – Cộng Hòa Việt Nam (1974)

– Giải thưởng UNESCO – CIM về Âm nhạc (1981)

– Huy chương Công dân ưu tú TP.HCM (1981)

– Fulbright Scholarship (1988) Bộ ngoại giao Mỹ sắp đặt cho dạy học trong một

năm tại Hololulu về Âm nhạc Dân tộc các nước truyền thống châu Á, đặc biệt

Âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

– Officier des Arts et des Lettres – Bộ VHTT Pháp (1991)

– Huy chương Vì Văn hoá quần chúng – Bộ VHTT Việt Nam (1991)

– Viện sĩ Thông tấn Hàn Lâm Viện Châu Âu Khoa học Văn chương Nghệ thuật

– Koizumi Fumio International Prize for Ethnomusicology (1994) Nhựt Bổn

– Huân chương Lao động hạng Nhất – Chủ tịch nước CHXHCNVN (1999)

– Chevalier de l’Ordre des Palmes Academiques – Bộ Giáo dục Pháp (1999)

– Giải thưởng Vinh danh nước Việt (2003)

– Giải thưởng Đào Tấn (2005)

– Giải thưởng Quốc tế do Thành phố San Francisco (Mỹ) về “Đã cống hiến trọn

đời cho việc nghiên cứu Âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

– Giải thưởng Phan Châu Trinh (2011)

– Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh (2013)

TRẦN VĂN KHÊ : BIOGRAPHIE EN FRANCAIS

TVK ĐỜN TY BA

CURRICULUM  VITAE

Nom : TRÂN

Prénom : Văn Khê

– Co-coordinateur du Projet de l’UNESCO. « The Universe of Music, a History ».

– Membre du Comité éditorial de la Collection des disques UNESCO.

– Membre d’honneur à vie du Conseil International de la musique (UNESCO).

– Ancien Directeur de recherche au Centre National de la Recherche Scientifique (CNRS).

– Ancien Professeur à l’UER de Musique et Musicologie, Université de Paris – Sorbonne.

Date de naissance : 24 juillet 1921

Lieu de naissance : Binh Hoà Dông, My Tho,

Tiên Giang, Viêt Nam

Adresse : 32 Huynh Dinh Hai, Binh Thanh (Viet Nam)

Téléphone et fax : (08) 3.551.1249

Email : trantruongca@yahoo.conm.vn

Sexe : Masculin

Nationalité : Vietnamienne, résident permanent en France

Eyay civil :  Divorcé

Quatre enfants :

Trân Quang Hai, né en 1944 (fils)

Trân Quang Minh, né 1946 (fils)

Trân Thi Thuy Tiên, née en 1948 (fille)

Trân Thi Thuy Ngoc, née en1950 (fille)

Sécurité sociale : en France  1 21 07 98 504 124 (58)

Sécurité sociale : aux Etats Unis  576 39 66 98

2

1958 : Doctorat (Lettres-Musique) UNIVERSITE DE PARIS- SORBONNE.

1951 Diplôme de l’Institut d’Etudes Politiques de Paris (Science-Po, Relations Internationales).

1943 : Premier certificat de Médecine (Université de Hà Nôi).

1942 : Certificat de P.C.B. (Université de Hà Nôi).

1941 : Baccalauréat (Philosophie) Lycée Pétrus Ky, Saïgon.

1940   : Baccalauréat (1ère partie) Lycée Pétrus Ky, Saïgon.

EXPERIENCE PERSONNELLE

Depuis 1982              Membre du Conseil Scientifique de l’Institut de recherche sur

la Musique et la Danse à Ho Chi Minh Ville

1960-1988 Chercheur au CNRS (Centre National de la Recherche

1972-1988 Directeur de recherche.

1968-1972 Maître de recherche.

1964-1968 Chargé de recherche.

1960-1964 Attaché de recherche.

2)         Enseignement

1999-2003                   Professeur à l’Université privée Hùng Vuong à Ho Chi Minh Ville

1996 mai Professeur invité : Classe supérieure de Musique de Cour du Viêt Nam,

Université de Huê.

1992 oct-nov Professeur invité à l’Institut bouddhique Linh Son de Taïwan.

1991 sept-janvier 1992 Professeur invité à « l’Université des Arts » de Taiwan (Taipei)

1989 jan-mars Professeur invité à l’Université des Philippines.à Manila

1988 jan-sept Fulbright Scholar, visiting Professor

University of Hawaï at Manoa, Honolulu, USA.

3

1966-1988 Professeur à l’Université de Paris-Sorbonne.

Ethnomusicologie et Introduction aux Traditions Musicales en Asie.

Licence   :1968 – 1988

Maîtrise   :1968 – 1880

Doctorat :1970 – 1988 : Direction des travaux de recherche pour les

candidats à la Maîtrise et aux Doctorats (3ème cycle, Doctorat d’Etat).

1959 – 1988 Professeur, Directeur d’Etudes, puis Président du Centre d’Etude de

Musique Orientale (créé sous les auspices de l’Institut de Musicologie

de Paris), Université de Paris-Sorbonne.

1984 – 1987 Directeur du Séminaire sur « Les chants alternés en Asie du Sud

Est ».

Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales.Paris

1977 – 1987 Tous les ans, pendant une période de 2 mois.

Professeur invité à l’Institut de Musicologie du Viêt Nam.

1975 – 1980 Professeur de « Musique bouddhique du Viêt Nam dans le cadre du

cours de Musique liturgique » à l’Institut catholique de Paris.

1983 août Professeur invité à l’Université de Hawaï à Manoa, Honolulu, Etats

(Cours d’été) : « Introduction aux traditions musicales de l’Asie ».

1983 mai Professeur invité à l’Université de Western Australia, Perth,

Séminaire sur : «L’éducation musicale ».

1981 Ocrobre Professeur invité à l’Académie Listz (Budapest, Hongrie).

1979 Mars Professeur invité à l’Académie Listz ( Budapest, Hongrie )

1979  et 1977 (Cours d’été) : « Musique vietnamienne à l’Ecole Interculturelle »

de Venise.

1977 (été) Cours sur les Musiques d’Asie, en particulier sur la musique coréenne.

Camp des Jeunesses Musicales Internationales à Grozgnan, Yougoslavie.

1973 et 1972 (août) Professeur invité à Vicenza (Italie).

1972 (octobre) Professeur invité à Carbondale (University of Southern Illinois) USA.

1971 Professeur invité à la Faculté de Musique, Université de Montréal, PQ,

4

Canada.

1968 (sept) Professeur invité à l’Institute of Musicology, (UCLA) University of

California, Los Angeles, Etats Unis.

2) Conférences dans plusieurs Universités : entre autres.

1976-1978     Ecole de Musique et Institut de Musicologie du Viet Nam à Hà Nôi

1976-2002        Universités de Hô Chi Minh Ville, tous les ans à l’occasion

des missions du  CNRS au Viet Nam.

1994-1996                   Université de Huê

1990                      Université de Montreal

1988 (avril-sept) Université de Berkeley (California) Etats Unis

(septembre) Université de Maryland, Baltimore County, Etats Unis.

1987 (juin) Conservatoire Central de Beijing (Pékin).

Conservatoire de Tian Jian (Rép. Populaire de Chine).

Conservatoire de Xian (Rép. Populaire de Chine).

Institut de Recherche sur la Musique à Beijing (Pékin).

1985 (août) Université de Antatanarivo (Madagascar).

1985 (juillet) Kunitachi College (Japon).

1984 (novembre) Université de Wellington (Nouvelle Zélande).

Bibliothèque Nationale à Wellington.

1984 (mars) Université de Venise (Italie)

1983 (avril) Université de Venise

1982 (juin) Université de Harvard (Boston), Etats Unis.

1981 (septembre) Université de Venise.

1981 (mai) Conservatoire Tchaikowsky (Moscou)

Classe du Professeur Mikhailov.

1980 (août) Institut National de Musique (Alger) Algérie.

1976 (septembre) National Center for the Performing Arts, (Bombay), Inde.

1976 (juin) Université de Téhéran (Iran).

1974 (août) Conservatoire de Saïgon (République du Viêt Nam).

Université bouddhique Van Hanh (Saïgon).

Institution catholique Taberd (Saïgon).

5

Centre Culturel français (Saïgon).

1974 (juillet) Université de Sao Paulo, (Brésil).

1972 (août) Université de Shiraz, (Iran).

1966 (mai) Sangeet Natak Akademi, (New Delhi) Inde.

1961 (mai) Sangeet Natak Akademi, (New Delhi) Inde.

1961 (avril) Association des musiciens traditionnels (Taïpei), Taïwan.

1961 (avril- mai) Université d’Ueno (Tokyo), Japon.

Ecole de Koto (Maître Nakashima, Maître Yuize Shinichi).

3) Emissions de Radiodiffusion et de Télévision.

1976 (jusqu’à ce jour 2003)

TV Ho Chi Minh Ville (HTV7, HTV 9), TV de Can Tho,

TV de Binh Duong, Hanoi (HTV1, HTV3, HTV4) plusieurs

programmes par an, sur les traits caractéristiques de la

musique traditionnelle du Viet Nam, les marionnettes sur

eau, la gastronomie vietnamienne

Radio- Canada   Emission de Mme L. Chalifoux  » Une

oreille sur le monde » Retransmission en différé de la soirée

organisée par Philmultic à Red Path Hall, Mc Gill

University, le 24 Octobre 2001, sur  » Musique

vietnamienne, Musique chinoise avec la participation du

Prof. Tran Van Khe, Liu Fang et Duc Thanh

Radio Canada : Emission de Mme. L. Chalifoux :

«L’improvisation dans la musique vietnamienne» avec la

participation de M. Duc Thành et Mlle Ngoc Lan.

Interviewé par Mme Elizabeth. Gagnon.

1997 (18 juin) Radio Canada : Emission de L. Chalifoux : «Une oreille sur le monde».

Interviewé par Elizabeth Gagnon sur « La musique vietnamienne Hier et

Aujourd’hui ».

1997 2 émissions télévisées : TV Hô Chi Minh ville :

– Traits de beauté dans la musique vietnamienne ;

6

– Le « Dàn kim » ou « Dàn nguyêt », luth en forme de lune.

1996-1995-1992 Chaque année, une émission sur la musique traditionnelle du Viêt Nam

avec la participation du groupe « Tiêng Hat Quê Huong »

(Le chant de la Terre Natale).

1995 Radio Canada : Emission de Mme L. Chalifoux : « Une oreille sur le

monde ».

Interviewé par Mme E. Gagnon sur « Les différents genres de musique

traditionnelle du Japon » : Gagaku, Nô, Shômyô etc…

1994 Radio Canada : Emission de Mme L. Chalifoux : Interviewé par

Mme E. Gagnon sur :

« La voix dans la musique traditionnelle du Viêt Nam ».

1992 Télévision de Hô Chi Minh ville : « Musique traditionnelle

du Viet Nam avec la participation du groupe « Tiêng Hat Quê

Huong ».

1989 (mars) A partir du 17 mars : pendant 3 semaines consécutives,

(Tout le vendredi et dimanche soirs)

5 émissions télévisées : « Causeries sur la musique traditionnelle au Viêt Nam »

avec illustrations par le conférencier et par des groupes de musique

traditionnelle Télévision de Hô Chi Minh ville.

1989 (août) 5 émissions de Radiodiffusion sur la musique et les arts du spectacle

Station de Radiodiffusion de Hô Chi Minh ville.

1989 Et tous les ans depuis 1976 sauf pour les années 1985 et 1988,

« Télévision de Hô Chi Minh ville » une heure d’émission sur la

musique traditionnelle du Viêt Nam, à l’occasion de chaque

mission du CNRS. Programme retransmis souvent par la Télévision

de Hà Nôi, Télévision Quang Nam, Dà Nang.

1988 (septembre) Radiodiffusion de l’Université de Washington DC. Interview de

M. Trân Van Khê par M. Mike Cuthbert sur la musique traditionnelle

du Viêt Nam avec illustrations en direct par M. Trân Van Khê.

1988 (avril) Télévision de Honolulu, Channel 2 : Interview de M. Trân

Van Khê par Mme E. Temmingban sur son « Atelier de

musique traditionnelle du Viêt Nam », à l’Ecole élémentaire

Queen Lydia Liliuokalani à Honolulu.

1987 (juillet) Radio & Télévision du Québec :

Musique vietnamienne.

Radio : Interviewé par M. Benoit Marleau.

7

Télévision : Interviewé par M. Michel Rivard.

Radio de Montréal :

Entretien avec Mme Elizabeth. Gagnon sur la

« Musique Traditionnelle du Viêt Nam ».

Illustration par le conférencier au Dàn Tranh vietnamien.

1985 (octobre) Télévision et Radiodiffusion de Antatanarivo (Madagascar).

Table ronde sur l’identité culturelle et sur la situation de la  musique

au Madagascar.

1985 (juillet) NHK (Tokyo) : Emission de télévision sur quelques instruments de

musique du Viêt Nam. Illustration par le conférencier.

NHK (Programme en langue vietnamienne) :

Interview sur la musique et la culture au Viêt Nam en 1985.

1985 (avril) France – Culture :  Emission sur Les contes vietnamiens.

1984 (mars) du 3 mars à 20 heures au 4 mars à 6 heures du matin :

« Nuit du Viêt Nam » : Présentation sur la scène de la Maison des

Cultures du Monde :

Des trois formes du théâtre musical du Viêt Nam : Hat Chèo, Hat

Tuông, Hat Cai Luong.

Présentation des pièces et des extraits de ces trois formes de théâtre

joués par les artistes venus spécialement du Viêt Nam, avec

M. Jacques Dupont.

Retransmission en direct par France Musique.

1983 (mai) Trois causeries sur « La musique et le théâtre du Viêt Nam », illustré

par le conférencier pour La Radiodiffusion de l’Université de

Western Australia, Perth, Australie.

1979 (octobre) Cinq causeries de 45 minutes chacune sur la musique au Viêt Nam

pour la Radio Budapest, Hongrie.

1979 (octobre) Télévision Melbourne : Journée Internationale de la Musique :

Déclamation d’un extrait de Kim Van Kieu,et accompagnement au Dàn Tranh ;

Congrès international à Perth: Conférence sur la Musique du Viêt Nam par

le conférencier (75 minutes).

Retransmission sur la Radiodiffusion Perth, Australie.

1976 (juin) Radio Télévision Téhéran : Débat retransmis en direct sur la valeur

de la Musique traditionnelle de l’Iran.

8

1975 (août) Radio Téhéran : Concert de Musique vietnamienne donné au «

Festival de Shiraz », Iran,  par M. Trân Van Khê et sa fille

Mlle Trân Thi Thuy Ngoc, retransmis en direct.

1974 (juillet) Radio Perth : Retransmission en différé du Concert de Musique

vietnamienne donné à l’occasion du Congrès de l’ISME (International

Society for Music Education).

1966 (avril) Television all India Radio : Sur le Congrès « Musics in Asia » tenu à

Manille (Les Philippines), avec M. Jack Bornoff, Secrétaire Exécutif du

Conseil International de la Musique à l’UNESCO.

Sur le Dàn Tranh, cithare vietnamienne à 16 cordes, et le Dàn Nhi,

vièle vietnamienne à 2 cordes.

All India Radio   : Programme en langue anglaise et ;

Programme en langue française : Musique vietnamienne.

1965 (avril) Programme en 6 cahiers sur la Musique Arabe, avec M. A Shiloah,

pour le GRM (Groupe de Recherche Musicale) dirigé par M. Pierre. Schaeffer.

1964 et 1962 Télévision française   :   Programme sur les instruments de

musique de Mme F. Vernillat :  Présentation des instruments

de musique du Viêt Nam :  Dàn Tranh et Trông (la cythare

et le tambour).

1963 Télévision française : Programme « La Musique et la Vie »

de M. Daniel.Lesur : Présentation d’instruments

vietnamiens : Dàn Tranh,

Dàn Nguyêt, Dàn Nhi, Trông.

Ce programme et celui enregistré à Tokyo par NHK en 1961 ont été

présentés à Vienne en 1966 à une Rencontre Internationale sur le

thème « Utilisation des moyens audio visuels pour l’enseignement

de la Musique ».

1962 (février) Radio Rabat (Maroc) : « La musique vietnamienne ».

1981 (mai) Télévision NHK (Tokyo, Japon).

Programme de Télévision avec le regretté Professeur Koizumi Fumio

(conférencier et interprète).

Mlle Hirai Sumiko (Koto) et Trân Van Khê (Dàn Tranh).

Techniques et répertoires du koto japonais et du Dàn

Tranh    vietnamien.

1961 (mai) All India Radio (New Delhi, Inde) : Musique Vietnamienne.

Programme en anglais et en français.

9

1958 – 1959 Radio  BBC : Programme en Langue Vietnamienne ;

Cinquante émissions en langue vietnamienne sur :

«La Musique et le Théâtre au Viêt Nam : Musique populaire,

Musique traditionnelle, Musique moderne».

«Légendes sur quelques instruments de musique en Asie».

AFFILIATIONS PERSONNELLES

Société Française de Musicologie

Société Internationale de Musicologie

Société Française d’Ethnomusicologie

Society for Ethnomusicology

Society for Asian Music

International Society for Music Education (ISME)

Société des Gens de Lettres (France)

International Council for Traditional Music (ICTM)

Conseil International de la Musique (CIM, UNESCO)

(ancien Vice-Président)

(Ancien Vice-Président et actuellement Membre d’honneur à vie)

1) Co-coordinateur pour l’Asie du Projet du CIM (UNESCO) : « The

2) Membre du Comité directeur de ce même Projet (UMH) ;

3)        Membre du Comité éditorial pour les disques « Collection de l’UNESCO » ;

4)       Membre du Comité éditorial pour les disques de la Collection  » OCORA  »

5) Membre du Comité de Sélection de la Tribune des Musiques d’Asie (CIM –

6) Membre du Jury pour le Prix de la ville d’Insbrück (Autriche) depuis 1984

Universe of Music, A History » (UMH) ;

UNESCO) ;

jusqu’à ce jour ;

Prix, Distinctions honorifiques, Bourses de voyage ou d’études

1938 Bourse de voyage aller-retour Saïgon – Hà Nôi par le transindochinois.

(Voyage et séjour à Tourane, (Dà Nang actuel), Huê, Hà Nôi) décernée au

meilleur élève de 3ème en composition française.

1941 Bourse de voyage meilleur élève des classes terminales (meilleurs

résultats en compositions semestrielles, au Baccalauréat et sur

proposition du Conseil des Professeurs.

1949 2ème Prix International au Concours d’instruments folkloriques

au Festival de la Jeunesse à Budapest (Hongrie) avec le Dàn co, Vièle

vietnamienne à 2 cordes, et le Dàn Tranh, cithare vietnamienne à 16 cordes.

10

1960 Grand Prix National du Disque 1960, Académie du Disque français.

Prix des Universités de France, pour le Disque « Musique du Viêt Nam ».

« La Boîte à Musique » N° LD 365.

1969 Deutscherschallplatten Preis pour le disque Viêt Nam.I

Disque Bärenreiter – Musicaphon, N° BM  LD 2022. UNESCO COLLECTION.

1970 Grand Prix National du Disque, Académie du Disque Français

Prix de l’Ethnomusicologie. Disque VIET NAM I

Bärenreiter – Musicaphon, N° BM LD 2022. UNESCO COLLECTION

1974 Diplôme d’honneur de l’Association des Artistes du Sud Viêt Nam,

signé par les Artistes prestigieux Madame Phùng Ha,-Présidente,

M. Nam Châu,Vice- Président,  Mademoiselle Kim Cuong,

Secrétaire Générale.

Elu « Artiste d’honneur » par l’Assemblée Générale de cette Association.

1974 Médaille des Lettres et des Arts 1ère Classe.

Médaille de la Culture, 1ère Classe.

décernées par le Gouvernement de la République du Viêt Nam.

1975 Doctor in Music (Honoris Causa) University of Ottawa, Canada.

1981 Prix UNESCO – CIM de la Musique 1981.

1981 Médaille de Citoyen émérite de Hô Chi Minh ville, décernée par le Comité

du Peuple de Hô Chi Minh ville, à la réception donnée en l’honneur du lauréat

du Prix UNESCO – CIM.

1988 Fulbright Scholarship pour 8 mois d’enseignement et de recherche à

l’Université de Hawaï à Manoa, Honolulu, Etats Unis.

1991 Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture, de la

Communication du Gouvernement de la République Française.

1993 Membre correspondant de l’Académie européenne, des Sciences, des

Lettres et des Arts.

1994                       International Prize Koizumi Fumio for Ethnomusicology

1994 Médaille  » Pour l’héritage de la culture du peuple par le Service de

la Culture et

de l’ Information de Ho Chi Minh Ville

1999 Docteur en Musicologie (Honoris causa ) Université de Moncton

Brunswick) Canada

1999 Médaille du Travail, 1ère Classe décernée par le Président de la

11

1999 Récompense et diplome de félicitation décernés par le Comité

2000 Chevalier de l’Ordre des Palmes académiques (Ministère de

2003                     Diplôme de félicitation décerné par le Comité du Peuple de Hô Chi Minh ville

République de la

RS du Viet nam

populaire de la Province de Thua Thiên , pour les services rendus à

la Culture de la Province depuis 25 ans:: faire connaitre la musique

et le théâtre de Huê dans le monde et contribuer à la renaissance de

la Musique de Cour à Huê

l’Education du Gouvernement français

rendus à la Ville dans le domaine culturel

En dehors de la liste des publications jointe à ce document, voici la liste des disques de musique

vietnamienne que j’ai publiés en France et en Europe.

1) 1950- 1951      14 disques 78 tours, Marque ORIA, fabriqués en France, diffusés à Saïgon

; 28 chansons nouvelles composées par les Compositeurs : Lê Thuong, Pham Duy, Vo Duc

Thu, Nguyên Huu Ba, Hoàng Quy, Thâm Oanh, Luu Huu Phuoc etc….

Chant   : Trân Van Khê sous le Pseudonyme de Hai Minh.

2) 1959 : « LA BOITE A MUSIQUE » N° LD  365  :  « Musique du Viêt Nam ».

Grand Prix National du Disque 1960 Prix des Universités de France.

3)            1961   « LA BOITE A MUSIQUE »  N° LD 434 Face A.

4) 1969  :   « BARENREITER – MUSICAPHON »  N° BM  LD 2022.

« Viêt Nam I », UNESCO COLLECTION.

Académie du Disque Français 1970. Prix d’ethnomusicologie.

5) « BARENREITER – MUSICAPHON »  N°  LD 2023 :

Deutscher Schallplatten Preis 1969 – Grand Prix National du Disque,

« Viêt Nam II », UNESCO COLLECTION.

6) Disque « OCORA » N° OCR 68 : « Musique du Viêt Nam, Tradition du Sud ».

7) Disque « PHILIPS » N° 6586 028 : “South Viêt Nam, Entertainment Music”.

UNESCO COLLECTION, Musical Sources.

8) Disque « OCORA »  N°  558512 : « Viêt Nam, Nouvelle Musique Traditionnelle ».

9) Disque « EMI ODEON » Viêt Nam, N° 064 – 18310 « Ca Trù and Quan Ho ».

12

UNESCO COLLECTION, Musical Atlas.

10) Disque « PHILIPS » N°  65 86 035, « Hat Chèo Vietnamese Traditional Folk Theatre ».

UNESCO COLLECTION, Musical Sources.

11) Disque « ARION »  N° ARN 38783 : « Viêt Nam, Instruments et ensembles de Musique

traditionnelle ». Maison des Cultures du Monde.

12) Disque « EMI ODEON », N° 260 28 21 : “Viêt Nam, Court Theatre Music”.

UNESCO COLLECTION, Musical Atlas.

13) Disque « ACCT » N° 18110 (Agence de Coopération Culturelle et Technique).

« Musique du Viêt Nam ».

14) Compact Disc AUVIDIS N° D8022  (AD – 090) : “Viêt Nam Hat Chèo”+.

UNESCO COLLECTION

15) Cassette tirée du Compact Disc N°  D 8022, Cassette N°  58022 : «Viêt Nam Hat Chèo».

16) Disque « OCORA »  N° OCR 69, « Inde du Nord » Pandit Ram Narayan et le Sarangi.

Texte du commentaire : M. Trân Van Khê.

17) Disque « CETO SELAF, ORSTOM »  N° 751 : «Narendra Bataju, Sitar, Surbahar».

Texte du commentaire : M. Trân Van Khê.

18) Compact Disc AUVIDIS  N° D 8035  (AD 090), Viêt Nam « Ca Trù, & Quan Ho ».

UNESCO COLLECTION : Musiques et Musiciens du Monde.

19) Cassette tirée du Compact Disc  N° 8035, Cassette  N° 58035.

« Viêt Nam : Ca Trù và Quan Ho”.

20) Coimpact disc OCORA C 580043, « Viêt Nam Tradition du Sud », par

M. Nguyên Vinh Bao et M. Trân Van Khê : Diapason d’or.

21) CD OCORA  C 560044 : « Viêt Nam Poésie et Chants » par M. Trân Van Khê et

Mlle Trân Thi Thuy Ngoc.( 4 étoiles: Le Monde de La Musique)

22)         CD OCORA C 560045 : « Viêt Nam le Dàn Tranh » ; Musique d’hier et d’aujourd’hui.

Mlle Nguyên Thi Hai Phuong et M. Trân Van Khê.

Grand Prix de la Critique allemande, Mention « Choc » Le  Monde de la Musique.

23) CD AUVIDIS  D 8949  UNESCO COLLECTION : « Viêt Nam, Tradition du Sud »

par M. Nguyên Vinh Bao et M. Trân Van Khê..

24) CD INEDIT  W 260070 : « Viêt Nam Ca Trù »; Commentaire de M. Trân Van Khê.

25) CD INEDIT W 260073 : « Viêt Nam. Tradition de Huê. Musique de Cour et

13

Musique de chambre ».

26) CD AUVIDIS  D  8070 UNESCO COLLECTION : « Viêt Nam Tradition du Sud ».

M. Trân Van Khê et M. Nguyên Huu Ba.

27)        CD INEDIT : « Viêt Nam Musique boudhique »,  Commentaire M. Trân Van Khê.

28)     CD Phuong Nam Film. GS Tran Van Khe ke chuyen  truyen thuyet ve cac

cay dan (Professeur Tran Van Khe raconte les légendes relatives aux divers

instruments de musique

Sur le chant « Dhrupad » avec les Frères Dagar.

Nous avons filmé l’accordage du luth « Tanpura », du tambour Pakhawaj et le chant

Dhrupad dans le Râga Todi et le cycle rythmique « Chautala »à 12 unités de temps. Nous avons

filmé également la lecture du poème qui sera chanté dans le style « Dhrupad » et des exemples de

chant dans les styles « Dhrupad, Kheyal, Thumri ». M. Gilbert Rouget, dans la partie réservée à

la filmographie de son article « Ethnomusicologie » dans l’Encyclopédie de la Pléiade sur

l’Ethnologie Générale, a commenté ce film dans ces termes :

« Le tournage, réalisé dans les meilleures conditions techniques, n’a souffert d’aucune

interruption fâcheuse et le développement de la pièce entière a été intégralement respecté, et

y compris le minutieux accordage préalable du tambour qui accompagne le chant. Ce film et

quelques autres plus courts, dûs  également à l’initiative de M. Trân Van Khê et réalisés par

le Service de la Recherche Musicale de l’O.R.T.F, doit être considéré comme l’un des plus

précieux et des plus importants documents d’ethnomusicologie qui n’aient jamais été recueillis »

(Cf : Gilbert Rouget « Ethnomusicologie » in Ethnologie Générale », J. Poirier

ed. Paris, Gallimard, 1968, pages 1339 – 1390, surtout les pages 1389 et 1390.

« Histoire de Riz »

a) 1ère partie : chez les Ifugao (Les Philippines),

b) 2ème partie : au Viêt Nam racontées en français par M. Trân Van Khê.

Un film de M. Didier Mauro et Mlle Hô Thuy Tiên, Production : ORCHIDEES.

« Dis-moi, Philippines »

raconté en français par M. Trân Van Khê.

Un film de M. Eric Dazin, Production : ORCHIDEES.

 » Portrait du Professeur Tran Van Khe  »

3 films:

1.-réalisé par Viet Binh, TV de Ho Chi Minh Ville

2.-réalisé par Bao Ngoc TV 3 de Hanoi

3.-réalisé par Le Van Duy Service de Cinématographie de Ho Chi Minh Ville

14

C. BANDES  MAGNETIQUES

1) Les Traditions musicales de l’Asie. (Textes en français).

2) « Le Dhrupad : un art vocal de l’Inde du Nord (Textes en français).

3) Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindustani (Textes en français).

4) « La musique arabe », en 6 cahiers, avec la collaboration de M. Shiloah.

(Texte en français).

Ces 4 études ont été préparées par M. Trân Van Khê pour le GRM (Groupe de Recherche

Musicale) de l’ancien O.R.T.F., dirigé par M. Pierre Schaeffer, à l’intention des chercheurs,

et conservées dans les Archives de l’I.N.A. (Institut Nationale Audiovisuel).

D. BANDES  VIDEO

En collaboration avec le Service Audiovisuel de l’Université Paris-Dauphine, (I.N.A.L.C.O),

Institut National des Langues et Civilisation Orientale, en particulier avec M. Guy Senelle,

M. Didier Autin, M. Paul Hervé :

1) Le «Sheng » : Orgue à bouche chinois avec M. Cheng Shui Cheng.

Historique, Organologie, Accord du « Sheng ». Présentation en français par

M. Trân Van Khê.

Aperçu sur « L’Orgue à bouche en Asie ».

2) Le « Qin », cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets, avec Mlles Liu et Yip Ming Mei.

Historique, Techniques de jeu. Quelques pièces classiques du Répertoire du Qin.

Présentation en français par M. Trân Van Khê.

3)             Le « Dàn Tranh », cithare vietnamienne à 16 cordes, avec le concours de

Mlle Trân Thi Thuy Ngoc.

Historique, Description. Organologie. Techniques de jeu. Quelques pièces

du Répertoire traditionnel avec des explications en français sur les « Diêu »

(modes) utilisés dans la tradition du Sud. Etude comparative avec le «Sheng »

chinois, le Koto japonais, le Kayageum coréen et le Jatga mongol.

4) Le  « Dàn Tranh », même sujet avec d’autres pièces classiques du Répertoire.

Avec le concours de Mlle Trân Thi Thuy Ngoc. Présentation et explications

en français. (Bande réalisée pour le Centre d’Etude de Musique Orientale).

5)         Documents recueillis en vidéo au Viêt Nam. « Musique populaire et

Théâtres au Viêt Nam en 1982 ».

a)         Anniversaire du Dieu Patron du Théâtre traditionnel du Sud, à Hô Chi Minh

ville (29/9/1982).

15

b)        Extrait de la pièce « Thân Nu dung Ngu Linh Ky » (la guerrière « Thân Nu » offre

à Phan Lê Huê l’étendard aux cinq miracles pour sauver son bien aimé

Tiêt Ung Luông  (29/9/1982).

c) Musique populaire de la région de Huê (Village de Xuân Long) (19/2/1982).

d) Théâtre traditionnel «Hat Tuông », Tradition de Quang Nam.

Maquillage, gestes et attitudes. Combat réglé. (25/10/1982).

e) Théâtre traditionnel « Hat tuông »Tradition de Binh Dinh. Musique, Jeu de scène,

Démonstration de gestes stylisés, des différentes manières de déclamer par le

Maître Vo Si Thua (27/10/1982).

f) Théâtre populaire du Centre « Hat bài choi ».Démonstration et extraits de

pièces traditionnelles (28/10/1982).

g) Visite à Mme Phùng Ha (Artiste du Peuple) au mois de novembre 1982.

La Vie musicale au Viêt Nam en 1987.

a) Le rythme traditionnel au service de la musique de danse et de la musique moderne,

par M. Van Thinh.

Exposé, démonstration et illustration. Hà Nôi le 10 novembre 1987.

b) Invention du Lac Câm (instrument de l’Oiseau Lac, un monocorde dans sa forme

nouvelle, associé à une cithare à 12 cordes et à 2 luths à 4 cordes) par

M. Mac Tuyên.

Exposé sur les différents essais et expérimentations, démonstrations des nouvelles

possibilités dans les techniques de jeu, les positions de l’instrumentiste, et

illustrations exécutées par plusieurs musiciens, la plupart Professeurs au Conservatoire de Hà

Commentaire des Professeurs Luu Huu Phuoc et Trân Van Khê, (17 novembre 1987).

c)   Soirée de musique traditionnelle du Viêt Nam à l’Ambassade de France à

Hà Nôi le 17 novembre 1987. Présentation en français par  M. Trân Van Khê.

d) La musique traditionnelle et les chansons populaires dans les classes

maternelles à Cu Chi et à l’école Lê Loi, Hô Chi Minh ville le 27 novembre 1987.

e) Concert donné en l’honneur de M. Trân Van Khê par le groupe

« Tiêng Hat Quê Huong », l’ensemble « Tao dàn ». Programme établi et

présenté par Mme Pham Thuy Hoan, Professeur émérite de Musique traditionnelle au

Conservatoire de Hô Chi Minh ville le 29 novembre 1987.

16

f)           Récital de musique pour « Dàn Tranh », cithare à 16 cordes par

Mlle Hai Phuong, Musique traditionnelle et compositions nouvelles par

Mme Pham Thuy Hoàn le 30 janvier 1987.

g)          Le groupe des Percussions « Phù Dông » à Hô Chi Minh ville le 4 décembre 1987.

h)          Fête en l’honneur de M. Trân Van Khê, organisée par 3 groupes de jeunes

« Tiêng Hat Quê Huong », « Tao Dàn », « Binh Thanh » le 6 décembre 1987.

i)            Soirée de musique traditionnelle du Viêt Nam au Consulat Général de France à

Hô Chi Minh ville le 7 décembre 1987. Présentation en français par M. Trân Van Khê.

j)        Am nhac truyên thong Viêt Nam (Musique traditionnelle du Viêt Nam)

à Montréal les 19 et 27 avril 1987.

Enregistrements en vidéo en 1989.

1) 5 émissions sur la musique traditionnelle du Viêt Nam, enregistrées pour l’Institut de

Recherche sur la Musique et la Danse et diffusées par la Télévision de Hô Chi Minh ville le 5

mars 1989. Conférencier :  Professeur Trân Van Khê, avec des illustrations musicales faites par

le onférencier et par quelques musiciens M. Duc Thành (monocorde) et le Groupe Phù Dông

2) Réunion du groupe de poètes « Quynh Dao » en l’honneur de  M. Trân Van Khê le 2

septembre 1989 organiséepar la poétesse Tôn Nu Hy Khuong (Vidéo NTSC).(depuis 1989

jusqu’à ce jour une ou deux fois par an)

3) M. Luu Huu Phuoc, Sa vie, Son œuvre, Son art » Conférences avec  illustrations

musicales par les différents groupes artistiques du Viêt Nam et par le conférencier au Théâtre de

la Ville (Saïgon – Hô Chi Minh ville) les 11 et 12 septembre 1989, environ 6 heures de vidéo.

4)         « Nuit de la Mi-Automne », avec comme thème «Ô lune, s’il te plaît, descends pour

t’amuser avec moi » organisée par Mme Pham Thuy Hoan, pour les enfants à l’occasion de la

Fête de la Mi-Automne. M. Trân Van Khê a tenu un rôle improvisé, celui du « Vieillard

Immortel », (vidéo NTSC).

Enregistrements en vidéo en 1990.

1) « International Symposium of IMS » (International Musicological Society) in

Osaka, Paper on “International Reception of Music in Vietnamese Tradition” le 24 juillet 1990.

2) “First Forum of Asian and Pacific Music” in Kobe, Hyôgo Prefecture (Japon)

du 28 juillet 1990.

3) Célébration du 70ème anniversaire de M. Trân Van Khê par les poètes et

17

poétesses duGroupe « Quynh Dao » organisée par Tôn Nu Thuy Khuong le 14

4) Présentation de la Musique traditionnelle du Sud : « Dàn Tài Tu ».

Télévision de Cân Tho, enregistrement à Hô Chi Minh ville le 16 novembre 1990).

5) « Soirée en l’honneur de M. Trân Van Khê ». Groupe artistique « Tiêng Hat

Quê Huong » dirigé par le Professeur Mme Pham Thuy Hoan le 16 novembre 1990.

6)   Causerie du Professeur Trân Van Khê « Sur ses conférences et concerts à

l’étranger » pour les Amis « Quynh Dao » à Thuy Khuong Trang,

Hô Chi Minh ville le 22 novembre 1990.

7)    Anniversaire du Grand dignitaire de Cour Nguyên Tri Phuong, arrière

grand-père maternel du Professeur Trân Van Khê, à Phuong Buu Hôi, pronvince

de Biên Hoà, Dông Nai le 2 décembre 1990.

8)   Enregistrement pour la Télévision de Hô Chi Minh ville « Emission sur le

Groupe « Tiêng Hat Quê Huong », enregistrement le 1er et 2 décembre 1990,

diffusion.( depuis 1990 jusqu’à ce jour un ou plusieurs programmes artistiques par an)

Bandes réalisées en 1994.

Ban sac dân tôc, Âm nhac Viêt Nam (identité culturelle dans la musique vietnamienne).

Interview de M. Trân Van Khê par M. Nguyên Nha, Hô Chi Minh ville.

Âm nhac truyên thông Viêt Nam (Musique traditionnelle du Viêt Nam) à Montréal,

Canada le 4 juin 1994.

DOCUMENTS RECUEILLIS SUR LE TERRAIN DEPUIS 1976.

Plus de 400 cassettes de 90 minutes, soit près de 600 heures sur les berceuses,

chants de travail, chants alternés, musique traditionnelle des 3 régions, les arts

du spectacle, la musique nouvelle, les communications scientifiques à l’Institut

de Musicologie, les rencontres avec les musiciens, artistes et poètes vietnamiens,

les festivals populaires, les concours de musique et de danses traditionnelles etc…

Documents déposés en partie aux Archives Sonores de l’ancien CeDRASEMI

(Centre de Recherche sur l’Asie du Sud Est et du Monde insulindien) à

Valbonne, à l’Institut de Musicologie du Viêt Nam, (Antenne du Sud à

Hô Chi Minh ville) et dans la Collection privée de M. Trân Van Khê en France.

Plus de 5000 diapositives, photos en couleurs et en noir et blanc, sur les mêmes thèmes.

Environ 300 articles écrits en vietnamien,en français et en anglais sur la musique

populaire, la musique d’art, les arts   du spectacle, les questions théoriques dans la

18

tradition musicale du Viêt Nam, publiés dans des revues spécialisées.

COLLOQUES, CONGRES INTERNATIONAUX.

Depuis plus de 30 ans, j’ai participé à plus de 200 colloques et Congrès Internationaux.

Ce serait trop long de donner ici la liste complète de ces rencontres internationales. Citons

A) Les Congrès des Institutions Internationales.

1) Conseil International de la Musique.

Depuis 1958 jusqu’à ce jour : toujours présent aux Assemblées Générales et aux Congrès,

avec au moins une communication, chaque fois :

Paris 1958, Paris 1960 : Roma 1962, Hambourg 1964, Rotterdam 1966, New York 1968,

Moscou 1971, Genève 1973, Ottawa, Montreal 1975, Bratislava, Prague 1977, Perth,

Melbourne, Sydney 1979, Budapest 1981, Stockholm 1983, Berlin Est (DDR) 1985,

Brasilia (Brésil) 1987, Paris 1989;

2) IFMC (International Folk Music Council et depuis 1983).

ICTM (International Council for Traditional Music).

Jésuralem (Israël) 1961,  Honolulu (Etats Unis) 1977, Oslo, Norvège 1979, Seoul

(Corée du Sud) 1981, New York 1983, Stockholm – Helsinki 1985, Berlin Est

(DDR)1987, Schladming (Autriche) 1989.

3) Société International de Musicologie.

New York 1961, Copenhague (Danemark) 1972, Berkeley (Etats Unis) 1977, Strasbourg

4) International Society for Music Education.

Perth (Australie) 1979, Varsovie (Pologne) 1980.

5) International Institute for Comparative Music Studies and Documentation  :

Berlin Ouest.

Berlin 1965, 1967, 1971, 1986, 1988.

B) Congrès organisés à l’occasion des Tribunes de Musiques d’Asie et d’Afrique.

Alma Ata (Kazakhstan, URSS) 1973, Accra (Ghana) 1975, Manila (Les Philippines)

1976, Bagdad (Irak) 1979, Pyong Yang (RPD de Corée, Corée du Nord) 1983,

Ulan Bator (R.P. de Mongalie) 1985, Hô Chi Minh ville (RS du Viêt Nam) 1990. Bombay

19

C) Congrès sur le thème « Préservation et Présentation des Traditions  Musicales ».

Téhéran (Iran 1961, Berlin Ouest 1965, Berlin Ouest 1967, Lisbonne (Portugal) 1971,

Montréal (P.Q. Canada) 1975, Manille (Les Philippines) 1976, Manille 1978, Bagdad

(Irak) 1979, Brest (France) 1982, Antatanarivo (Madagascar) 1985, Dakar (Sénégal) 1985.

D) Congrès sur la Communication et les « Mass media ».

Tokyo 1961, Jesuralem 1963, Paris 1967, New York 1968, Hyderabad (Inde) 1978,

Baden Baden (Allemagne Fédérale) 1980, New York 1983, Berlin Ouest 1986.

E) Congrès sur l’Education Musicale.

Téhéran 1967 ; Berlin Ouest 1969 ; Perth (Australie) 1974 ; Varsovie 1980 ; Budapest

1982  ; Cannes  (France) 1984 ; Nice (France) 1985 ; Paris 1988.

Depuis 1988, date de mon départ à la retraite, je continue à donner de temps en

temps des séminaires dans les Universités de France, à Poitiers, à la Sorbonne

(Séminaires des étudiants préparant des thèses sur les musiques d’Asie).

Deux ou trois fois par an, je donne 8 heures de conférences sur le thème « Introduction

aux traditions musicales des pays d’Asie »  aux nouveaux diplômés d’Education

musicale qui seront les futurs professeurs d’éducation musicale dans les lycées,

responsable des Maisons de la Culture.

Je réponds aux invitations des Universités étrangères qui m’invitent pour une courte

période, à y donner des conférences sur les « Traditions musicales des pays d’Asie

ou sur les questions ethnomusicologiques ».

TRẦN VĂN KHÊ : BIOGRAPHY in English

TranVanKhe-672x372

CURRICULUM VITAE

* PRESENT POSITION :

– Ex-Director of research in the French National Center for Scientific Research (1960-1989)

– Ex-Professor of Ethnomusicology, University of Paris Sorbonne (1966-1989)

– Member of the « Board of Directors » of the Unesco-IMC Project : The « Universe of Music, A

– Ex-Chairman of the Scientific Board of the International Institute for Comparative Music

Studies and Documentation (Berlin)

– Honorary Member of the IMC Internatioal Music Council (Unesco)

– Honorary Member of the ICTM Internatioanal Council of Traditional Music

– Corresponding member of the European Academy of Sciences, Letters and Arts

Professor of Vietnamese Traditional Music, Special Adviser of the Scientific Board, Private

University of Binh Dương, Province of Binh Dương 9 Viet Nam)

Member of the Scientific Board of the Institute of Musicology of VietNam

+ DATE OF BIRTH : July 24th 1921

+ PLACE OF BIRTH : Binh Hoa Dong, My Tho (Tien Giang), Viet Nam

+ NATIONALITY : Vietnamese

– 1958 : Ph.D. University of Paris-Sorbonne Dissertation : Vietnamese Traditional Music

– 1951 : Diplome de I’lnstitut d’Etudes Politiques de Paris (Sciences-Po : International Relations)

(Institute of Political Studies)

– 1943 : First Certificate of Medicine (Medical College : University of Hanoi)

– 1942 : Certificate of P.C.B. (Physics- Chemistry-Biology) University of Hanoi

– 1941 : Baccalaureat (Philosophy) Saigon

– 1940 : Baccalaureat (First Part) Saigon

Music Education : Belongs to a family of musicians : 4th generation, training in traditional

musical instruments and drumming since his childhood in the family.

Musicology : Institut de Musicologie de Paris (1954-1958) Paris Institute of Musicoloby.

Working EXPERIENCE

–  2014 : Adviser for the Vietnamese students preparing thesis or dissertation on Vietnamese

traditional music or theatre

– 2004 : (from May 17 to June 9) Workshop : “New methods of teaching Vietnamese Traditional

Music to the children of the primary schools” organised and directed by myself with the

collaboration of the  Department of Culture and Information Ho Chi Minh city; College of Art

and Culture HCM City, Primary school Tran Hung Dao (HCM City) and with a special grant

from UNESCO through Mrs Teresa Wagner

– 2003- Since 2003 up to the present time, I have actively, participated in the cultural life of the

I attended the Symposium on Court Music in Viet Nam organised by the Center for the

Preservation of Hue relics, and together with Mrs Noriko Nakamura from Unesco, have helped

the Vietnamese scholars to achieve the file on Nha Nhac, Court Music  in Hue to be presaentesd

to Unesco for the nomination as a master piece of Oral and Intangible Heritage of Humanity. In

2003, Nha Nhac Hue Court Music was recognized by Unesco as a masterpiece of Oral and

intangible Heritage of Humanity. The Vietnamese Ambassador near Unesco, organised a series

of concerts in France and in Belgium to introduce Vietnamese Nha Nhac to the European

audience and asked me to be the MC of those concerts. I accepted the proposal and was happy to

In 2005, I was invited by the Minister for Foreign Affairs, and the Minister of Culture and

Information of the Vietnamese Government to be a special adviser, to help the Vietnamese

specialists to prepare a file on the Ca Tru (special vocal art of North VietNam).

At the same time, UNESCO invited me to write an evaluation of the file on Gongs on the

High Plateaux in VietNam.

I compared the Gongs ensembles from VietNam with the gamelan from Java the Gong

from Bali, the Kulingtan from the Philippines and finally proposed Unesco to recognized the

“Cultural area of gongs from the High Plateaux in VietNam” as a masterpiece of an oral and

untangible heritage of Humanity.

I had been for several years, from 2006 to the present time a special adviser of the scholars

in charge to prepare the file of Quan ho from Bac Ninh, of the Ca tru.

Recently, I played an active part in the preparation of the file on the Don ca tai tu from

The People Committee of Ho Chi Minh city, to thank me on my presentation of

Vietnamese traditional Music and particularly of the Don ca tai tu (entertainment music from the

south) throughout the world gave me the title of “Emerite citizen” of Ho Chi Minh city and the

sum of thirty millions of Vietnamese đồng.

-1999 : Professor of Vietnamese Traditional Music at the Private University of Hung Vuong until

– 1989 : (January-March) Visiting Professor, University of the Philippines, Quezon City, Manila

– 1988 : (January-Septemter) Fulbright Scholar, Visiting Professor University of Hawaii at

– 1985 : Visiting Professor at the University of Western Australia, Perth

– 1984-1987 : Director of a Seminar on « Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales (EHESS)

( School of High Studies on Social Sciences) Paris

– 1983 : Visiting Professor at University of Hawaii at Manoa : Summer Course (USA)

– 1981 and 1979 : Visiting Professor at Listz Academy of Music, Budapest Hungary.

– 1979-1977 : Guest Professor at the “Intercultural School” – in Venice, ltaly

– 1975-1985 : Guest Professor at the Institut Catholique de Paris Liturgic Music : Buddhist

Music in Vietnam (Paris Catholic Institute)

– 1973 : Visiting Professor at The Faculte de Musique, University of Montreal, Canada (Music

– 1972 : Guest Professor at the University of Southern Illinois Carbonda1e, USA

– 1968 : Guest Professor at the UCLA, (University of California, Los Angeles) Los Angeles,

-1966-1988 : Lecturer, Professor, University of Paris-Sorbonne

Ethnomusicology, Adviser for Students preparing Master’s thesis and Doctoral dissertations on

Asian Music (more than 40 students)

– 1959-1988 : Professor, Directeur d’Etudes, and President of the « Centre d’Etudes de Musique

Orientale » (Professor. Director of Studies and President of the Center for Oriental Musics

– 1960-1988 : Researcher in Musicology, French National Center for Scientific Research (Paris

– 1960-64 : Attache de recherche (Beginner Researcher)

– 1964-68 : Charge de recherche (Confirmed Researcher)

– 1968-72 : Maitre de recherche (Master of Research)

– 1972-88 : Directeur dc recherche (Director of Research)

– 1977-1987 : Every year Visiting Professor at The Institute of Musicology in Viet Nam

Several hundreds of lectures on Asian Music and on Methodology in Ethnormusicology, in

several Universities in the world, namely Berkeley, Maryland, Baltimore County USA, (1988)

Central Conservatory of Beijing, (People’s Republic of China 1987), Antatanarivo, Madagascar

(August 1985), Kunitachi College, Japan (July1985), Wellington, New Zealand / November

1984), Venice, Italy (March 84-April 85) Harvard, USA (June 1982) Conservatory Tchaikovsky,

Moscow, USSR/May 81) National Institute of Music of Algeria (August 1980), National Center

for the Performing Arts, Bombay, India (Sept. 1979), Teheran, Iran (June 1976) Conservatory of

Saigon, Buddhist University of Van Hanh, Catholic Institution Taberd, Centre Culturel Francais,

VietNam-USA Association, (South VietNam August 1974), Sau Paulo, Brasil (July 1974) Shiraz

.lran (August 1972) Sangeet Natak Akademi, Nev Delhi India (May 1961), Traditional

Musicians Association, TaiPei, (April 1961) Ueno University, Japan (April 1961).

– Member of Societe Francaise de Musicologie (French Society of Musicology)

– International Musicologlcal Society

– French Society for Ethnomusicology

PERSONAL AFFILIATIONS

– Society for Ethnomusicology (USA)

– International Society for Music Education

– Societe des Gens de Lettres (France) (Society for Writers )

– International Folk Music Council (and after 1983)(IFMC)

– International Council for Traditional Music (Ex-Vice President now Life Honorary Member)

– International Music Council (Ex-Vice President, now Life Honorary Member)

PUBLICATIONS

– 1 film on Indian Dhrupad singing tradition, 4 tapes on Asian Music (GRM Groups de

Recherche Musicale French Radio)

– 4 video tapes on the Chinese Sheng (mouth organ), Qin (Chinese 7 stringed board zither),

Vietnamese Dan Tranh (16 stringed board zither) Audio Visual Center University Dauphine

– 4 books on Vietnamese Traditional Music (in French, German and Italian languages) (Europe)

– 1 book on Water puppets in Viet Nam (Paris-France)

– About 200 articles (in French, English languages) on Asian Music, Vietnamese Music, and

musicological matters. (Europe mainly France)

– 14 books, 140 articles (in Vietnamese) on autobiography, researches on Vietnamese traditional

music and musicological matters (S.R of VietNam)

INTERNATIONAL CONFERENCES

Has participated in more than 180 Internatinal Congresses, Conferences, Symposia, and

Music Festivals. (The list of publications and the International Conferences was given to Prof.

Chen Zi Ming in April 2014))

Participating international organs : Member of more than 10 Associations of Musical

Studies in France, USA and many other European and Asian countries. Member of Standing

Board and Vice President of the International Council of Traditional Music and the International

Music Council (UNESCO). Significantly contributing to various works to research, publish and

publicize major traditional music in Asia, especially Vietnamese, organized by the International

Center for Comparative Music Studies and Documentation (Berlin) as a member, and for 8 years

as Chairman of the Scientific Council. Since 1988, life honorary member of the International

Music Council (UNESCO). Special advisor for the Council in subjects related to traditional

music of Asian countries. Ex Vice President of the ICTM and now Life Honorary Member

Especially I shall stress on my activities as a member of the IFMC (International, Folk

Music Council) and later ICTM (International Council of Traditional Musics)

In 1987 Prof Kishibe Shigeo and I suddently saw no longer our names on the list of the

members of the executive committee without receving any notification about that.

In 2013 Life Honorary Member of the ICTM

Has participated in more than 180 International Congresses, Conferences, Symposia, and

Music Festivals. (The lists of publications and International Conferences were given to Prof

Chenziming  in April 2014)

– Member of French Musicological Society

– International Musicological Society

– French Ethno Musicological Society

– International Society for Music Education

– International Council for Traditional Music (Ex-Vice President, now Life Honorary Member)

– International Music Council (Ex-Vice President, now Life Honorary Member)

INTERNATIONAL CONFERENCES

PERSONAL AFFILIATIONS

* DISTINCTIONS-SCHOLARSHIPS

– 2013 Bagde of Ho Chi Minh City (Emerite citizem of Ho Chi Minh city)

– 2011 Phan Chau Trinh Award (VietNam)

– 2011 San Francisco – Ho Chi Minh City City Sister : Life Time Award in Vietnamese

Traditional Music (USA-VietNam)

– 2005 Dao Tan Award (VietNam)

– 1999 French Chevalier de l’Ordre des Palmes Academiques

– 1999 Medal of Labor (First Class) (S.R of Viet Nam)

– 1999 Doctor (HC) in Ethnomusicology, Moncton University (New Brunswick – Canada)

– 1994 Koizumi Fumio Ethno musicological Prize (Japan)

– 1995 Correspondent Member of The European Academy of Sciences, Arts, and Letters

– 1991 Officier de l’ordre des Arts et des Lettres (France) Medal of Arts and Letters French

– 1988 Full Bright Scholarship (USA)

– 1985 Japan Foundation Scholarship

– 1981 UNESCO IMC Music Award

– 1975 Doctor in Music (honor) – University of Ottawa (Canada)

– 1974 1st Class Medal of Letters and Arts (Republic of Viet Ham)

– 1974 1st Class Medal of Culture (Republic of Viet Nam)

– 1970 Grand Prize from French Music Academy of French Records  Record : VIET NAM 1.

BM LD 2022 (Paris. France)

– 1969 Schallplatten Prize for Record VIET NAM 1. BM LD 2022 (Germany)

– 1960 Grand Prize from French Music Academy for the Record of : La Bo De – Musique NOLD

– 1949 2nd Prize of the International Competition on Folk Music Instruments ; in the Youth

Festival of Budapest in Hungary.

THẾ THANH : Những ước mơ cuối cùng của giáo sư Trần Văn Khê

24/06/2015 – 10:32 AM
GS.TS Trần Văn Khê đã qua đời vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6, thọ 94 tuổi. Con người nức tiếng đa tài trong giới văn hóa Việt Nam và quốc tế ấy từ những ngày đầu tháng 6.2015 đã buộc phải nằm thoi thóp trên giường bệnh.
GS.TS Trần Văn Khê tại tư gia (32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh, TP.HCM). Ảnh: Nguyễn Á

1. Những người thân cận, gần gũi biết rằng vậy là cuộc chiến đấu của ông chống lại bệnh tật và tuổi già đã đi đến những giây phút cuối cùng. Nhưng chỉ ông và các bác sĩ mới hiểu rõ, trong khi gần như toàn bộ cơ thể ông đã hỏng, theo nghĩa không cứu vãn được nữa, thì cái đầu lại nói không. Sự minh mẫn và tỉnh táo đã đưa ông đến những mong muốn, mà ông gọi là ước mơ, có thể nói là cuối cùng của cuộc đời mình. Ông mong muốn khi phải chia tay thế giới này sẽ được an táng theo nghi thức của Phật giáo, mặc dù ông thừa nhận mình không theo một tôn giáo nào.

Không biết có phải vì ông tìm thấy trong Phật giáo tiếng kinh kệ tiễn đưa con người sang thế giới khác rất gần gũi với dòng âm nhạc dân tộc mà ông trọn đời gắn bó? Thế nên ông căn dặn ban nhạc lễ do NS. Nhất Dũng học trò ông phụ trách phải phối hợp với người chủ tế là Thượng tọa Lệ Trang sao cho nghi thức an táng được hài hòa giữa phần kinh và phần nhạc. Ông còn cẩn thận nhắn nhủ những người bạn thân đồng điệu và môn sinh của ông khi tổ chức một dàn nhạc đờn ca tài tử để hòa tấu trong tang lễ ông thì mỗi hơi của điệu thức chỉ cần đánh một vài bài và việc biểu diễn trong tang lễ cần ngắn gọn để không chiếm nhiều thời gian.

2. Giáo sư Trần Văn Khê còn ước ao thành chữ, rằng sau khi ông ra đi vĩnh viễn, các thủ tục vào đọc sách, tham khảo tư liệu trong thư viện Trần Văn Khê (khánh thành năm 2012 và đặt tại nhà ông) được dễ dàng cho những người cần đến đây đọc và nghiên cứu.

Vị giáo sư – tiến sĩ 94 tuổi, đã quá gần đất xa trời nhưng đầu óc vẫn còn rất tỉnh táo để dặn những người đã chia sẻ cuộc sống với ông suốt gần mười năm qua tại ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai quận Bình Thạnh rằng, tất cả những hiện vật gắn bó với đời sống nghề nghiệp của ông do ông mang từ Pháp về như sách vở, báo chí, phim ảnh, đĩa hát các loại, các nhạc khí, máy ghi hình, ghi âm, cassette, máy chuyển tư liệu nghe nhìn, tranh vẽ, hình ảnh đều phải giao lại cho người của nhà nước đến tiếp nhận và điều hành ngôi nhà như một nơi lưu giữ các kỷ niệm hoạt động của ông vì cộng đồng.

GS.TS Trần Văn Khê cùng các học sinh tiểu học trong một chương trình âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Á

Khi nhắn gửi mong ước đó, hẳn giáo sư Trần Văn Khê không thể quên được một ngày của tháng 5.2004, trong buổi làm việc với Ban giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin TP.HCM (nay là Sở Văn hóa – Thể thao), ông đã nói những lời gan ruột: “Trong quãng đời còn lại, tôi tâm nguyện được chuyển tất cả “gia tài văn hóa” liên quan đến việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam mà tôi đã tích lũy trong sự nghiệp hoạt động văn hóa nghệ thuật cả đời tôi từ Paris, Pháp về TP.HCM với mong muốn giúp ích phần nào cho lớp trẻ trong nước về kiến thức văn hóa dân tộc. Tôi mong muốn được thành phố bố trí một nơi ở đủ không gian để trưng bày sách vở, tài liệu, vật dụng nghệ thuật mà tôi mang từ Pháp về; để tiếp tục hoạt động nghiên cứu, trao truyền kiến thức cho lớp trẻ thông qua các cuộc giao lưu, nói chuyện, trình diễn, quảng bá âm nhạc dân tộc; để tiếp tục góp phần kết nối hoạt động nghiên cứu nghệ thuật trong và ngoài nước. Khi tôi “trăm tuổi”, căn nhà và toàn bộ hiện vật trong nhà sẽ giao lại cho nhà nước quản lý”.

Cũng trong buổi làm việc đó, Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin khi ấy – bà Trương Ngọc Thủy đã thống nhất với giáo sư Trần Văn Khê: mong ông nhanh chóng sắp xếp đóng gói các tài sản văn hóa nghệ thuật dân tộc của cá nhân ông ở Pháp để chuyển về thành phố càng sớm càng tốt. Sở Văn hóa sẽ cử cán bộ nghiệp vụ đến giúp ông tiếp nhận, kiểm kê, phân loại và xây dựng kế hoạch bảo quản, trưng bày, đưa vào sử dụng các hiện vật do giáo sư mang về đồng thời chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo: tiếp nhận, quản lý và phát huy tốt các di sản do giáo sư để lại khi ông “trăm tuổi” vì mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội. Từ buổi làm việc ấy, gần hai năm sau, các cơ quan chuyên môn của thành phố và chính quyền quận Bình Thạnh mới tìm được ngôi nhà ưng ý để cấp cho giáo sư Trần Văn Khê làm nhà bảo quản, trưng bày hiện vật và nơi ở với tính chất nhà công sản (theo quyết định của UBND TP.HCM ban hành ngày 5.1.2006 và quyết định số 41 của Sở VH-TT TP.HCM ban hành ngày 6.1.2006).

GS.TS Trần Văn Khê cả một đời đau đáu theo đuổi để tôn vinh, phát huy và quảng bá giá trị âm nhạc dân tộc ra thế giới. Ảnh: Nguyễn Á

3. Tập quán của dân tộc về việc phúng điếu người đi về cõi vĩnh hằng cũng tác động tới một trong những ước mơ cuối cùng của giáo sư Trần Văn Khê. Ông phân biệt rất rạch ròi với người thân trong nhà: khi ông nằm xuống, “chi phí lo tang lễ thì sử dụng tiền mặt của tôi hiện có tại nhà, nếu thiếu thì Trần Thị Thủy Ngọc con gái út của tôi sẽ lấy tiền trong sổ tiết kiệm của tôi tại Việt Nam để chi phí. Riêng tiền phúng điếu thì ban tang lễ có thể sử dụng để lập một quỹ học bổng hoặc giải thưởng Trần Văn Khê hàng năm trao cho người có công trình nghiên cứu tốt về âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Biết ông là người khí khái, luôn e ngại phiền lụy người khác và cũng biết rõ rằng một trí thức cả đời hưởng lương nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc như ông hoàn toàn không phải là người giàu có, dù sống hơn nửa thế kỷ ở nước ngoài nên từ khi ông trở bệnh nặng, gia đình ông đã nhận được nhiều lời đề nghị tặng tiền rất thành tâm từ các tổ chức, cá nhân với mục đích góp phần vào các khoản chi trả. Thành phố đã lo toàn bộ tiền chữa trị. Ban Tuyên giáo Thành ủy gửi gia đình 50.000.000 đồng; các ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, Quang Linh, Lệ Quyên và một số ca sĩ khác gửi đến 50.000.000 đồng (tính đến ngày 15.6.2015).

Các con ông đã thống nhất với nhau, tính toán sao cho chi phí hợp lý để số tiền được gửi đến từ bá tánh còn có thể làm được quỹ học bổng hoặc giải thưởng như mơ ước của ông. Bản thân các anh chị là con cháu trong gia đình cũng có thể đóng góp vào quỹ này.

4. Cả một đời đau đáu theo đuổi để tôn vinh, phát huy và quảng bá giá trị âm nhạc dân tộc ra thế giới, đến khi sắp nhắm mắt xuôi tay, giáo sư Trần Văn Khê vẫn không nguôi ước mơ những điều tốt đẹp để nghệ thuật dân tộc trong đó có âm nhạc dân tộc được trường tồn và phát triển. Người như ông bây giờ hiếm.

NGUYỄN THẾ THANH

 Vài nét về sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), trong một gia đình bốn đời là nhạc sĩ. Cả hai bên nội ngoại của Trần Văn Khê đều có nhiều người thạo chơi nhạc, viết nhạc. Trần Văn Khê từ sáu tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị), mười hai tuổi biết đàn tranh và đánh trống nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê. Ảnh: Nguyễn Á

Sau khi hoàn thành xuất sắc chương trình tú tài vào năm 1941 tại Sài Gòn, Trần Văn Khê nhận học bổng của chính phủ thuộc địa ra Hà Nội học đại học y khoa (1941-1944). Chính vào thời gian này đã hình thành mối tâm giao về âm nhạc, về trách nhiệm của thanh niên với nước nhà giữa ông với sinh viên – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, người bạn học của ông ở trường trung học Trương Vĩnh Ký – Sài Gòn.

Từ năm 1944-1949, Trần Văn Khê vừa làm giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Cần Thơ, vừa làm ký giả báo Thần Chung và Việt Báo.

Năm 1949, ông sang Pháp với nhiệm vụ phóng viên, từ đó bắt đầu quá trình học tập và làm việc lâu dài tại Pháp. Ông đã tốt nghiệp trường Chính trị Paris, Khoa quan hệ Quốc tế vào năm 1951. Vì bị bệnh nặng ông phải nằm bệnh viện suốt ba năm sau đó. Ngay sau khi ra viện, Trần Văn Khê đã theo học khoa âm nhạc Đại học Paris và tháng 6.1958 trở thành người Việt Nam đầu tiên đậu bằng tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc tại Đại học Sorbonne hạng tối ưu với lời khen ngợi của hội đồng chấm thi. Luận án tiến sĩ của Trần Văn Khê với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” trong đó nhấn mạnh đến âm nhạc cung đình Huế và âm nhạc tài tử miền Nam.

Từ sau khi đậu bằng tiến sĩ về âm nhạc học, Trần Văn Khê đã liên tục hoạt động và có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá âm nhạc dân tộc tại Pháp và hơn 20 trường đại học của các quốc gia trên thế giới:

Thành lập Trung tâm Nhạc học Đông phương tại Paris chuyên dạy các môn âm nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón (năm 1959). Tại đây ông làm nhiệm vụ giám đốc nghệ thuật và chuyên dạy đờn ca tài tử (tranh, kìm, cò) với sự cộng tác của hai con là Trần Quang Hải và Trần Thị Thủy Ngọc. Suốt 30 năm, trung tâm này đã đào tạo được trên 150 sinh viên Pháp và các nước am hiểu về nhạc tài tử Việt Nam.

Làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp từ chức vụ khởi đầu là tùy viên đến giám đốc nghiên cứu với chuyên ngành ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam, đặc biệt trong đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole); so sánh âm nhạc đờn ca tài tử với âm nhạc thính phòng của nhiều nước khác ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ.

Với sự trợ giúp quốc tế, đã xuất bản (gần như đầu tiên) một đĩa hát về nhạc cung đình Huế và một đĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam – trong đĩa đó có bài Tứ đại oán và bài Vọng cổ.
Với chức vụ nhà nghiên cứu âm nhạc quốc tế, ông đã được mời giảng dạy nhạc học trong chuyên khoa dân tộc nhạc học của Đại học Sorbonne Paris và nhiều đại học trên thế giới. Từ những năm 1968-1972 đặt trọng tâm nghiên cứu các kịch nghệ châu Á như: Kinh kịch của Trung Quốc; Nôh, Kabuki của Nhật Bản; Pansori (Triều Tiên); hát chèo, hát bội, hát cải lương của Việt Nam.

Đã có trên 200 bài viết về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc châu Á được đăng trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt là những bài viết của Trần Văn Khê cho tờ Courrier de L’Unesco được dịch ra 14 ngôn ngữ khác nhau.

Đã thực hiện 25 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và vài nước châu Á để phổ biến trên thế giới.

Cố vấn đặc biệt cho Ủy ban Thành lập hồ sơ về đờn ca tài tử để gửi UNESCO.

Từ năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê về ở hẳn trong nước. Chính quyền TP.HCM đã bố trí một căn nhà ở quận Bình Thạnh để ông sống, làm việc những năm cuối đời. Tại đây, với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng dĩa, ông đã cùng các cán bộ của ngành văn hóa TP.HCM và những người cộng sự gần gũi xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc; đã cùng các cộng sự tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng – nhất là công chúng trẻ về âm nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều loại hình đặc trưng cho các vùng miền; đã tiếp đón nhiều nhân vật chính trị, văn hóa, ngoại giao của Việt Nam và các nước. Nơi ở của ông gần mười năm qua đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều người trong và ngoài nước.

GS.TS Trần Văn Khê đã được tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng của thế giới và Việt Nam vì tài năng và những đóng góp về âm nhạc dân tộc mang tính quốc tế. 

http://nguoidothi.vn/vn/news/van-hoa-giai-tri/doi-nghe-si/5228/nhung-uoc-mo-cuoi-cung-cua-giao-su-tran-van-khe.ndt

Đại học Bình Dương mừng thọ Giáo sư Trần Văn Khê 2012 (part 1)

Đại học Bình Dương mừng thọ Giáo sư Trần Văn Khê 2012 (part 1)

Ajoutée le 31 juil. 2012

Giáo sư Viện sĩ Cao Văn Phường (Hiệu trưởng trường Đại học Bình Dương) phát biểu cảm tưởng chúc thọ Giáo sư Trần Văn Khê trong tình thân ái anh em và tình bạn bè quý mến nhau.

– Video Khánh Vân –